2. Quê quán 3. Tên họ 4. Chức tước 5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không? 6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không

Save this PDF as:
 WORD  PNG  TXT  JPG

Size: px
Start display at page:

Download "2. Quê quán 3. Tên họ 4. Chức tước 5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không? 6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không"

Transcription

1 Nguyễn Hiến Lê Lão Tử Đạo Đức Kinh MỤC LỤC Vài lời thưa trước Phần I: ĐỜI SỐNG và TÁC PHẨM Chương I: Đời sống 1. Sự tích Lão tử 1 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

2 2. Quê quán 3. Tên họ 4. Chức tước 5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không? 6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không? 7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không? 8. Tuổi thọ Chương II: Tác phẩm A. Xuất hiện thời nào? B. Do ai viết? C. Bản Lão tử lưu hành ngày nay D. Các bản chú thích Phần II: HỌC THUYẾT Chương I: Đạo và Đức Lão tử là người đầu tiên luận về vũ trụ A. Đạo: Bản nguyên của vủ trụ B. Đức: Sự trưởng thành của vạn vật Một học thuyết vô thần Chương II: Tính cách và qui luật của đạo A) Phác B) Tự nhiên C) Luật phản phục D) Vô Triết lí vô Chương III: Đạo ở đời Xã hội theo Khổng Lật ngược nền luân lí của Khổng. Lật ngược chế độ tôn ti của Khổng Xử kỉ 2 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

3 Tiếp vật Dưỡng sinh Người đắc đạo Chương IV: Đạo trị nước Hữu vi thì hỏng Trị nước phải như nấu cá nhỏ Chính sách vô vi Ngăn ngừa trước bằng phác Tư cách ông vua Phần III: DỊCH ĐẠO ĐỨC KINH Thiên thượng Chương: Thiên hạ Chương: Chú dịch và giới thiệu: Nguyễn Hiến Lê PHẦN I- Chƣơng 1 ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM CHƢƠNG I ĐỜI SỐNG Lão tử là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại. Ông là một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng tử, thời nào cũng 3 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

4 được dân tộc Trung Hoa tôn trọng1[1] không như Mặc tử mà tên tuổi bị chìm luôn trong hai ngàn năm; có phần còn hơn Khổng tử nữa vì chưa hề bị mạt sát tàn nhẫn như họ Khổng trong bảy tám chục năm nay; mà từ năm 165 (đời Hậu Hán) lại còn được Đạo gia tôn làm Thái Thượng Lão quân, một trong ba vị thần tối cao của họ; đền thờ ông, Đại thanh cung 2[2], tương truyền dựng ở tại nơi ông sinh, hiện nay vẫn còn ở tỉnh Hà Nam, hương khói lúc này chắc đã lạnh, nhưng pho tượng cao bốn mét của ông thì may ra vẫn còn. Vậy mà chúng ta không biết gì chắc chắn về đời ông, về cả tác phẩm bất hủ mang tên ông nữa, mặc dầu Trung Hoa là dân tộc sớm biết trọng sử nhất thế giới ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trước, họ đã có các sử quan ghi chép những biến cố quan trọng từng năm cho mỗi triều đại. Từ thời Tư Mã Thiên, bao nhiêu người tra cứu đủ các sách cổ để tìm hiểu Lão tử tên thật là gì, sống ở thời nào, làm gì, tiếp xúc với những ai, nhưng chỉ đưa ra được những giả thuyết, và càng bàn lại càng thêm rối vì ý kiến mâu thuẫn nhau, tới nỗi có người một học giả Nhật Bản tên là Tân Điền Tả Hữu Cát phủ nhận hết thảy, bảo Lão tử là một con người huyền thoại, không hề có! Ngay đến tác phẩm Lão tử (Đạo Đức kinh là tên đời Hán đặt cho) rất ngắn, mà mỗi nhà chấm câu một khác 3[3], tới nay đã có trên hai trăm bản hiệu đính, giải thích, làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Lại thêm tác phẩm đó do ai viết, xuất hiện thời nào, cũng là vấn đề nan giải nữa. Riêng La Căn Trạch, trong cuốn Chư tử khảo sách (Nhân dân xuất bản xã Bắc Kinh 1958) cũng 4 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

5 đã viết ba bài, tổng cộng trên chữ để góp ý kiến về con người Lão tử và tác phẩm Lão tử và đã làm một bảng kiệt kê kiến giải của trên ba chục học giả trước ông và đồng thời với ông. Mà rốt cuộc, các nghi vấn của người trước nêu ra vẫn còn là nghi vấn, có thể sẽ vĩnh viễn là nghi vấn, không làm sao giải nổi. Một triết gia với một tác phẩm chỉ khoảng năm ngàn chữ - mươi, mười lăm trang sách mà làm cho hậu thế thắc mắc, hao tốn tâm trí như vậy, có thế nói là không tiền khoáng hậu trong lịch sử. 1. Sự tích Lão tử Đời sống của Lão tử được chép lần đầu tiên trong bộ Sử kí của Tư Mã Thiên phần Liệt truyện, thiên 63: Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi. Toàn văn như sau: 1. Lão Tử là người làng Khúc Nhân, hương 4[4] Lệ, huyện Hỗ, nước Sở; họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam (聃)5[5], làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu. Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về lễ, Lão tử đáp: Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát thịt cả rồi, chỉ còn lại lời của họ thôi. Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân. Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quí, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dong mạo như ngu độn. 5 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

6 Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi. Khổng tử về, bảo môn sinh: Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông ta là con rồng chăng?. Lão tử trau giồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, ẩn danh. Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa quan, viên coi quan là Doãn Hỉ bảo: Ông sắp đi ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại. Thế là Lão tử viết một cuốn gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của Đạo và Đức, được trên năm ngàn chữ. Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra sao, ở đâu. Có người bảo: Lão Lai tử cùng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng tử. Đại khái Lão tử sống trên 160 tuổi, có người bảo trên 200 tuổi, nhờ ông tu đạo để kéo dài tuổi thọ. Sau khi Khổng tử mất 129 năm, sử chép rằng viên Thái tử nhà Chu tên là Đam 儋, yết kiến Tần Hiến công 6[6], tâu: Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp 6 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

7 được 500 năm rồi thì tách ra, tách được 70 năm thì có một bá vương xuất hiện. Có người bảo Đam đó tức là Lão tử, có người lại bảo không phải. Không biết sự thực đó ra sao. Lão tử là một bậc quân tử ở ẩn. Con ông tên là Tôn, làm tướng quốc nước Nguỵ, được phong đất ở Đoan Can 7[7]. Con của Tôn là Chú, con của Chú là Cung, chút của Cung là Giả (hay Giá). Giả làm quan dưới triều Hiếu Văn đế nhà Hán. Con của Giả là Giải làm Thái phó của Giao Tây vương tên là Ngang, do đó mà cư trú ở Tề. Người đời hễ theo thuyết của Lão thì chê bai Nho học, mà theo Nho học thì cũng che bai Lão tử. Đạo khác nhau thì khó cùng bàn với nhau được, là nghĩa vậy chăng? Lí Nhĩ chủ trương chỉ cần vô vi mà dân sẽ tự cải hoá, thanh tĩnh mà dân sẽ tự nhiên thuần chính 8[8]. Cũng trong bộ Sử kí còn một đoạn nữa chép lời Lão tử khuyên Khổng tử: Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi là người nhân mà tiễn ông bằng lời này: kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì để giữ mình cả. (Phần Thế gia Thiên 47 Khổng tử). 7 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

8 Để viết hai đoạn trên, Tư Mã Thiên đã dùng nhiều sử liệu về Lão tử thời Tiên Tần để lại; đặc biệt là các sử liệu trong bộ Trang tử (các thiên Thiên đạo, Ngoại vật, Thiên vận ), các bộ sử cổ hoặc gia phả họ Lão, có thể cả trong cuốn Quan Doãn tử nữa (coi La Căn Trạch sách đã dẫn tr.255). Ngoài ra, các bộ Tuân tử, Hàn Phi tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân Thu cũng nhắc đến Lão tử, nhưng chỉ phê bình học thuyết chứ không cho biết gì thêm về đời sống của ông trừ điểm này: Lão tử là thầy học của Khổng tử (Lã Thị Xuân Thu, thiên Đương nhiễm) mà không ai có thể tin được. Phải đợi tới khoảng hai thế kỉ sau khi bộ Sử kí của Tư Mã Thiên ra đời, chúng ta mới thấy được một tài liệu nữa trong bộ Tiểu Đái kí9[9], thiên Tăng tử vấn, thuật lại việc Khổng tử hỏi Lão tử về lễ. Tất cả gồm bốn cố sự, đều do Khổng tử kể lại lời của Lão tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn cất, về việc để tang (cố sự 1, 3, 4). Duy có cố sự 2 đáng cho ta để ý: Lần đó Khổng tử theo Lão tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực. Lão tử bảo: Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đường bên phải, ngưng tiếng khóc để đợi sự biến đổi. Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi. Lão tử bảo: Như vậy là lễ ( ). Đại khái những tài liệu chúng ta biết được về Lão tử chỉ có bấy nhiêu. 8 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

9 Tư Mã Thiên đã tốn công tra cứu trong tất cả các sách cổ, thận trọng ghi hết những ý kiến khác nhau của nhiều người và gợi cho người sau nhiều điểm nghi vấn mà chúng tôi sẽ lần lượt xét cùng với ý kiến của một số học giả gần đây. 2. Quê quán Các bản Sử kí lưu hành hiện nay đều chép là Lão tử gốc ở làng Khúc Lí 10[10], hương Lệ 厲, huyện Hỗ 苦11[11] nước Sở. Nhưng có nhà như Lục Đức Minh, Khổng Dĩnh Đạt lại bảo Sử kí chép là nước Trần, huyện Tương 相, hương Lại 賴 hoặc 瀨12[12]. Vậy có nhiều bản Sử kí do người sau đã tự ý sửa lại. Không sao biết được bản nào là gốc; chỉ biết Tư Mã Thiên không đưa ra một giả thuyết nào khác, không coi quê quán của Lão tử là một nghi vấn, mà đa số học giả từ trước tới nay đều theo thuyết: nước Sở, huyện Hỗ, hương Lệ. Thực ra về địa điểm, các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có tên gọi là khác: - 厲 賴 瀨13[13] thời xưa đọc như nhau, thay cho nhau. 9 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

10 - Huyện 相 cũng chính là huyện 苦, thời Chiến Quốc gọi là Hỗ, thời Xuân Thu gọi là Tương. - Và Trần cũng là Sở: thời Xuân Thu là nước Trần, năm 47814[14], tức sau khi Khổng tử mất được một năm, Trần bị Sở diệt. Về địa điểm mỗi cách gọi có một ý nghĩa quan trọng; gọi là Sở là Hỗ, có thể ngầm nhận rằng Lão tử là người thời Chiến Quốc, mà gọi là Trần, Tương thì có thể ngầm nhận rằng ông là người thời Xuân Thu. Nhưng chúng tôi cho rằng Tư Mã Thiên có lẽ không dùng chữ chính xác tới mức đó; vì một mặt ông khẳng định Lão tử là người nước Sở (cho nên ở dưới ông mới viết: Lão Lai tử cũng (亦) là người Sở ), huyện Hỗ, tức dùng những tên thời Chiến Quốc; một mặt ông lại bảo Lão tử gặp Khổng tử ở thời Xuân Thu. Có thể đó chỉ là do ông sơ ý chứ chúng ta chưa nên vội cho ông là mâu thuẫn với chính ông. 3. Tên họ Tư Mã Thiên bảo Lão tử họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam; ông có vẻ tin như vậy nhưng cũng đưa thêm hai thuyết nữa mà ông nhận rằng không biết đúng hai sai: một thuyết Lão tử là Lão Lai tử, cũng người nước Sở, cũng viết sách, đồng thời với Khổng tử; một thuyết, Lão tử là viên thái sử nhà Chu cũng tên là Đam, nhưng chữ Đam này 儋, yết kiến Tần Hiến Công vào khoảng năm 350 thời Chiến Quốc. 10 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

11 Họ, tên, và tên tự đó rất thông dụng từ xưa tới nay. Tên là Nhĩ (tai), tự là Đam 聃 (tai dài) thì rất hợp. Theo truyền thuyết Lão tử lại rất thọ, cho nên người ta còn gọi Lão Đam (ông già tai dài), và vì tôn trọng mà gọi là Lão tử. Người đầu tiên chúng tôi được biết đã bác thuyết họ Lí là Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn). Dư bảo: Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân Thu không có họ Lí, mãi đến thời Chiến Quốc mới có Lí Khối, Lí Khắc, Lí Mục v.v, như vậy đủ biết họ Lí xuất hiện rất trễ. Lão tử phải họ Lão. Sách Tả truyện, năm 15 đời Thành công có Lão Tá, năm 14 đời Chiêu công có Lão Kì, Luận ngữ có Lão Bành, Sử kí có Lão Lai. Không thể tra khảo để biết Lão tử có thuộc dòng họ những người đó không, nhưng không còn nghi ngời gì nữa, thời cổ đã có họ Lão rồi. Vả lại các triết gia thời Tiên Tần đều gọi bằng họ, như Khổng tử, Mặc tử, Trang tử, Tuân tử, Hàn tử, không nhà nào không như vậy. Lão tử không ra ngoài lệ đó. Gọi là Lão tử, chứ không Lí tử, là Lão Đam chứ không Lí Đam, như vậy rõ ràng là họ Lão chứ không phải họ Lí. Họ Lão, mà gọi lầm ra họ Lí, do lẽ hai chữ Lão, Lí đọc hơi giống nhau, cũng như Tuân 荀 Khanh bị gọi nhầm là Tôn 孫 Khanh vậy. Dư Bồi Lâm có lí trừ điểm cuối cùng: Lí khó lầm với Lão được. Thuyết đó ông mới đưa ra năm 1973 ở Đài Loan, không biết đã có ai phê bình chưa. 11 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

12 4. Chức tước Lão tử làm quan sử, giữ kho sách của nhà Chu, tức như chức Giám đốc thư viện Quốc gia ngày nay. Điểm này, Tư Mã Thiên chép theo thiên Thiên đạo trong Trang tử. Đời sau không thấy ai nghi ngờ mà cũng không ai tìm ra được dưới thời vua nào của nhà Chu (sử Chu không chép). 5. Lão tử với Khổng tử có gặp nhau không? Khổng tử có hỏi Lão tử về lễ không? Vấn đề này gây nhiều cuộc tranh luận nhất, tới nay vẫn chưa giải quyết xong. Chúng ta hãy để riêng ra chủ trương của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới Phủ, Tiền Mục cho rằng có hai Lão tử: một Lão tử giảng lễ cho Khổng tử và một Lão tử, tác giả cuốn Lão tử. Chủ trương đó cơ hồ không ai chấp nhận. Còn lại các học giả khác thì xét chung, trước đời Thanh hầu hết ai cũng tin rằng Khổng tử có yết kiến Lão tử để hỏi về lễ; từ đời Thanh mới có và nhà ngờ rằng không, gần đây số người chủ trương không đông hơn số người chủ trương có. Trong phái chủ trương có, phải kể Hồ Thích, Cao Hanh, Quách Mạc Nhược; trong phái chủ trương không, có Tất Nguyên, Uông Trung, Lương Khải Siêu, Cố Hiệt Cương, La Căn Trạch v.v 12 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

13 Chúng tôi nhắc lại, những đoạn ghi cuộc vấn lễ (hỏi về lễ) đó chép trong Sử kí và Tiểu Đái kí, mà chúng tôi dẫn ở trên. Ngoài ra còn những thiên Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Điền Tử Phương, Trí Bắc du trong Trang tử và thiên Đương nhiễm trong Lã thị Xuân Thu, cũng nhắc qua nhưng không cho biết thêm gì cả. Đại khái phái chủ trương có đưa ra những lí lẽ này: 1. Sách thời Chiến Quốc có tới bảy tám chỗ nói về việc vấn lễ đó, không thể là bịa hết được. 2. Tư Mã Thiên là một Nho gia rất sùng bái Khổng tử, lại là một sử gia rất có lương tâm, nếu không có tài liệu chắc chắn thì sao lại chép truyện vấn lễ đó, nó làm giảm giá trị của Khổng tử đi; hơn nữa ở bài Tựa trong thiên Trọng Ni đệ tử (phần Liệt truyện), ông còn kể tên mấy người mà Khổng tử rất trọng: Lão tử ở Chu, Cừ Bá Ngọc ở Vệ, Án Bình Trọng ở Tề, Lão Lai tử ở Sở, Tử Sản ở Trịnh, Mạnh Công Xước ở Lỗ. Năm người sau đều là nhân vật có thật, sử chép rõ ràng, không có lí gì duy Lão tử lại không có thật, vậy thì việc vấn lễ cũng có nữa. 3. Lễ kí là một bộ kinh của Nho gia, những người biên tập bộ đó (Lưu Hướng, Đái Đức, Đái Thánh) tất phải là những Nho gia thận trọng, nhất là trong thiên Tăng tử vấn có chép rằng Lão tử và Khổng tử đi trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực. Việc đó tất có thực, chứ người ta bịa ra truyện nhật thực làm chi. 13 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

14 Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn) cho rằng Khổng tử gặp Lão tử tới hai lần: lần thứ nhất năm ông 34 tuổi, lần sau hồi ông 51 tuổi ở đất Bái (theo Trang tử15[15]). Những cuộc đàm thoại chép trong Sử kí và việc trợ táng chép trong Tăng tử vấn đều xảy ra trong lần thứ nhất; còn lần thứ nhì thì chưa tìm thêm được tài liệu gì cả. Phái chủ trương không bác những lẽ đó: 1. Sách thời Chiến Quốc có nhiều chỗ nói về việc vấn lễ đó thực, nhưng đều ở trong Ngoại thiên, Tạp thiên bộ Trang tử và Tăng tử vấn bộ Tiểu Đái kí, những thiên đó trong Trang tử đều không đáng tin, có nhiều phần chắc rằng tác giả là Đạo gia ở cuối thời Chiến Quốc chịu ảnh hưởng của Nho gia chứ không phải của Trang tử16[16] và của những Nho gia chân chính. Câu Khổng tử bảo Lão tử là con rồng rút trong thiên Thiên vận, sách Trang tử, truyện đó chỉ đáng coi là một ngụ ngôn. Còn chuyện đi trợ táng ở Hạng Đảng (trong Tăng tử vấn) gặp nhật thực, có điểm đáng nghi là Hạng Đảng ở đâu, không ai biết; có người ngờ là ở Lỗ, có người ngờ là ở Tống, chứ không phải ở Chu. 2. Vả lại ngay việc Khổng tử qua Chu nghiên cứu về Lễ cũng chưa chắc đã đúng. Khổng tử thế gia bảo Nam Cung Kính Thúc xin Lỗ Chiêu công cấp phương tiện cho Khổng tử sang Lạc ấp ở Chu khảo về lễ. Năm đó là năm Chiêu công 24, tức năm -518, Khổng tử 34 tuổi. Vua Lỗ cấp cho một cổ xe 14 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

15 với hai ngựa và một đứa nhỏ rồi Nam Cung Kính Thúc cùng đi với Khổng tử. Nhưng theo La Căn Trạch (sách đã dẫn tr.254), năm đó Nam Cung Kính Thúc tuổi mới 14, làm sao được vào yết kiến vua để xin việc đó, làm sao vua Lỗ cho qua Chu được. Dư Bồi Lâm còn nói Khổng tử qua Chu lần thứ nhì hồi ông 51 tuổi. Điều này cáng khó tin hơn nữa. Năm này (Định công 9) Khổng tử thăng chức Tư không, bận việc triều đình, thì giờ đâu mà qua Chu và qua Chu để làm gì? 3. Nếu Khổng tử hồi đó đã nổi danh, được Khổng tử kính trọng như vậy thì tại sao bộ Luận ngữ (bộ sách đáng tin nhất về đời Khổng tử) không thấy chép, mà tất cả các sách đầu đời Chiến Quốc như Mặc tử, Mạnh tử nữa cũng không thấy chép? Trong Luận ngữ chỉ có mỗi một đoạn ở đầu thiên Thuật nhi nói đến một người họ Lão, tức Lão Bành. Đoạn đó như sau: Tử viết: Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ ư ngã Lão Bành. (Khổng tử nói: Ta thuật lại đạo của thánh hiền chứ không sáng tác gì mới; ta tin và hâm mộ đạo cổ nhân. Ta trộm ví ta với ông Lão Bành). Không ai biết chắc ông Lão Bành đó là ai. Có người bảo là Bành Tổ, mà Bành Tổ sống bảy tám trăm tuổi, là bề tôi của vua Nghiêu; có người bảo là một đại phu đời Thương; có người bảo Lão bành là Lão Đam, tức Lão tử, nhưng Bành 彭 mà sao thành Đam 耼 được? Lại có thuyết Lão, Bành là hai người: Lão Đam và Bành Tổ. Thuyết này càng vô lí hơn nữa. 15 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

16 4. Vả lại Lão tử cực lực phản đối lễ. Chương 38 sách Lão tử chép: Thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. (Đạo mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện sự suy vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn). Một người mạt sát lễ là mầm loạn trong xã hội mà lại ủng hộ cái lễ phiền toái của nhà Chu như Tăng tử vấn chép, thì thật là ngược đời. Vì vậy mà đời Tống đã có người bảo: Ông Lão tử tuyệt diệt lễ nhạc với ông Lão tử mà Khổng tử tới hỏi lễ, không phải là một người (trong cuốn Lâm hạ ngẫu đàm của Ngô Tử Luông do La Căn Trạch dẫn trong Chu tử khảo sách tr.253). Chủ trương có hai Lão tử của Diệp Thích, Tống Dật Danh, Đàm Giới Phủ, Tiền Mục (coi lại đầu tiết này) có lẽ bắt đầu từ đó. Tôi muốn nói thêm: Ông Khổng tử trong Luận ngữ đề cao lễ nghĩa, coi trọng đạo trung hiếu với ông Khổng tử hỏi lễ Lão tử cũng không phải là một người. Khổng tử trọng các ẩn sĩ nhưng vẫn giữ chủ trương của mình: tận tâm lo việc nước nhà, giáo hoá mọi người, lập trật tự trong xã hội, dù biết đạo mình không ai theo thì cũng cứ gắng sức làm. Cho nên khi Tử Lộ tử Lộ bảo hai ẩn sĩ là Tràng Thư và Kiệt Nịch chê ông phí công vô ích, không sao đổi đời loạn ra trị được, ông ngậm ngùi than: Người ta không thể làm bạn với cầm thú được. Nếu ta chẳng sống chung với người trong xã hội thì sống với ai? Vả lại nếu thiên hạ trị rồi thì ta cần gì phải sửa đổi? (Vi tử bài 6). Ông Khổng tử đó mà lại có thể nghe được lời khuyên này của Lão: Kẻ làm con, kẻ làm tôi đều 16 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

17 không có cách gì để giữ mình cả, nghĩa là bỏ đạo làm con, làm tôi mà ở ẩn một mình trong rừng núi, làm bạn với cầm thú ư? Còn ông Lão tử kia đương làm quan sử cho nhà Chu sao có thể nói câu đó mà không ngượng? Vì vậy truyện hỏi lễ đó dù được nhiều sách chép, dù được các nhà Nho và Tư Mã Thiên nữa thu thập, cũng không đáng cho ta tin. Những lí lẽ của hai phái có và không đưa ra chỉ là những suy luận, không thể gọi là chứng cứ xác thực được; không bên nào thuyết phục nổi bên nào, nhưng riêng phần chúng tôi thì cho rằng lập luận của phái không dễ chấp nhận hơn. 5. Khi thấy nhà Chu suy rồi, Lão tử bỏ đi, tới cửa quan, viên quan coi cửa là Doãn Hỉ yêu cầu ông viết sách để lại. Ông viết xong rồi đi, sau không biết ở đâu, ra sao. Sử kí chỉ chép là tới cửa quan, không nói là tới cửa quan nào. Nhưng thời đó nói cửa quan thì người ta hiểu là cửa Hàm Cốc, cửa ngõ qua Tần. Còn Doãn Hỉ là ai? Chúng ta cũng không biết chắc. Vũ Đồng trong Trung Quốc triết học đại cương (quyển Thượng tr.25 Thương vụ ấn quán) không rõ căn cứ vào đâu bảo Doãn Hỉ sinh vào khoảng 440 đời Chu Khảo vuơng, mất vào 360 đời Chu Hiển vương, và là đồng bối của Dương tử, Lão tử, Liệt tử. Theo Hán chí chu tử lược thì Doãn Hỉ soạn cuốn Quan Doãn tử gồm 9 thiên (đã thất truyền, bản lưu hành ngày nay là nguỵ thư) rồi cùng với Lão tử đi ở ẩn. 17 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

18 Đi qua cửa Hàm Cốc là vào đất Tần. Thiên Dưỡng sinh chủ trong Trang tử bảo: Lão Đam chết, Tần Dật (có sách chép là Tần Thất) lại điếu, khóc ba tiếng rồi ra. Dưỡng sinh chủ ở trong phần Nội thiên, do Trang tử viết chỉ có thể tin được một phần thôi17[17]. Trang tử là một triết gia, thích thể ngụ ngôn, chứ không phải là một sử gia. Một sách khác còn cho biết Lão tử chết ở Phù Phong, chôn ở Hoè lí (làng Hoè). Chi tiết đó không có cách nào kiểm tra được, chỉ nên ghi lại cho đủ thôi. 6. Lão tử có phải là Lão Lai tử không? Tư Mã Thiên ngờ là không phải. Trong thiên Trọng Ni đệ tử, ông bảo Khổng tử vốn trọng Lão tử ở Chu, ( ), Lão Lai tử ở Sở; như vậy ông coi Lão tử và Lão Lai tử là hai người rồi. Trong truyện Lão tử ông viết: Có người bảo: Lão Lai tử cũng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia, cũng đồng thời với Khổng tử ; còn Lão tử viết hai thiên nói về ý nghĩa của Đạo và Đức; như vậy cũng là hai người nữa. Ông bảo Lão Lai tử đồng thời với Khổng tử; như theo Vũ Đồng (sách đã dẫn) thì sách Khổng Tùng tử bảo Lão Lai tử đồng thời với Tử Tư, cháu nội Khổng tử, có lần vấn đáp với Tử Tư. 18 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

19 Vậy Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão tử ba điểm: cùng họ Lão, cùng là người Sở, cùng thuộc phái Đạo gia; không thể bảo Lão Lai tử là Lão tử được. Tư Mã Thiên có lí khi nghi ngờ thuyết trên, ông chỉ chép lời người ta đồn thôi. Không một học giả nào tin thuyết đó hết, không nên coi là một nghi vấn nữa. 7. Lão tử có phải là thái sử Đam 儋 không? Tư Mã Thiên theo truyền thống sử gia của Trung Quốc, giữ đúng nguyên tắc: Xuân Thu chi nghĩa, tín dĩ truyền tín, nghi dĩ truyền nghi (Cốc Lương truyện), cho nên chép thêm cả thuyết Lão tử là thái sử Đam nhà Chu, mà ông phê bình gì cả, chỉ bảo sự thực ra sao. Như vậy thuyết đó đã có từ đời Tây Hán; nhưng tới thế kỉ XVIII mới được Tất Nguyên (trong Đạo Đức kinh khảo dị) và Uông Trung (trong Lão tử khảo dị) chủ trương, và gần đây học giả bênh vực nó mạnh nhất, kiên kì nhất là La Căn Trạch (trong sách đã dẫn). Đại khái La đưa ra những lí do này: 1) 聃 với 儋 đồng âm, thời xưa dùng như nhau; 2) cả hai người đều làm sử quan nhà Chu; 19 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

20 3) cả hai đều qua cửa Hàm Cốc vì thái sử Đam đã có lần sang Tần yết kiến Tần Hiến công; 4) thuyết đó rất hợp với sự kiện này: hậu duệ đời thứ 8 của Lão tử (tên là Giải) đồng thời với hậu duệ thứ 13 của Khổng tử (tên Khổng An Quốc). Tư Mã Thiên chắc đã tra cứu trong gia phả họ Lão, bảo con Lão tử là Tôn, làm tướng nước Nguỵ, được phong ở Đoàn Can 18[18]. Theo Lục quốc niên biểu trong Sử kí thì con của Lão tử làm tướng quốc nước Nguỵ năm 273 (Chu Xá vương, năm 24). Con của Khổng tử là Lí sinh năm 532, mất năm 484. Hai người sinh cách nhau khoảng hai trăm năm, bằng sáu bảy thế hệ, cũng gần đúng: mỗi thế hệ khoảng 30 năm. Từ Khổng tử tới Khổng An Quốc (hậu duệ 13 đời) ở triều Hán Cảnh đế, Vũ đế, vào khoảng 400 năm, mỗi thế hệ cũng khoảng 30 năm. Vả lại Sau khi Khổng tử mất 129 năm tức vào khoảng = 350, thái sử Đam qua Tần yết kiến Hiến Công; giả sử năm đó thái sử Đam 30 tuổi, hai ba chục năm sau sinh ra Tôn (vào khoảng 330 hay 320, thì khi Tôn làm tướng quốc nước Nguỵ, tuổi vào khoảng bốn năm chục ( = 57, hay = 47); nếu năm 350 đã sinh ra Tôn rồi, thì khi làm tướng Nguỵ, Tôn vào khoảng 80 tuổi ( = 77), cũng vẫn có thể được. Ba lí do đầu, xét riêng từng lí do một thì không có giá trị gì cả, gồm cả ba thì cũng có giá trị một phần nào. Lí do thứ tư có giá trị hơn cả, nhưng Cao Hanh không biết căn cứ vào đâu mà lại bảo Tôn tướng Nguỵ được phong ở Đoàn Can không phải là con mà chỉ là hậu duệ của Lão tử (Sử kí Lão tử truyện tiên 20 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

21 chứng do Dư Bồi Lâm dẫn). Ngoài ra Dư Bồi Lâm còn đưa ra hai lí do này để bác La Căn Trạch: - Việc thái sử Đam qua yết kiến Tần Hiến Công, sử Chu và sử Tần đều có chép, nhưng không hề ghi đó là Lão tử; - Thái sử Đam yết kiến Tần Hiến Công 106 chứ không phải 129 năm sau khi Khổng tử mất, lúc đó Lão tử khoảng 200 tuổi, sao mà sống lâu như vậy được? Cả hai lí do này đều không có giá trị: sử Tần và sử Chu không ghi Đam là Lão tử có thể vì không cần thiết, ngay đến họ của viên thái sử đó cũng không chép nữa kia mà và Du Bồi Lâm chê La Căn Trạch cho Lão tử sống tới 200 tuổi là chê bậy: La đâu có chủ trương như Dư rằng Lão tử sinh trước Khổng tử, đã giảng về lễ cho Khổng tử. Dư Bồi Lâm kết luận: Thái sử Đam chỉ là một hậu duệ của Lão tử, chứ không phải Lão tử, mà Tôn là con của thái sử Đam chứ không phải con Lão tử. Vũ Đồng (sách đã dẫn) đưa một lí do nữa để bác La Căn Trạch. Ông bảo theo Sử kí của Tư Mã Thiên thì thái sử Đam đưa ra thuyết Tần với Chu hợp rồi li, rồi sau có một bá vương xuất hiện, thuyết đó không hợp với tư tưởng trong sách Lão tử. Như vậy không thể bảo Lão 聃 với Lão 儋19[19] là một người được. Lí do đó chúng tôi cho dễ dàng chấp nhận hơn những lí do của Cao 21 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

22 Hanh và Dư Bồi Lâm. 8. Tuổi thọ Đến nay không cần phải bàn. Không biết năm sinh, năm tử, không biết sống ở đời nào thì tất nhiên không biết được tuổi thọ. Những lời đồn 160 tuổi, 200 tuổi, Tư Mã Thiên chỉ ghi lại cho đủ, chứ ông không tin. Có nhiều lắm cũng chỉ khoảng 90 tuổi thôi. Tóm lại từ trước tới nay có hai phái chống đối nhau, một phái bảo Lão tử đồng thời với Lão tử, lớn tuổi hơn Khổng; một phái bảo Lão tử phải sinh sau Khổng tử. Phái trên xuất hiện trước, phái sau đại khái tới thế kỉ XVIII mới xuất hiện (Tất Nguyên, Uông Trung) và càng gần gần đây càng được nhiều người tán thành, lí lẽ càng dồi dào hơn. Phái trên chỉ căn cứ vào hai đoạn trong Sử kí chép những lời Lão tử khuyên Khổng tử nghĩa là tin chắc rằng Khổng tử có qua Chu hỏi Lão tử về lễ. Thiên Tăng tử vấn trong Lễ kí càng khiến cho người ta tin hơn nữa. Phái dưới ngược lại, không tin những tài liệu đó vì căn cứ vào tính tình cũng như tư tưởng của hai nhà: Khổng tử không khi nào trọng một người mạc sát lễ tới mức coi như thầy học của mình được, mà một người đã đảo chính sách dùng lễ nhạc giáo hoá dân, chính sách trọng người hiền không thể nào ra đời trong thời Xuân Thu và trước Khổng tử, Mặc tử được (chính sách thượng hiền, theo họ, chỉ xuất hiện sau khi Khổng tử đào tạo nên một giai cấp bình dân có tài đức (kẻ sĩ) ra giúp nước); nghĩa là Lão tử phải là người thời Chiến 22 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

23 Quốc, sinh sau Khổng tử và Mặc tử. Họ đưa ra vài chứng cứ: - Lão tử sinh ở nước Sở, huyện Hỗ, chứ không phải nước Trần, huyện Tương, vậy là sinh sau khi Sở diệt Trần, sau khi Khổng tử mất, tức ở thờ Chiến Quốc. - theo gia phả hai nhà Khổng và Lão thì đời thứ 13 của Khổng tử ngang với đời thứ 8 của Lão, vậy Lão kém hơn Khổng sáu thế hệ; vả lại con của Lão tử là Tôn là người Chiến Quốc (thế kỉ thứ 3 trước T.L). Có người còn bảo học trò của Lão tử là Hoàn Uyên, sống ở thế kỉ thứ 4 ( ?), vậy Lão tử cũng sống ở thế kỉ đó, và Vũ Đồng đoán rằng ông sinh vào khoảng 430, mất vào khoảng 340. Có người: Tất Nguyên, Uông Trung, La Căn Trạch lại dựa vào một thuyết của Tư Mã Thiên còn tồn nghi mà bảo Lão tử chính là thái sử Đam thời Chiến Quốc. Những suy luận của họ chỉ có lí một phần thôi, chưa thể tin là đúng được, và hai phái trên (tức phái chủ trương có việc vấn lễ) tìm cách bác hết. Những cách bác của phái này nhất là Dư Bồi Lâm không có tinh thần khách quan. Họ chưa chứng minh được gì đã vội cho là đối phương vô lí, vì họ khăng khăng chủ trương rằng việc vấn lễ là có thực, vậy Lão tử lớn tuổi hơn Lão tử; những gì trái với sự kiện đó là sai hết, cả những điều Tư Mã Thiên đưa ra nữa. 23 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

24 Chẳng hạn, họ căn cứ vào đâu mà bảo Tôn không phải là con của thái sử Đam, chỉ là hậu duệ của thái sử Đam, mà thái sử Đam lại là hậu duệ của Lão tử; Tư Mã Thiên bảo huyền tôn (chút) của Cung là Giả, họ bảo huyền tôn đó là viễn tôn là cháu xa, có thể đời thứ 8, thứ 9 chứ không nhất định là đời thứ 4 của Cung. Rồi Lão tử là người huyện Tương nước Trần chứ không phải là huyện Hỗ nước Sở, vậy là sống ở thời Xuân Thu. Và khi Dư Bồi Lâm tìm ra được rằng thời Xuân Thu không có họ Lí chỉ có họ Lão, thời Chiến Quốc mới có họ Lí thì ông tin ngay rằng Tư Mã Thiên đã chép sai: Lão tử họ Lão tên Nhĩ, chứ không phải họ Lí tên Nhĩ; mà không hề nghĩ rằng có thể sinh ở thời Chiến Quốc, nên mang họ Lí. Tranh luận như vậy thì có kéo dài thêm ngàn năm nữa cũng không giải quyết được. Ngoài ra còn một nhóm thứ ba nữa, ít người thôi, muốn dung hoà hai phái trên, bảo ông Lão tử giảng lễ cho Khổng tử là một người và ông Lão tử viết cuốn Lão tử là một người khác. Phùng Hữu Lan (sách đã dẫn) cũng đứng ở giữa, nhưng chủ trương khác: Lí Nhĩ là nhân vật có thật, làm thủ lãnh Lão học ở thời Chiến Quốc, còn Lão Đam chỉ là một nhân vật truyền thuyết, mà Lí Nhĩ mượn tên để cho học thuyết của mình được người đời tôn trọng; nhưng ông cũng nhận rằng không thể coi là định luận được. Và ông chú trọng tác phẩm Lão tử hơn con người Lão tử, cho nên khi xét học thuyết, ông ghi rõ là học thuyết trong Lão tử, chứ không viết học thuyết của Lão tử. Giải quyết như vậy có phần khéo hơn cả, nhưng chúng tôi ngại ít người chịu theo: từ hai ngàn năm nay, người ta vẫn gọi bộ 24 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

25 Mặc tử của Mặc tử, bộ Mạnh tử của Mạnh tử, bộ Trang tử của Trang tử, bộ Tuân tử của Tuân tử v.v, mặc dù những bộ đó do môn sinh viết (Mặc tử, Mạnh tử) hoặc có những thiên do người sau thêm vào (Trang tử, Tuân tử); theo Phùng thì không nên bảo Lão tử của Lão tử viết, vậy phải bảo sao? của Lí Nhĩ viết à? Bất tiện ở chỗ đó. Chú thích: 20[1] Đạo giáo do Trương Đạo Lăng thành lập (thế kỉ thứ II) có thời bị nghi kị vì những hoạt động bí mật (hội kín), nhưng triết gia Lão tử thì không. 21[2] Đúng ra là Thái thanh cung (BT). 22[3] Về chấm câu, ngay trong cuốn LT-ĐĐK này, có lẽ do lỗi in, giữa nguyên tác và phiên âm cũng có nhiều chỗ không giống nhau, tôi phải tạm sửa lại mà không chú thích. (Goldfish). 23[4] Có nhiều thuyết: nhà là một hương; mười làng là một hương đại khái là đơn vị hành chánh ở giữa làng (lí) và huyện. 24[5] Bản dịch Sử ký Tư Mã Thiên Truyện Lão tử đăng trên Việt Nam Thư quán ( 3tq83a3q3m3237nvnmn) chép là: tên là Nhĩ, tên tự là Bá Dương, tên thuỵ là Đam. (Goldfish). 25[6] Sách in là Tần Hiếu công, tôi sửa lại thành Tần Hiến công cho phù hợp 25 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

26 với tiết 3 và tiết 6 ở dưới và vì các bản chữ Hán trên mạng chép là 秦献公. Về sau, khi gặp những chữ mà tôi tin chắc là bị chép sai, tôi sẽ sửa lại mà không chú thích. (Goldfish). 26[7] Đoan Can (tôi giữ nguyên không sửa): trong tiết 6 ở dưới ghi tới hai lần là Đoàn Can, nhiều bản chữ Hán trên mạng chép là: 段干 (Đoạn Can), bản dịch đăng trên Việt Nam Thư quán (trang đã dẫn) cũng ghi là Đoạn Can. (Goldfish). 27[8] Chương 57 Đạo Đức kinh. 28[9] Cuối đời Hán Vũ đế, người ta phá tường vách nhà Khổng tử, tìm thấy một số sách cổ: Thượng thư, Lễ kí, Luận ngữ Bộ Lễ kí tìm được đó gồm 131 thiên, sau Lưu Hướng (80-9 sau T.L) thu thập thêm, kiểm điểm, hiệu đính được 240 thiên. Lại đời sau nữa, Đái Đức bỏ những thiên trùng hợp đi, thu lại còn 85 thiên, thành một bộ gọi là Đại Đái kí (Lễ kí của ông Đái lớn), rồi cháu (có sách nói là em) Đái Đức, tên Đái Thánh, rút lại nữa, còn 46 thiên, gọi là Tiểu Đái kí (Lễ kí của ông Đái nhỏ). 29[10] Làng Khúc Lí: Có lẽ sách in sai, vì nếu sách in đúng thì hẳn cụ Nguyễn Hiến Lê sẽ giải thích về sự khác biệt giữa Khúc Lí và Khúc Nhân ghi trong tiết 1, nhưng đọc tiếp ở dưới ta chẳng thấy có lời giải thích nào. Nhưng Khúc Lí mà in sai thành Khúc Nhân thì cũng lạ. Xin nói thêm là làng 26 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

27 Khúc Nhân, các bản chữ Hán ghi là Khúc Nhân lí 曲仁里.(Goldfish). 30[11] Chữ 苦, Từ Hải bảo phải đọc là Hỗ. Từ Hải đã theo Sách ẩn. 31[12] Coi La Căn Trạch (sách đã dẫn tr ) và Lão tử độc bản của Dư Bồi Lâm (Tam Dân thư cục tr.2). 32[13] Sách in cả 3 chữ đều là 瀨, tôi tạm sửa lại thành 厲賴 瀨. (Goldfish). 33[14] Tuy trước số 478 không có dấu trừ (-) hoặc sau số này không ghi trước Tây lịch, nhưng ta nên hiểu là năm 478 trước Tây lịch, vì thời Xuân Thu và Chiến Quốc trước Tây lịch. (Goldfish). 34[15] Thiên Thiên vận, bài 5. (Goldfish). 35[16] Coi bộ Trang tử của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hoá, [17] Có người còn ngờ rằng không do Trang tử viết nữa, nếu vậy thì không đáng tin chút nào. 37[18] Xem chú thích ở tiết 1. (Goldfish). 38[19] Không biết có phải Lão 聃 với thái sử 儋 do in sai mà thành Lão 聃 với Lão 儋 hay không? (Goldfish). 27 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

28 Chƣơng 2 TÁC PHẨM A. XUẤT HIỆN THỜI NÀO? Tôi cho rằng điều gì sáng sủa, dễ hiểu, được người đời dễ chấp nhận thì mới gần chân lí. Càng phải dẫn giải, chứng minh dài dòng, dẫn nhiều sách vở thì càng tỏ rằng thuyết của mình không vững, không hợp tình hợp lí. Mặc tử dùng cả ba biểu tức ba tiêu chuẩn để biện luận rồi viện dẫn hành vi của các thánh vương đời Tam đại để thuyết phục mọi người phải kiêm ái, yêu người như yêu bản thân mình, yêu cha mẹ, vợ con người như cha mẹ, vợ con của chính mình, mà vẫn thất bại, vẫn bị chê là không tưởng. Phe chủ trương Khổng tử quả có vấn lễ Lão tử, nói gì thì cũng khó tin mà La Căn Trạch viết cả vạn chữ để chứng minh rằng Lão tử là thái sử Đam cũng tốn công vô ích. Cuộc tranh luận của họ không có kẻ thắng người bại mà vấn đề tới nay vẫn gần như nguyên vẹn: không biết được Lão tử là ai. Trái lại vấn đề tác phẩm Lão tử xuất hiện thời nào thì không gây sóng gió gì nhiều. 28 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

29 Xưa kia, người ta tin Tư Mã Thiên, cho rằng chính Lão tử viết do lời yêu cầu của Doãn Hỉ, như vậy là tác phẩm xuất hiện vào thời Xuân Thu. Có lẽ tới thế kỉ XVIII mới có người nghi ngờ thuyết đó (Tất Nguyên hay Uông Thông), rồi gần đây Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tiền Mục, Trương Tây Đường, Phùng Hữu Lan, Cố Hiệt Cương, La Căn Trạch, Vũ Đồng v.v (coi La Căn Trạch sách đã dẫn tr ), mỗi nhà đều góp tiếng, đồng thanh nhận rằng Lão tử xuất hiện trong thời Chiến Quốc, kẻ thì cho là sau Mặc tử trước Trang tử, kẻ thì bảo trong khoảng từ Trang tử tới Tuân tử. Có kẻ còn bảo trễ hơn nữa, sau bộ Lã thị Xuân Thu và trước bộ Hoài Nam tử, nghĩa là vào đầu đời Tiền Hán, nhưng thuyết này không vững. Họ lập cả trên hai phương diện nội dung và hình thức. Đại khái như sau: 1. Về nội dung: Bộ Lão tử: Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh (chương 25). a) Phủ nhận trời là độc tôn, mà trên trời còn có Đạo, Đạo mới là gốc của trời đất (Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn, huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn chương 6). Thời Xuân Thu, ngay cả đầu đời Chiến Quốc (Mặc tử) ai cũng thờ trời, tôn trọng trời, không thể có thuyết đó được. b) Phản đối chính sách thượng hiền (trọng người hiền) (Bất thượng hiền, sử dân bất tranh chương 3). Mà theo họ chính sách thượng hiền (nghĩa là dùng người hiền, có tài đức, bất kì trong giai cấp nào, để giao cho việc trị dân, chứ không nhất thiết chỉ dùng bọn quí tộc, dù bất tài, vô hạnh) xuất hiện khá trễ, vào thời Mặc tử (Mặc tử có thiên Thượng hiền) cùng với giai cấp tân địa chủ 29 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

30 và giai cấp sĩ do Khổng tử đào tạo (Khổng tử dạy các môn sinh đa số trong giới bình dân, tân địa chủ để họ thành những chính trị gia có tài đức). Phải có chính sách thượng hiền rồi Lão tử mới đả nó được, vậy Lão tử phải xuất hiện sau Khổng tử, Mặc tử. c) Đả đảo lễ: lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ (đã dẫn ở trên); tư tưởng đó không thể xuất hiện trong thời Xuân Thu được; mà đả đảo lễ, nhân, tức là đả đảo Khổng, Mặc, vậy Lão tử theo họ phải xuất hiện sau Khổng, Mặc. Lí do (a) có thể chấp nhận được. Quả thực vũ trụ quan trong Lão tử tiến bộ hơn của Khổng, Mặc (coi phần sau) và theo diễn tiến tư tưởng (Vũ Đồng sách đã dẫn tr.11) thì Lão tử phải xuất hiện sau Khổng, Mặc. Còn hai lí do sau thì không vững. Dân tộc Trung Hoa có tinh thần tuyển hiền rất sớm, các vua chúa của họ cũng biết dùng chính sách truyền hiền, trễ nhất là 6-7 trăm năm trước Khổng tử, Mặc tử rồi. Không kể những truyện truyền hiền (Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn, Thuấn cho Vũ) mà chúng ta có thể cho là tục lệ dưới chế độ bộ lạc, hoặc những truyền thuyết do nhà Nho tạo ra; ngay từ đời Chu, Văn vương và Võ vương đã biết dùng người hiền trong giới bình dân là Lã Vọng (Thái Công Vọng) để đánh bại nhà Ân, rồi phong cho làm vua nước Tề; rồi trước Khổng tử khoảng trăm năm, Tề Hoàn công cũng nhờ Quản Trọng, một người hiền trẻ nghèo khổ, bán dầu, mà lập nghiệp bá, Quản Trọng lại đề cử mấy người hiền nữa như Ninh Thích, một người chăn bò Hoàn công đều trọng đãi hết. Điều đó dễ hiểu: trong thời loạn, chư hầu nào muốn mạnh lên, làm bá chủ hoặc thôntính các chư hầu khác, thì đều 30 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

31 phải dùng người hiền tài trong giới bình dân, nếu không kiếm được trong giới quí tộc. Lão tử mạt sát lễ, thì Mặc tử cũng mạt sát lễ, mà ngay thời Xuân Thu chắc cũng đã có nhiều người thấy cái lệ của nhà Nho là phiền phức đâu phải đợi đến thời Chiến Quốc. Không thể bảo chủ trương đó phải xuất hiện sau Khổng, Mặc. d) Theo Ngô Tất Tố (sách đã dẫn39[1] tr.15) thì Phùng Hữu Lan còn dẫn thêm đoạn này trong Sử kí để chứng rằng Lão tử ra sau Luận ngữ: Về phương diện thực hành, họ (phái Đạo gia) theo luật thiên nhiên của Âm Dương, lượm nhặt những chỗ hay của Khổng giáo và Mặc giáo để dung hợp với những điều cốt yếu của Danh gia và Pháp gia. Lí do này vững, và còn chứng tỏ thêm rằng Lão tử không phải chỉ do một người viết chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một đoạn sau. 2. Về hình thức: Ý kiến của các học giả như sau: a) Trước Khổng tử không có trường hợp nào tư nhân trứ thuật. Vì theo Chương Thực Trai, một sử gia đời Thanh, thời đó các nhà cầm quyền giữ điển chương, còn các sử gia thì chép các việc xảy ra. Bọn đó đều là quí tộc có học thức, lo việc trị dân, đâu có thì giờ nghĩ tới việc viết sách; vả lại nếu họ 31 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

32 có chủ trương gì mới thì có đủ phương tiện để thi hành, không cần phải viết sách. Tới khi xã hội loạn lạc, một số quí tộc mất địa vị, suy vi, không được cầm quyền, mà lại có học thức, lí tưởng mới dạy học nghĩ cách cải tạo xã hội, lập ra học thuyết riêng. Khổng tử là người đầu tiên mở đường cho việc trứ thư lập ngôn đó. Vì vậy bộ Lão tử không thể xuất hiện trước bộ Luận ngữ. b) Xét về văn thể: Theo các học giả Trung Hoa gần đây thì trong hai thế kỉ thứ III tới thế kỉ thứ II trước T.L, văn của chư tử túc các triết gia Trung Hoa đã tiến bộ gần như liên tục. Mới đầu là bộ Luận ngữ chỉ dùng một thể đơn giản nhất là kí ngôn: môn sinh của Khổng tử ghi những lời của thầy. Rồi tới Trung Dung, Đại học cũng vẫn là kí ngôn, thêm những đoạn nghị luận ngắn. Bộ Mặc tử mở đầu cho thể nghị luận hay biện luận nhưng lí luận lắm chỗ ngây thơ và rườm. Mạnh tử cũng là kí ngôn như Luận ngữ, đúng ra là ghi những đối thoại giữ Mạnh tử và một số vua chư hầu, một số triết gia đương thời. Trang tử dùng ba lối: kí ngôn, lí luận vắn tắt và ngụ ngôn. Tới Tuân tử mới bỏ hẳn lối kí ngôn mà dùng thể lí luận theo đề tài. Sau cùng là Hàn Phi tử dùng hết các thể của người trước, có thể nói là tập đại thành bút pháp thuyết lí của chư tử Tiên Tần. Bộ Lão tử dùng một thể văn đặc biệt, xen nhiều châm ngôn, chương nào cũng có những vế đối nhau, nhiều chỗ có vần, gần như thể phú, cho nên không thể xuất hiện trước Luận ngữ, Mạnh tử được. Lời rất vắn tắt, hàm súc, giống thể kinh, như Mặc kinh chẳng hạn, cho nên, theo họ, Lão tử nhất định phải xuất hiện vào thời Chiến Quốc. Riêng lí do sau cùng này chúng tôi cho là không đúng: kinh Xuân Thu của Khổng tử đâu có xuất hiện vào thời Chiến Quốc? 32 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

33 3. Ngoài ra, Dư Bồi Lâm (Sách đã dẫn tr.89) còn đưa ra lí do này nữa: Có người đã làm thống kê thấy rằng các sách thời Tiên Tần dẫn lời trong Lão tử khá nhiều; cuốn đầu tiên là Trang tử, nhưng chỉ trong Ngoại thiên, Tạp thiên, chứ không phải Nội thiên, nghĩa là trong những thiên không phải của Trang tử viết mà của người đời sau, môn đệ gần xa viết, có khi cũng chẳng phải môn đệ nữa. - Ngoại thiên dẫn tất cả 19 lần: Khư khiếp 4, Tại hựu 2, Thiên địa 2, Thiên đạo 1, Chí lạc 3, Đạt sinh 1, Sơn mộc 2, Điền Tử Phương 1, Trí Bắc du 3. - Tạp thiên dẫn 5 lần: Canh Tang Sở 2, Tắc Dương 1, Ngụ ngôn 1, Thiên hạ 1. Chiến Quốc sách dẫn 2 lần, 1 trong Tề sách, 1 trong Nguỵ sách. Hàn Phi tử, ngoài những thiên Giải Lão, Dụ Lão (chuyên giảng về Lão học), còn dẫn Lão tử 1 lần ở thiên Ngoại trữ thuyết tả hạ, 1 lần ở thiên Lục phản. Lã thị Xuân Thu dẫn 4 lần trong 4 thiên: Quí sinh, Chế nhạc, Nhạc thành, Quân thủ. Tất cả những lí do đưa ra ở trên, nếu xét từng lí do một thì không đủ vững, nhưng nếu gồm cả lại thì cho phép ta kết luận một cách gần chắc chắn rằng Lão tử phải xuất hiện sau Khổng, Mặc và trước Mạnh, Trang (hai nhà này đồng thời nhau), tức trong thế kỉ thứ IV trước T.L. 33 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

34 B. DO AI VIẾT? Thế là giải quyết xong được vấn đề Lão tử xuất hiện thời nào? Còn vấn đề ai viết bộ đó? Mọi người đều cho rằng do môn sinh viết. Đọc các tác phẩm triết học thời Tiên Tần, chúng ta không nên quên ba điều này: - có rất nhiều nguỵ thư, nghĩa là những sách do đời sau (Hán, hoặc sau đời Hán) viết như bộ Quản tử, bộ Án thị Xuân Thu có lẽ cả bộ Liệt tử nữa mà có người cho là của đời Nguỵ, Tấn - ngay cả những bộ chân thư như Mặc tử, Trang tử cũng có nhiều thiên nguỵ tác, như trong Mặc tử, chỉ có những thiên Kiêm ái, Thượng đồng, trong Trang tử chỉ có những thiên Tề vật luận, Tiêu dao du mới đáng tin là của Mặc, của Trang; còn cả phần Mặc kinh, và các phần Ngoại thiên, Tạp thiên đều là của người sau cả. - ngay những thiên đáng tin nhất đó cũng chưa hẳn là do chính tay Mặc tử, Trang tử viết mà có nhiều phần chắc là do môn sinh chép. Theo Phùng Hữu Lan (tr.45) điểm đó người trước đã nói nhiều người. Tôn Tinh Diễn (có lẽ ở đầu đời Thanh) bảo: Phàm gọi là sách của chư tử, phần nhiều không phải là chư tử tự viết. Nghiêm Khả Quân cũng bảo: Các sách của chư tử đời Tiên Tần đều là do môn đệ hoặc tân khách, hoặc con cháu soạn, không phải tự tay chư tử viết. Những sách thời đó, tới đời Hán lại được các học giả sắp đặt, chỉnh lí lại nữa; và những bản Mặc tử, Trang tử lưu hành ngày nay, đời Tiên Tần không có. Khi chỉnh lí, họ thu thập tất cả các thiên họ cho là của một học phái nào đó, 34 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

35 gom cả vào một bộ, đặt tên là Mặc tử, Trang tử, Tuân tử ngầm hiểu rằng đó là tác phẩm của cả học phái Mặc, Trang, Tuân chứ không phải của một người. Họ tuyệt nhiên không coi trọng quan niệm tác giả như chúng ta ngày nay, mà chỉ chú trọng tới tư tưởng của mỗi phái. Họ chỉ cốt thu thập cho đủ, không có óc phê phán, không đặt vấn đề chân hay nguỵ, cho nên trong Hàn Phi tử ta thấy có tư tưởng của Đạo gia (như những thiên Giải Lão, Dụ Lão); trong Trang tử, Ngoại thiên và Tạp thiên, ta thấy tư tưởng của Nho gia (như thiên Thiên địa). Gần đây mới có một số học giả như Lương Khải Siêu, Diệp Quốc Khánh, La Căn Trạch, Hồ Chi Tân rán tìm xem đâu là chân, đâu là nguỵ để định được tư tưởng của mỗi nhà ở một thời đại nhất định chứ không phải tư tưởng của cả một phái trong ba bốn trăm năm. Công việc đó cực kì khó. Cuốn Lão tử cũng vậy, không phải của Lão tử viết vậy truyện Doãn Hỉ yêu cầu ông chép lại học thuyết trước khi qua ải chỉ là một truyền thuyết vô căn cứ - mà của môn sinh. Có điều này hiển nhiên: có những chương do người đời sau thêm vào; và đại khái thì nó xuất hiện vào thế kỉ thứ IV, nhưng có thể qua thế kỉ thứ III nó mới có hình thức như chúng ta thấy ngày nay. Thuyết đó nghe được, nhưng chúng tôi vẫn thắc mắc: môn sinh viết mà tại sao không nhắc đến tên thầy, không ghi Lão tử bảo hoặc thầy bảo (như bộ Mạnh tử, Mặc tử )? Hay là Lão tử đọc cho môn sinh chép? Nếu vậy thì chính ông viết rồi. Điểm đó vẫn còn một nghi vấn. Tuy nó không phải của một người viết, nhưng nó cũng không phải là một tập lục, thu thập hết tư tưởng Đạo gia (vì Đạo gia gồm Lão, Trang mà tuyệt nhiên 35 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

36 không chứa tư tưởng của Trang); không kể mươi chương do người sau thêm vào, còn thì tư tưởng trong Lão tử vẫn nhất quán, vẫn là của một bậc thầy mà môn đệ đã chép lại. Bậc thầy đó, chúng ta không biết chắc chắn tên là gì, sinh năm nào, chết năm nào, nhưng chúng ta có thể cứ gọi là Lão tử, hay Lão Đam, như từ trước tới nay, như vậy có hại gì đâu. Mà nếu đúng như lời Phùng Hữu Lan đoán, tác giả Lão tử là Lí Nhĩ, nhưng mượn tên một đại chân nhân thời cổ là Lão Đam, để giấu tên thật của mình và để cho học thuyết của mình được tôn trọng hơn, thì sao ta lại làm trái ý muốn của Lí Nhĩ? Tới đây chúng ta thấy bao nhiêu công trình khảo cứu trong hai ngàn năm nay của cả trăm học giả đưa đến kết luận này: gần hết những điều Tư Mã Thiên viết về Lão tử đều không đáng tin, may lắm là giữ được ít điều về quê quán, tên họ, dòng dõi, tư cách (một quân tử ở ẩn) của Lão tử. Nghề sử gia bạc bẻo thật! C. BẢN LÃO TỬ LƯU HÀNH NGÀY NAY Có nhiều bản Lão tử, bản dài nhất gồm khoảng chữ, bản ngắn nhất không đầy chữ. Bản lưu hành ngày nay dài hơn chữ, chia là 81 chương ngắn, nhiều chương chỉ có trên 40 chữ, như chương 19, 24, 26; chương ngắn nhất là chương 40 chỉ có 21 chữ; những chuông dài nhất như chương 20, chương 38, cũng chưa đầu 150 chữ. 36 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

37 Có lẽ từ thế kỉ thứ II trước T.L, Hán Cảnh đế ( ) cho ý nghĩa trong Lão tử thâm thuý, nên gọi là kinh; và từ đó Lão tử còn gọi là Đạo Đức kinh (cũng như Trang tử còn có tên là Nam Hoa kinh). Sở dĩ có tên Đạo Đức kinh là vì: 81 chương chia thành hai thiên, thiên thượng từ chương 1 đến chương 37 gọi là Đạo kinh; thiên hạ từ chương 38 trở đi gọi là Đức kinh. Sự đặt tên thiên như vậy chỉ do lẽ chương 1 (chứ không phải trọn thiên thượng) nói về Đạo và mở đầu bằng câu: Đạo khả đạo phi thường đạo ; chương 38 (chứ không phải trọn thiên hạ) nói về Đức và mở đầu bằng câu: Thượng Đức bất Đức, thị dĩ hữu Đức, vì nội dung các thiên phức tạp và các chương không sắp đặt theo một thứ tự nào cả. Đạo Đức kinh mới đầu có bao nhiêu chương, chúng ta không sao biết được. Đời Hán có một bản của Nghiêm Tuân gồm 72 chương nhưng bản đó nguỵ tác, không đáng kể. Bản 81 chương ngày nay là của Hà Thượng công và của Vương Bật. Tác phẩm không thuần nhất cả về hình thức lẫn nội dung. 1) Về hình thức, thể văn, xét chung thì những câu hay vế số chữ thường cân đối, như câu đầu: ----Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh. 37 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

38 ----Vô, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu 40[2] hoặc như trong chương 38: ---- Thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ... Nhiều đoạn có vần, như trong chương 2: ---- hữu vô tương sinh, ---- nan dị tương thành, ---- trường đoản tương hình, ---- cao hạ tương khuynh Hoặc chương 39: --- thiên đắc nhất dĩ thanh, --- địa đắc nhất dĩ ninh, --- thần đắc nhất dĩ linh, --- cốc đắc nhất dĩ doanh, -- -vạn vật đắc nhất dĩ sinh, --- hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ trinh. Nhưng chúng ta nhận thấy tiết điệu không đều: bốn câu trên, tiết điệu là 5 chữ; câu thứ năm gồm 6 chữ; câu thứ 6 gốm 9 chữ. 38 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

39 Rồi đoạn sau cùng chương đó, lại đổi vần, đổi tiết điệu: --- Thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt, --- địa vô dĩ ninh tương khủng phế, --- thần vô dĩ linh tương khủng yết, --- cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt, --- vạn vật vô dĩ sinh tương khủng diệt, --- hầu vương vô dĩ quí cao tương khủng quyết. bốn câu trên 7 chữ, câu 5 có 8 chữ và câu cuối 9 chữ. Có thể bảo những đoạn có vần có điệu đó, là bước đầu của thể từ phú hình thành ở cuối thời Chiến Quốc, đầu đời Hán, mà cũng là nguồn gốc của biền văn thịnh hành đời Lục triều. 2) Về nội dung, chúng ta thấy: a) nhiều ý trùng điệp: Chẳng hạn có năm sáu chương khuyên ta nên khiêm nhượng, đừng tranh với người: Chương 7: Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước (thánh nhân hậu kì thân nhi thân tiên). Chương 67: Không dám đứng trước thiên hạ (bất cảm vi thiên hạ tiên). 39 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

40 Rồi chương 68 tiếp theo: Người khéo chỉ huy tự đặt thân mình ở dưới người, như vậy là có cái đức không tranh với người (Thiện dụng nhân giả, vi chi hạ, thị vị bất tranh chi đức). Chương 73: Đạo trời không tranh mà khéo thắng (Thiên chi đạo bất tranh nhi thiện thắng). Nhất là chương 22 và 66, lời giống hệt nhau: ----Chỉ vì mình không tranh với ai nên không ai tranh với mình (Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh ch.22). ----Không tranh với ai nên không ai tranh với mình được (Dĩ kì bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh ch.66) b) tư tưởng có chỗ như mâu thuẫn: - Chương 39 nói: thần được đạo mà linh (thần đắc nhất dĩ linh). Chương 60 lại bảo: dùng đạo mà trị thiên hạ; chẳng những quỉ không linh mà thần cũng không làm hại được người; chẳng những thần không hại được người mà thánh nhân cũng không làm hại người (đạo lị thiên hạ, kì quỉ bất thần. Phi kì quỉ bất thần, kì thần bất thương nhân. Phi kì thần bất thương nhân). - Chương 19 bảo phải tuyệt nhân khí nghĩa mà chương 8 lại khen người rất thiện thì khéo giữ lòng nhân. 40 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

41 - Chương 5: Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm (thiên địa bất nhân, thường dữ thiện nhân). Mà chương 79 thì: Đạo trời không tư vị ai, chỉ gia ân cho người có đức (Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân). Rồi chương 74 lại bảo: Có đấng ti sát (tức đạo trời) chuyên lo việc giết (những kẻ phạm pháp). c) có chương diễn tư tưởng của binh pháp gia, như ch.69: Thuật dụng binh có câu: Ta không dám làm chủ mà chỉ muốn làm khách, không dám tiến một tấc, thà chịu lùi một thước (Dụng binh hữu ngôn: Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách, bất cảm tiến thốn nhi thoái41[3] xích ). d) có chương giọng gay gắt như giọng Mặc tử, Mạnh tử, không phải giọng Lão tử; như chương 53: Triều đình thật ô uế, đồng ruộng thật hoang vu, kho lẫm thật trống rỗng; mà họ bận áo gấm thêu, đeo kiếm sắc, ăn uống chán mứa, của cải thừa thãi. Như vậy là trộm cướp chứ đâu phải là hợp đạo! (Triều thậm trừ, điền thậm vu, sương thậm hư; phục văn thái, đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hoá hữu dư, thị vị đạo khoa, phi đạo dã tai!). e) có những chương không liên quan gì đến học thuyết Lão tử, như: 41 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

42 Chương 44 khuyên ta khinh vật quí sinh như Dương tử, Chương 74 cảnh báo nhà cầm quyền đừng dùng tử hình mà doạ dân (Nho, Mặc cũng chủ trương như vậy). Điều đó chứng tỏ rằng Đạo Đức kinh có nhiều chỗ do người đời sau thêm vào. Ai cũng nhận văn Đạo Đức kinh rất cô động, nhiều câu rất vắn tắc mà thâm thuý như châm ngôn, chẳng hạn: ----Khúc tắc toàn, uổng tắc trực (ch.22) ----Đại quân chi hậu tất hữu hung niên (ch.30) ----Tri nhân giả trí, tự tri giả minh (ch.33) ----Nhu nhược thắng cương cường (ch.36) ----Tri túc chi túc, thường túc hĩ (ch.46) ----Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri (ch.36) ----Báo oán dĩ đức (ch.63) ----Thiên võng khôi khôi, sơ vi bất thất (ch.73) ----Thiên chi đạo tổn hữu dư bổ bất túc (ch.77) ----Tín ngôn bất mĩ (ch.81) ---- Theo Max Kaltenmax (trong Lao Tseu et le Taoïsme Seuil 1965) thì một số cách ngôn đó đã xuất hiện trong dân gian trước thời Lão tử và Đạo Đức kinh, có thể coi là một túi khôn của dân tộc Trung Hoa. 42 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

43 D. CÁC BẢN CHÚ THÍCH Văn trong Đạo Đức kinh gọn quá; người viết cốt chỉ gợi ý hoặc ghi lại cho dễ nhớ chứ không phải để cho người khác đọc42[4], nên nhiều câu tối nghĩa, mỗi người có thể chấm câu một khác, hiểu một khác. - Ví dụ, chương 1 có hai câu, Vương Bật chấm câu như sau: ----Vô danh, thiên địa chi thủy; hữu danh vạn vật chi mẫu. ----Cố thường vô dục dĩ quan kì diệu; thường hữu dục dĩ quán kì hiếu. Chấm như vậy thì câu sau, vô dục, hữu dục nhiều người hiểu là không có lòng dục (không cảm động), có lòng dục (cảm động). Tư Mã Quan, Vương An Thạch, Tô Thức, Lương Khải Siêu chấm khác: ----Vô, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu. ----Cố thường vô, dục dĩ quan kì diệu; thường hữu, dục dĩ quán kì hiếu. Ngắt câu sau chữ vô, hữu thì hai chữ đó có nghĩa khác hẳn: từ chỗ không, từ chỗ có mà xét (tựa như câu: tự kì biến giả, bất biến giả nhi quan chi trong bài Tiền Xích Bích phú của Tô Thức). 43 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

44 - Dù chấm câu như nhau, người ta vẫn có thể khác nhau rất xa. Thí dụ câu đầu chương 50: ----Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập hữu tam, tử chi đồ thập hữu tam. Người thì hiểu là: Ra đời thì gọi là sống; vào đất thì gọi là chết. Ra đời rồi thì thọ mười phần có ba; yểu mười phần có ba. Người thì hiểu: Ra chỗ sống, vào chỗ chết. Theo con đường sống, toàn sống mười phần, có ba phần chết Người lại giảng: Cái chết do cái sống mà ra. Nhưng đi vào chỗ chết, tất đi ra chỗ sống, đại ước mười phần thì có đến chín. Còn một phần không thuộc về sinh tử (Ngô Tất Tố dẫn tr.8). Không biết ở đâu ra số 9 đó? Có người dịch: Sống tức là ra, chết tức là vào. Đồ đệ của sự sống, mười có lẽ ba, đồ đệ của sự chết mười có lẽ ba (Ngô Tất Tố - tr.8). 44 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

45 Hàn Phi tử bảo: thập hữu tam tức là tứ chi và cửu khiếu (hai tay, hai chân, và chín lỗ: miệng, tai, mắt, mũi ). Người khác lại bảo thập hữu tam đó là 13 điều, 13 phương tiện để đạt đến đạo Sống: hư, vô, thanh, tịnh, nhu, nhược, từ, kiệm, bất cảm, vi thiên hạ tiên, tri túc, tri chỉ, bất dục đắc, vô vi. Và trái lại là đạo Chết (Nguyễn Duy Cần Lão tử - Đạo Đức kinh. Quyển II, tr.59. Khai Trí 1961). Còn vô số cách giảng nữa, không làm sao chép hết được43[5]. Có điều đáng mừng là không nhà nào chỉ trích nhà nào cả, cho nên không gây những cuộc tranh luận sôi nổi, tốn giấy mực như vấn đề đời sống của Lão tử. Vì có ai dám chắc rằng mình hiểu đúng tư tưởng Lão tử đâu, mà Lão tử và môn sinh chết cả rồi, ai là người chỉ ra được đâu là phải đâu là trái. Rốt cuộc người ta phải nhận rằng đọc Đạo Đức kinh không nên căn cứ vào chữ nghĩa, chỉ nên coi tác phẩm gợi ý cho ta thôi, và mỗi người cứ hội ý theo trực giác linh cảm của mình. Cách đọc đó, từ đầu thế kỉ thứ V, Đào Tiềm một thi nhân, ẩn sĩ, theo Lão Trang, đã chỉ cho ta trong bài Ngũ Liễu tiên sinh truyện (Ngũ Liễu tiên sinh chính là ông): Đọc thư bất cầu thậm giải, mỗi hữu hội ý, tiện hân nhiên vong thực : đọc sách không cần thâm cứu chi tiết (tìm hiểu nghĩa từng chữ, chỉ cần hội ý thôi), mỗi lần hội ý được điều gì thì vui vẻ quên ăn. 45 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

46 Dĩ nhiên, mỗi người tuỳ bản tính, sở học, kinh nghiệm của mình, hội ý một cách. Nhà Nho hiểu vô vi của Lão tử theo đạo Nho, Pháp gia như Hàn Phi hiểu vô vi theo Pháp, Binh pháp gia hiểu theo binh pháp, mà phái tu tiên hiểu theo đạo trường sinh, Phật gia hiểu theo Phật học; và gần đây có một số học giả theo lôgích của Tây phương phê phán Đạo Đức kinh theo lôgích. Có thể đem tất cả các triết thuyết hiện đại nhất như triết thuyết hiện sinh, hay cơ cấu44[6] mà giải thích Đạo Đức kinh đều được cả. Trong lịch sử triết học Đông Tây, chưa có tác phẩm nào ngắn như vậy, mà được đời sau giải thích, dịch, phê bình nhiều bằng. Nghiêm Linh Phong, một học giả Trung Hoa hiện đại đã làm thống kê các thư mục về Đạo Đức kinh, thấy rằng từ đời Hán đến cận đại đã có 283 cuốn chú thích và bàn thêm (hiện còn giữ được) ; ngoài ra còn 282 cuốn nữa đã thất truyền chỉ còn ghi lại tên, đó là ở Trung Hoa; ở Nhật có tới 192 cuốn trứ thuật nữa, tổng cộng 755 cuốn. Nếu kể cả những cuốn luận về học thuyết Lão tử thì con số đó lên tới hay Nghe nói riêng ở Pháp, từ trước tới nay đã có 60 chục bản dịch Đạo Đức kinh; ở Anh, Đức số bản dịch nếu không hơn thì cũng không kém. Ở nước mình, mới chỉ có một cuốn giới thiệu đạo Lão tức cuốn của Ngô Tất Tố chúng tôi đã dẫn, một bản dịch và giải thích của Nghiêm Toản (Bộ Quốc gia Giáo dục 1959), và một bản dịch nữa của Nguyễn Duy Cần (Khai Trí 1961). 46 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

47 Ở Trung Hoa, bản văn cổ nhất giải thích Đạo Đức kinh là bộ Hàn Phi tử, thiên Giải Lão và Dụ Lão, nhưng chỉ giải thích một phần nhỏ Đạo Đức kinh thôi, mà lại không chắc Hàn Phi viết. Hai bản cổ nổi tiếng hơn là: Lão tử chương cú của Hà Thượng công (ông ở trên bờ sông), không biết tên thật là gì, tương truyền là một ẩn sĩ sống đời Hán Văn đế ( ), nhưng có phần chắc là ở cuối Hậu Hán (thế kỉ II sau T.L). Bài Tựa bản đó chép rằng Hán Văn đế thích đọc Lão tử, gặp nhiều chỗ không hiểu mà không biết hỏi ai. Khi nghe nói có một Đạo giả ở trong một cái chòi tranh trên bờ sông, không lúc nào rời cuốn Đạo Đức kinh, ông phái một sứ giả lại hỏi nghĩa những đoạn khó; nhưng Hà Thượng công buộc nhà vua phải thân hành tới. Nhà vua đành phải tới, nhưng trách ngay Hà Thượng công là không biết phép vua tôi: Khắp gầm trời, không đâu không phải đất của vua, khắp mặt đất, bến nước, không người nào không phải là bề tôi của vua45[7] Thầy tuy hiểu đạo, nhưng chỉ là một bề tôi của ta. Thái độ như vậy không phải là tự cao quá, không biết uốn mình ư?46[8]. Nên biết rằng làm cho ai giàu hoặc nghèo, sang hoặc hèn, đều là quyền của ta cả. Tức thì Hà Thương công bay bổng lên cao, lơ lửng ở giữa trời, rồi đáp nhà vua: Tôi bây giờ không ở trên trời, cũng không ở dưới đất giữ loài người, như vậy có còn là bề tôi của nhà vua không?. Văn đế biết Hà Thượng công là một siêu nhân, lúc đó mới khúm núm xin lỗi và được Hà Thượng công trao cho một 47 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

48 bản Đạo Đức kinh với lời chú giải. (Theo bản dịch của Kaltenmark trong sách đã dẫn, tr.23-25). Một bản nữa là bản Lão tử chú của Vương Bật ( ). Ông này cực thông minh, mới 23 tuổi mà đã chú giải Dịch kinh và Đạo Đức kinh, sinh đời Nguỵ Văn đế (Tam Quốc), làm thượng thư lang, rất tiếc là quá yểu. Bản chú thích của ông có tính cách huyền học, còn bản của Hà Thượng công có tính cách thực dụng. Có vài vị hoàng đế Trung Hoa cũng chú thích Đạo Đức kinh, như Lương Vũ đế ( ) đời Nam Triều, soạn hai bộ Lão tử giảng sớ, Lão tử sớ lí cương; và Huyền Tôn đời Đường mà, theo Kaltenmark, bản chú giải được nhiều người thích. Ngoài ra có thể kể thêm: Tô Thức: Lão tử giải, Tất Nguyên: Lão tử Đạo Đức kinh khảo dị, Cao Hanh: Lão tử chính hỗ, Diệp Mộng Đắc: Lão tử giải vân vân 48 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

49 Chúng tôi không thu thập được nhiều, ngoài những cuốn của Ngô Tất Tố, Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần, Kaltenmark đã dẫn trên, và không kể những cuốn viết chung về triết học Trung Hoa, như của Phùng Hữu Lan, Vũ Đồng chỉ có thêm những cuốn này: Lão tử bạch tân giải của Lưu Tư Văn Nguyên thư cục Đài Loan Lão tử triết học của Trương Khởi Quân Chính Trung thư cục - Đài Loan Lão tử độc bản của Dư Bồi Lâm Tam Dân thư cục Đài Bắc Lao Tseu Tao To King của Liou Kia-hway Galimard Paris L Esprit du Tao của Jean Grenier Flammarion Paris Từ mười năm trước, sau khi đã cho ra cuốn Nho giáo một triết lí chính trị (1958) và bộ Đại cương triết học Trung Quốc (soạn chung với Giản Chi Cảo Thơm ), chúng tôi đã có ý lần lần tìm hiểu thêm và giới thiệu riêng từng nhà một tất cả các triết gia lớn thời Tiên Tần. Vì vậy năm 1972, chúng tôi đã soạn Nhà giáo họ Khổng (nhà xuất bản Cảo Thơm, cuốn này chỉ mới vẽ lại chân dung của nhà giáo, chứ không phải của triết gia họ Khổng), và cuốn Liệt tử và Dương tử (nhà xuất bản Lá Bối), đầu năm 1975 lại cho ra thêm cuốn Mạnh tử (Cảo Thơm). Trước năm 1975, chúng tôi đã viết xong bộ Trang tử, chưa kịp in; trong ba năm nay mặc dầu biết không còn cơ hội xuất bản được nữa cũng hợp soạn 49 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

50 với ông Giản Chi được thêm hai bộ: Tuân tử, và Hàn Phi tử. Bây giờ viết nốt về Lão tử để giữ trọn lời tự hứa với mình47[9]. Mà cũng để học thêm và tiêu hết 24 giờ một ngày. Sài Gòn, Phật đản Đinh Tị 1er Nguyễn Hiến Lê Chú thích: 48[1] Theo một chú thích ở chương II, phần II, thì sách đó là Lão tử (Khai trí 1959). Tác phẩm này có lẽ được xuất bản lần đầu vào năm 1942). (Goldfish). 49[2] Coi chữ Hán và ý nghĩa trong phần III. Sau cũng vậy. 50[3] Thoái: trong phần III, ghi là thối. Chữ 退 đọc là thối hoặc thoái đều được. (Goldfish). 51[4] Các kinh thường viết theo lối đó như kinh Xuân Thu, Mặc kinh, cho nên sau phần kinh thường có phần truyện để giải thích. 52[5] Coi thêm phần dịch. 50 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

51 53[6] Nhiều người gọi là thuyết cấu trúc. (Goldfish). 54[7] Chữ trong Kinh Thi. 55[8] Hán Văn đề dùng ngay lời trong Đạo Đức kinh (ch.22) để trách Hà Thượng công. 56[9] Trong Hồi kí, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết: Từ 1977, được nhàn rỗi tôi tiếp tục nghiên cứu hết các triết gia lớn đời Tiên Tần, để thực hiện cho xong chương trình tôi đã vạch từ năm sáu năm trước, và soạn thêm được năm cuốn nữa: Mặc học, Lão tử, Luận ngữ, Khổng tử, Kinh Dịch. Sau đó, cũng trong Hồi kí, cụ cho biết thêm là năm 1978, sau khi viết cuốn Lão tử, cụ dịch lại bộ Luận ngữ, rồi viết cuốn Khổng tử, năm 1979 viết cuốn Kinh Dịch. Từ những thông tin đó, ta có thể suy ra rằng cuốn Mặc học được viết trước cuốn Lão tử, và cuối cùng là cuốn Kinh Dịch. Nếu đúng như vậy thì tại sao trong đoạn cuối này, trong các cuốn viết trước cuốn Lão tử này, cụ không nêu tên cuốn Mặc học? Tại cụ viết thiếu hay sách in thiếu? (Goldfish). 51 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

52 PHẦN II - Chƣơng 1 HỌC THUYẾT CHƢƠNG I ĐẠO VÀ ĐỨC Đạo Đức kinh gồm 81 chương, nhưng chỉ có khoảng 50 chương độ chữ là quan trọng, còn những chương kia hoặc lặp lại, hoặc diễn thêm ý trong các chương trước, không có gì đặc sắc. Các chương lại sắp đặt rất lộn xộn, vậy mà học thuyết của Lão tử được coi làm một triết thuyết hoàn chỉnh nhất, có hệ thống nhất thời Tiên Tần. Hoàn chỉnh nhất vì chỉ Lão tử mới trình bày rõ ràng một vũ trụ quan làm cơ sở cho một nhân sinh quan và một chính trị quan mới mẻ, ba phần đó quan trọng ngang nhau; có hệ thống nhất vì phần nhân sinh quan và chính trị quan chỉ là tự nhiên qui kết của phần vũ trụ quan; tư tưởng gắn bó với nhau một cách mật thiết tới nỗi trong một chương dù rất ngắn, câu trên hay đoạn trên nói về vũ trụ quan thì câu dưới hay đoạn dưới nói ngay về nhân sinh quan hay chính trị quan; mà rất nhiều chương nói về nhân sinh cũng tức cũng là nói về chính trị, hay ngược lai, không thể tách được đâu là chính trị, đâu là nhân sinh, đâu là đạo của nhà cầm quyền, đâu là đạo của dân, cả hai đều phải thuận tự nhiên, đều là những áp dụng của phần vũ trụ quan cả. Trong phần Học thuyết này, chúng tôi bất đắc dĩ phải tách vũ trụ quan, nhân sinh quan và chính trị quan của Lão ra chỉ để cho dễ trình bày thôi. 52 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

53 Lão tử là người đầu tiên luận về vũ trụ Các triết gia Hy Lạp thời thượng cổ, ngang với thời Xuân Thu ở Trung Quốc, thường bàn đến vấn đề bản nguyên của vũ trụ, vũ trụ sinh thành ra sao, bản chất là gì, như Thalèse ( ) cho nước là bản chất của vạn vật, Anaximène ( ) cho không khí là nguyên tố của vạn vật, Anaximandre ( ) bảo vũ trụ hồi đầu là một khối lửa bao bọc hết thảy, trời là những vòm hơi nước, mà người từ đất bùn sinh ra; Héraciite ( ) đồng thời với Khổng tử, bảo vũ trụ không do Thượng đế tạo ra mà từ hồi nào tới giờ, nó vẫn có, nó sẽ vĩnh viễn tồn tại, mà nguyên tố trong vũ trụ là lửa. Các triết gia Trung Hoa thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc, chỉ trừ Lão tử, đều không bàn tới vấn đề khởi thuỷ đó. Dân tộc Trung Hoa cũng như mọi dân tộc khác, tin có Trời và thờ Trời, từ thời nào, ta không biết. Họ cho Trời là gốc của vạn vật (Vạn vật bản hồ thiên Lễ kí), là đấng chúa tể, có tai mắt, ý chí, tri thức, đủ tình cảm như người, lại cũng làm phúc làm oai như các vua chúa vậy. Trong kinh Thi có vô số câu diễn lòng tin tưởng đó: ----Thiên giám tại hạ (Trời soi xuống dưới Đại minh) ----Đế vị Văn vương (Trời bảo vua Văn Hoàng hĩ) ----Thượng đế giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc57[1] (Thượng đế xem xét bốn phương, tìm sự khốn khổ của dân để cứu giúp Hoàng hĩ) 53 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

54 ----Kính thiên chi nộ, vô cảm hí58[2] dự (Phải sợ sự giận ghét của Trời, không dám đùa vui Bản) ----Thiên giáng táng loạn, cơ cận tiến trăn (Trời gieo vạ loạn, đói kém đến luôn Tiết Nam Sơn)59[3] Nhưng đó chỉ là tín ngưỡng chung của nhân loại thời bán khai, chứ không bàn gì tới sự sinh thành của vũ trụ cả. Trung Hoa cũng có thuyết ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, vào khoảng thế kỉ thứ V trước T.L; nhưng không cho một hành nào có đầu tiên, mà thuyết đó mới đầu áp dụng vào lịch sử, sau vào khoa học, y học, lí số học, chứ không dùng để giảng sự tạo thành của vũ trụ. Ngoài ra còn thuyết âm dương nữa, cũng không biết xuất hiện từ thời nào. Cứ theo sách Quốc ngữ thì năm thứ ba đời Chu U vương (-779) xảy ra một cuộc động đất và Bá Dương Phủ cho là do khí dương bị nén không thoát ra được, khí âm bị nén không bốc ra được mà có hiện tượng đó. Nhưng cái gì sinh ra hai động lực thiên nhiên ấy thì chưa thấy nói tới, phải đợi khi xuất hiện Dịch truyện, người ta thêm quan niệm thái cực nữa rồi mới vạch được lịch trình cuộc biến hoá trong vũ trụ. Hệ từ thượng truyện nói: Dịch có Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tứ tượng sinh ra Bát quái. Lưỡng nghi là âm dương, tứ tượng là bốn mùa, bát quái là Càn (trời), Khôn (đất), Chần (sấm sét), Tốn (gió), Khảm (nước), Li (lửa), Cấn (núi), Đoài (chằm). 54 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

55 Nhưng về tác giả của Kinh Dịch thì nhiều còn thắc mắc. Từ trước người ta tin rằng 10 thiên Thập dực, tức Dịch truyện (Thoán truyện thượng, hạ; Tượng truyện thượng, hạ; Hệ từ truyện thượng, hạ; Văn ngôn truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện) do Khổng tử viết thêm; ngày nay nhiều học giả cho rằng điều đó sai. Phùng Hữu Lan bảo Thập dực do các nhà Nho thời đầu Hán viết; Vũ Đồng bảo Chu Dịch do một số nhà Nho đồng thời với Tuân tử soạn; Quách Mạc Nhược cũng bảo Thập dực của môn đệ Tuân tử viết, mà tư tưởng trong Dịch tổng hợp tư tưởng Khổng, Lão. Vì vậy chúng tôi cho rằng Lão tử là người đầu tiên bàn về nguồn gốc của vũ trụ. Trước ông chưa có ai đặt ra câu hỏi vũ trụ có thuỷ có chung không. Ông cho rằng vũ trụ có khởi thuỷ và cơ hồ không có chung. A. ĐẠO: BẢN NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ Chương 25 ông bảo: Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất ( ) có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ 60[4]. Chương 52 ông nói rõ thêm: Vạn vật có nguồn gốc, nguồn gốc đó là mẹ của vạn vật. 55 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

56 Cái đó, ông không biết nó là con ai, có lẽ nó có trước thượng đế (chương 4). Vậy Lão tử bác bỏ thuyết trời (thượng đế) sinh ra vạn vật, mà có cái gì khác sinh ra vũ trụ, có trước thượng đế. Cái đó, ông không biết tên là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo (ch.25). Ông không tạo ra một tiếng mới mà dùng một tiếng cũ để diễn một ý mới. Chữ đạo 道61[5] mới đầu trỏ một đường đi, rồi sau trỏ cái lí phải theo, như khi người ta nói: đạo làm người, đạo làm con ; sau cùng nghĩa mở rộng ra nữa, và đạo trỏ luật, trật tự thiên nhiên. Lão tử có lẽ đã lựa chữ đạo để trỏ bản nguyên của vũ trụ vì cái nghĩa sau cùng đó. Nhưng ông nhận rằng tên đó, ông dùng tạm vậy thôi vì không thể tìm được một tên nào thích hợp, và ngay cái bản nguyên của vũ trụ đó cũng không thể nào diễn tả được. Cho nên ông mở đầu Đạo Đức kinh bằng câu: Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó (đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến. Ông thú thật với ta rằng cái đạo đó huyền diệu vô cùng, vĩnh cữu bất biến, công dụng của có vô biên, ông không hiểu biết nó được (vì con người chỉ là một phần tử cực kì bé nhỏ của nó, đời sống lại cực kì ngắn ngủi so với sự vĩnh cửu vô chung của nó) và chỉ có thể truyền cho ta ít điều ông suy tư về nó, để ta dùng trực giác mà lĩnh hội được phần nào thôi, chứ ông không chứng minh gì cả. Muốn đặt tên cho một vật gì thì phải có hình tượng, phải không đồng thời vừa ở chỗ 56 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

57 này vừa ở chỗ khác; mà đạo thì không có hình tượng (ch.14), lan tràn khắp nơi, có thể qua bên trái, qua bên phải (ch.34), không có gì giống nó cả (ch.67); như vậy làm sao tìm được một tên thích hợp với nó được. Đọc Đạo Đức kinh chúng ta thấy ông dùng non bảy chục lần tiếng đạo, gần như chương nào cũng nói về đạo, nhưng các chương sắp đặt không có thứ tự gì cả, cơ hồ như ông suy tư tới đâu, phát kiến được gì thì ghi lại, mỗi bước tiến lại gần đạo một chút, có khi lập lại những ý trước, có lúc lại như lùi ra xa, có lúc lại nói lửng, thành thử chúng ta rất khó có một ý niệm rõ rệt về đạo. Một phần có thể là do người sau không biết sắp đặt; một phần cũng có thể là chính ông không thể - hay không muốn trình bày cho rõ ràng hơn. Dưới đây chúng tôi rán tổng hợp một số chương quan trọng về: - bản thể - diệu dụng của đạo theo sự lĩnh hội rất có thể thiên lệch của chúng tôi. Bản thể của đạo Ở trên chúng tôi đã nói Lão tử (ch.25, 52) cho đạo là mẹ của vạn vật, vậy nó là khởi thuỷ của vũ trụ. Nhưng chương 4 ông lại bảo: ta không biết nó là con ai, nghĩa là 57 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

58 ông ngờ rằng trước nó, còn có cái gì nữa mà ông không quan niệm nổi cái gì đó ra sao. - Còn đạo có chung không thì ông khẳng định là không có. Hễ nói tới đạo, ông nhiều lần dùng chữ thường (thường đạo) nghĩa là vĩnh cửu bất biến: ch.1 đạo khả đạo phi thường đạo; ch.32 đạo thường vô danh; ch.37 đạo thường vô vi nhi vô bất vi; v.v Lại thêm, ch.14 ông bảo: theo nó (đạo) thì không thấy đuôi (tuỳ chi, bất kiến kì hậu). Một lẽ nữa là ông bảo vạn vật từ đạo sinh ra, biến hoá rồi lại trở về đạo; luật vận hành của đạo là trở về lúc đầu (phản giả đạo chi động ch.40). Vậy cơ hồ ông cho rằng không gian thì có thể hữu hạn, nhưng thời gian thì vô cùng. Trên dòng thời gian vô chung đó, đạo xuất hiện vào một thời điểm nào đó và ông tạm lấy điểm đó làm khởi thuỷ, cho nên bảo: Ta không biết nó là con ai. Tóm lại, chúng tôi đoán Lão tử cho rằng vũ trụ không có chung, mà có một khởi thuỷ - ông gọi là đạo nhưng ông cũng ngờ còn có một cái gì trước cái khởi thuỷ đó, mà ông chưa suy ra được. Sau này Trang tử khẳng định hơn Lão tử, trong thiên Tề vật luận bảo nếu có khởi thuỷ thì đương nhiên phải có cái gì trước khởi thuỷ đó, cứ như vậy ngược lên hoài sẽ thấy thuyết có khởi thuỷ là không thoả đoán (Hữu thuỷ dã giả, hữu vị thuỷ hữu thuỷ dã giả, hữu vị thuỷ hữu phù vị thuỷ hữu thuỷ dã giả 62[6]). Đến phái Trang học đời sau nữa, thì học dứt khoát hơn, chẳng có cái gì gọi được là khởi thuỷ mà cũng chẳng có cái gì gọi được là chung cùng (vô cổ vô kim, vô thuỷ vô chung Trí Bắc du Ngoại thiên). 58 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

59 Sau cùng, trong Tạp thiên, thiên Tắc Dương, cũng phái đó bảo loài người không thể biết được cái thuỷ cái chung của vũ trụ (chung thuỷ bất khả tri). Vậy chẳng nên bàn tới 63[7]. - Nói về đạo, Lão tử, ngoài chữ thường ra, còn dùng thêm chữ đại (lớn), như trong các chương 25, 67: đạo đại; ch.34: đại đạo phiếm hề (đạo lớn lan tràn khắp cả) Điều đó rất dễ hiểu: đạo sinh ra vạn vật, nuôi dưỡng vạn vật (coi đoạn sau), vạn vật cuối cùng đều trở về đạo, thì tất nhiên không gì lớn bằng đạo, chúng ta khỏi phải bàn thêm nữa. - Nhưng đạo có hình trạng gì không? Có giống cái gì không? Ông chỉ đáp: cơ hồ không có gì giống nó cả (ch.67 đã dẫn), nhưng ông không thể tả nó được vì nhìn nó không thấy, nghe nó không thấy, nắm nó không được. Chương 14 ông viết: Nhìn không thấy gọi là di, nghe không thấy gọi là hi, nắm không được gọi là vi. Ba cái đó (di, hi, vi, tức vô sắc, vô thanh, vô hình) truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn làm một thôi. Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi. 59 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

60 Chương 21 ông viết thêm: Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ, thấp thoáng mà bên trong có vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin. Hai chương đó với câu đầu chương 25: Hữu vật hỗn thành, tiên thiên hạ sinh (có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất) rất quan trọng, chúng ta cần phân tích để tìm hiểu cái thể của đạo. Hai lần Lão tử gọi đạo, bản nguyên của vũ trụ, là vật : đạo chi vi vật (ch.21), hữu vật hỗn thành (ch.25). Chữ vật đó chúng ta không nên hiểu là một vật như cái bàn là một vật, bông hoa là một vật mà chỉ nên hiểu là một cái gì đó. Cái gì đó (đạo) mênh mông thâm viễn (chữ này cũng được dùng hai lần), tối tăm (ch.21), hoặc không sáng, không tối, thấp thoáng, mập mờ (ch.14). Nó hỗn độn mà thành. Chữ hỗn cũng được dùng hai lần (ch.14 và 25) có thể hiểu là hỗn tạp, trộn lộn nữa. Nhưng cái đạo đó vô sắc (di), vô thanh (hi), vô hình (vi) cho nên không thể thấy được. Nó là vật thì nó là hữu (có) rồi. Nhưng nó vô sắc, vô thanh, vô hình, thì nó cơ hồ là vô (không). Sự thực nó không hẳn như vậy. Thật khó giảng. Hai lần Lão tử bảo nó hốt hoảng, nghĩa là thấp thoáng mập mờ. Lần trước (ch.14) ông cho nó là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể (vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng). Lần sau (ch.21) ông bảo ở trong nó có hình tượng, có vật (kì trung hữu tượng, kì trung hữu vật); hơn nữa ông tin chắc rằng ở trong nó có cái tinh (kì trung hữu tinh, kì tinh 60 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

61 thậm chân). Chữ tinh 精 đó có người giảng là khí, nhưng cũng có thể hiểu là nguyên lí hay nguyên chất, nguyên tố của vạn vật. Có lẽ nhờ cái tinh đó mà đạo sinh ra vạn vật. Vậy đạo tựa như có, lại tựa như không. Bảo là không thì không được vì nó là vật hỗn độn mà thành, nó lại có tinh ; mà bảo là có thì sắc, thanh, hình của nó ra sao, không biết. Chỉ bảo nó hoảng hốt, mập mờ, thấp thoáng thôi. Mập mờ thấp thoáng tức tựa như có lại tựa như không, ở giữ khoảng có và không. Nó thật huyền bí. Chương 1, Lão tử bảo: Không là gọi cái bản thủy của trời đất; Có là gọi mẹ sinh ra muôn vật. cũng là diễn cái ý tựa như có, tựa như không, vừa không vừa có. Không và có (vô và hữu) ở câu đó trỏ cách thức (mode) của đạo. Xét cái cách thức vi diệu của đạo thì coi nó là không ; mà cái cách thức sinh hoá tới cùng mà nó nhờ cái tinh hoa của nó, như trên đã nói - thì coi nó là có. Những đoạn Lão tử rán tả cái đạo đó, khiến chúng tôi liên tưởng tới định nghĩa danh từ nébuleuse của người Âu: một khối mênh mông trong vũ trụ, mờ mờ, hình rất khác nhau, như mây như khói, gồm nhiều chất, khí. Tới đây, chúng ta có thể bảo rằng theo Lão tử, đạo là bản nguyên của vũ trụ, cũng có thể là tổng nguyên lí hay nguyên tố của vũ trụ. 61 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

62 Dụng của đạo Thể của đạo là huyền diệu; mà dụng của nó thì vô cùng (dụng chi hoặc bất doanh ch.4), nó sáng tạo vạn vật (dĩ duyệt chúng phủ - ch.21), vạn vật nhờ nó mà sinh (vạn vật thị chi sinh ch.34). Nó sinh vạn vật ra sao, theo trình tự nào? Về điểm này, Lão tử nói rất mù mờ, chỉ trong hai mươi lăm chữ đầu chương 42, mà chúng tôi dịch là: Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh vạn vật. Vạn vật đều cõng âm mà ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư. và thú thật chẳng hiểu một, hai, ba là gì, khí trùng hư là khí gì. Có người giảng đạo là không, không sinh ra có, vậy một đó là có ; hoặc đạo là vô cực, vô cực sinh thái cực, một đó là thái cực; lại có người bảo đạo là tổng nguyên lí, lí sinh khí, vậy một đó là khí. Hai thì ai cũng đồng ý là âm, dương vì vạn vật cõng âm mà ôm dương như Lão tử nói. Còn ba thì là khí trùng hư do âm dương giao nhau mà sinh ra chăng? Hay là cái nguyên lí nó làm cho âm dương hoà với nhau? Còn một thuyết nữa: một, hai, ba không phải là bản số (số nhiều, ít) mà là số thứ tự: 62 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

63 mới đầu đạo sinh ra cái gì đó (chẳng hạn là khí dương), rồi sau sinh ra cái gì đó nữa (khí âm), rồi sau nữa lại sinh ra cái gì nữa như vậy cho tới vô cùng. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, và chúng ta chỉ cần nhớ mỗi điều này là đạo sinh ra vạn vật. Chương 25, Lão tử bảo: Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên Đạo bắt chước tự nhiên phải hiểu là đạo với tự nhiên là một, đạo tức là tự nhiên, vì ngoài đạo không có gì khác cả. Như vậy ta thấy đạo làm phép tắc cho trời, cho đất, cho người, cho vạn vật. B. ĐỨC: SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA VẠN VẬT Nói về sự sinh ra của vạn vật, Lão tử rất mù mờ, nhưng nói về sự trưởng thành của vạn vật thì lời ông vừa gọn, vừa đầy đủ. Chương 51 ông viết: Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở mỗi vật ( ); vật chất khiến cho mỗi vật thành hình; hoàn cảnh [khí hậu, thuỷ thổ] hoàn thành mỗi vật.64 [8] Đạo có công sinh ra vạn vật thôi; công nuôi dưỡng, che chở mỗi vật cho tới lớn là về đức. Chữ đức ở đây Lão tử dùng với một nghĩa rất mới, không phải chữ đức mà nhà Nho thường dùng như đức nhân, đức tín, đức trung, đức hiếu. 63 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

64 Cứ theo đoạn dẫn ở trên đức nuôi lớn mỗi vật -, và câu đầu chương 21: Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng : những biểu hiện của đức lớn đều tuỳ theo đạo; cứ theo những câu đó thì chúng ta đoán rằng đức là một phần của đạo: khi chưa hiển hiện trong mỗi vật thì là đạo, khi đã hiển hiện rồi thì phần hiển hiện trong mỗi vật là đức. Mỗi vật đều có đức mà đức của bất kì vật nào cũng là từ đạo mà ra, là một phần của đạo, cho nên đức mới nuôi lớn mỗi vật mà luôn luôn tuỳ theo đạo. Lão tử không thể giảng rõ hơn được. Tuỳ chúng ta muốn hiểu sao thì hiểu. Có người cho đạo là tổng nguyên lí của vạn vật, mà đức là nguyên lí của mỗi vật. Cũng không rõ gì hơn. Có người cho đức là tác dụng của đạo. Người khác bảo đức là tính năng động của đạo. Vài học giả cho nó là năng lực ngấm ngầm mà cũng là công dụng của đạo. Một nhà khác cho nó là ái lực, một sức giữ cho vật chất khỏi tan rã, nhờ đó mà nguyên tố đạo cấu thành muôn vật mới không bị rã rời. Cũng có thể coi nó là bản năng sinh tồn của mỗi sinh vật: đói thì kiếm ăn, khát thì kiếm uống; bản năng tự vệ, mệt thì nghỉ ngơi, tìm sự an toàn, tránh nguy hiễm; bản năng truyền chủng v.v Nhờ những bản năng đó mà sống được, lớn được, tự bồi dưỡng, tự bảo vệ; mà những bản năng đó đều phú bẩm, nên rất thuận luật tự nhiên, rất hợp với đạo, luôn luôn duy đạo thị tòng. Có thể như vậy không? Về hai điểm cuối trong đoạn đã dẫn: vật chất khiến cho mỗi vật thành hình; hoàn cảnh 64 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

65 [khi hậu, thuỷ thổ] hoàn thành mỗi vật, thì rất dễ hiểu và rất đúng. Vật nào cũng nhờ một số hoá chất mà thành hình và cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, biến đổi theo hoàn cảnh: cá dưới nước thì có mang, người thì có phổi, vật xứ lạnh thì lông rậm và dài, xứ nóng thì lông thưa, ngắn v.v Một học thuyết vô thần Khi người ta khen Einstein đã tìm ra được công thức E = mc 2 (cơ bản của khoa học nguyên tử) và thuyết tương đối, ông mượn lời của Newton (người đã tìm ra luật hấp dẫn vạn vật) để đáp: Tôi chỉ như một em nhỏ may mắn tìm được một hòn cuội trên bờ một đại dương. Lời đáp khiêm tốn đó chính là sự thực. Chẳng những sự hiểu biết của hai vĩ nhân đó, mà toàn thể sự hiểu biết của nhân loại ngày nay so với sự bí mật trong vũ trụ chỉ như một hòn cuội, một hạt cát trên bờ một đại dương. Chúng ta mới biết được một phần rất nhỏ trong cơ thể của chính chúng ta, mới biết được một phần rất nhỏ của lớp vỏ trái đất, mới chỉ đặt chân lên mặt trăng, chụp được ít tấm hình, đem được ít cục đá về mà vũ trụ thì có tỉ tỉ ngôi sao và hành tinh, sâu rộng cả tỉ tỉ năm ánh sáng và có từ thời nào thì không ai biết được, không thể nào đoán được. Trước sự bí mật đó các triết gia đặt câu hỏi và chỉ có thể đưa ra những giả thiết thôi. Một trăm giả thiết không chắc trúng được một, nhưng họ vẫn cứ nặn óc mà đưa ra. Họ cao quí hơn chúng ta ở điểm đó. Trước Lão tử có thể đã có người không tin rằng ông trời mà họ là thiên, hoàng thiên, 65 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

66 đế, thượng đế, thiên đế sinh ra vạn vật, nuôi nấng vạn vật; và chắc chắn từ thời Tây Chu, đã có ông vua không thờ trời như vua Trụ, có những người oán trời, như trong kinh Thi đã chép: ----Du du sương 65[9] thiên, hạt kì hữu sở? ----悠悠蒼天,曷其有所? ----Vằng vặc trời xanh, ông ở nơi đâu? (Đường Phong) ----Dân kim chi vô lộc, thiên yêu thị trác ----民今之無禄, 天天是琢 ----Dân nay đã không có lộc mà vạ trời lại cứ đẽo (Tiểu Nhã) Không sợ trời mà oán trời thì cũng gần như không tin có trời nữa. Khổng tử ít nói tới trời và quỉ thần, cơ hồ tránh vấn đề siêu hình đó, nhưng chắc chắn là ông sợ trời, tin có trời. Chỉ có điều là ông không nghĩ rằng trời có tai mắt, mũi miệng như người (ông bảo trời không nói gì mà bốn mùa vẫn xoay vần, trăm vật vẫn sinh hoá Dương Hoá - 19); và nói đến trời ông thường dùng chữ thiên mạng, mạng trời, tức như thiên lí, luật tự nhiên của hoá công, như khi ông bảo: Ta năm chục tuổi biết được mạng trời (Ngô ngũ thập tri thiên mạng Vi chính 4). Cái thiên mạng đó là cái luật tự nhiên khiến cho mọi sự biến hoá hợp với lẽ điều hoà. Quan niệm đó của Khổng tương đối tiến bộ và gần giống quan niệm của Lão. 66 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

67 Nhưng tới Mặc tử, thì lại thụt lùi, trở về tín ngưỡng thời thượng cổ, cho trời là chủ tể duy nhất của toàn thể nhân loại, là một đấng tối cao, rất nghiêm, rất công bằng như gia trưởng trong nhà, quốc quân một nước, hễ mắc tội với trời thì không trốn đi đâu được, vì ở đâu trời cũng thấy, nghe thấy hết (Thiên bất vi lâm cốc u môn vô nhân, minh tất kiến chi 天不爲林谷幽門無人, 明必見之 Thiên chí thượng). Kết luận là người nào cũng phải tuyệt đối phục tùng trời. Lão tử gạt bỏ hẳn quan niệm đó, cả bộ Đạo Đức kinh chỉ có mỗi một chương, chương 4, là nhắc tới đế (trời), nhưng lại đặt đế dưới đạo. Ông bảo: Đạo tượng đế chi tiên : Đạo có lẽ có trước thượng đế, nghĩa là sinh ra thượng đế (vì đạo là mẹ của vũ trụ, cái gì có sau đạo thức là do đạo sinh ra cả). Có nhiều chương ông dùng chữ thiên, nhưng với nghĩa vòm trời như ch.52: thiên hạ hữu thuỷ (những vật dưới vòm trời đều có nguồn gốc đạo), hoặc với nghĩa đạo trời như ch.5: thiên địa bất nhân (đạo trời bất nhân); ch.79: thiên chi đạo, bất tranh nhi thiện thắng (đạo trời không tranh mà khéo thắng). Còn quỉ thần thì chúng tôi chỉ thấy ông nói tới hai lần (ch.39 và ch.60) mà trong chương 60 ông lại bảo Dùng đạo mà trị thiên hạ thì quỉ không linh; chẳng những quỉ không linh mà thần cũng không hại được người (Dĩ đạo lị thiên hạ, kì quỉ bất thần. Phi kì quỉ bất thần, kì thần bất thương nhân). Ông hoàn toàn có tinh thần vô thần, về điểm đó suốt thời Tiên Tần không ai hơn ông, vì ngay Tuân tử cuối thời Chiến Quốc, tuy bài xích dị đoan, chủ trương rằng việc trời không liên quan gì tới việc người, trời không làm hại người trái hẳn với Mặc tử nhưng vẫn còn cho trời là cao hơn cả. 67 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

68 Lão tử lại có thái độ rất triết, không lớn tiếng mạt sát, đả đảo tín ngưỡng của người đương thời, chỉ suy tư, tìm hiểu, đưa ra một giả thiết về vũ trụ. Giả thiết đó thật mới mẻ, độc đáo, cách mạng. Ý niệm đạo và đức của ông, ngày nay chúng ta chấp nhận được một phần, hơi hợp với khoa học. Nói vậy chúng tôi không có ý bảo rằng khoa học đã hiểu nổi vũ trụ đâu còn lâu, lâu lắm! mà chỉ muốn khen Lão tử đã sáng suốt hơn người đương thời của ông nhiều. Ông lại khiêm tốn, thận trọng: khiêm tốn khi ông nhận ngay ở chương đầu rằng vũ trụ vô cùng huyền bí, không thể hiểu được, giảng được; thận trọng khi ông nói về đạo, ông dùng những tiếng lửng: tượng (có lẽ), tự (giống như), nhược (hình như), hoặc (hoặc là). Ông chỉ thành thực trình bày ý nghĩ của ông, dò dẫm tìm chữ để diễn tả hình ảnh về đạo hiện trong óc ông, như trong các chương 14 và 21, vừa cô động, vừa thâm thuý, vừa bóng bẩy, hiếm thấy trong triết học Trung Hoa. Chú thích: 66[1] Sách in là mịch, tôi tạm sửa lại thành mạc 瘼. (Goldfish). 67[2] Sách in là kí, tôi sửa lại thành hí 戲. (Goldfish). 68[3] Câu Thiên giáng táng loạn, cơ cận tiến trăn trong bài Vân Hán 雲漢. Câu đó không có trong bài Tiết Nam Sơn 節南山 (sách in sai Tiết thành Tiệt) (Theo (Goldfish). 69[4] Trong phần này chúng tôi không chép lại nguyên văn chữ Hán những câu và đoạn trích dẫn vì phần 68 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

69 dịch ở sau sẽ có đủ cả chữ Hán và phiên âm. 70[5] Tôi ghi thêm chữ 道 này vì sách bỏ trống, không in. Về sau, tôi cũng điền vào chỗ sách bỏ trống mà không chú thích nếu như tôi tin chắc chữ tôi điền vào là đúng. (Goldfish). 71[6] Trong Trang tử - Nam Hoa kinh, bài Tề vật luận 7, vì cụ Nguyễn Hiến Lê dịch câu này theo ý toàn bài là đừng nên tranh luận vì phán đoán mỗi người mỗi khác, do vậy mà lời dịch đó có phần hơi khác với ý cụ muốn nói ở đây. (Goldfish). 72[7] Coi Đại cương triết học Trung Quốc Quyển thượng trang Cảo Thơm). 73[8] Nguyên văn chép trong phần dịch, chúng tôi đảo 6 chữ vật hình chi, thế thành chi xuống dưới cho khỏi lập lại và dễ trình bày. 74[9] Chữ 蒼, Thiều Chửu phiên âm là thương. (Goldfish). Chƣơng 2 TÍNH CÁCH VÀ QUI LUẬT CỦA ĐẠO Chương trên, chúng tôi đã đã dịch chữ thường (thường đạo) là vĩnh cửu, bất biến. Chữ đó xuất hiện rất nhiều lần trong Đạo Đức kinh và còn nghĩa nữa là phổ biến. Như 69 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

70 câu: Dân chi tòng sự, thường ư cơ thành nhi bại chi (ch.64), chúng tôi dịch là Người ta làm việc, thường gần tới lúc thành công lại thất bại, cũng có thể hiểu là: có một điều phổ biến là người ta làm việc gần đến lúc thành công thì thất bại. Hoặc như câu: Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân (ch.79), có thể dịch là: đạo trời không tư vị ai, luôn luôn gia ân cho người có đức, nghĩa là có một luật phổ biến là người có được thì được trời gia ân. Một thí dụ nữa trong chương 16: Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường, vọng tác hung. Tri thường dung. Có nghĩa là: Trở về mệnh là luật bất biến (hay phổ biến) của vật. Biết luật bất biến (phổ biến) thì sáng suốt, không biết luật bất biến (phổ biến) thì vọng động thì gây hoạ. Biết luật bất biến (phổ biến) đó thì bao dung. Luật bất biến trong chương đó tức là luật biến hoá phổ biến trong vũ trụ, nó chỉ huy tất cả mọi sự. Chương trên, Lão tử dùng óc suy nghĩ và trí tưởng tượng mà đoán cái thể của đạo, trong chương này, ông dùng óc quan sát vũ trụ để tìm ra tính cách và qui luật của đạo. Đạo là mẹ của vạn vật, cho nên vạn vật có những tính cách của đạo và phải theo những 70 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

71 qui luật của đạo. A) PHÁC Có thể Lão tử nhận thấy rằng trong vũ trụ, sinh vật nào càng nhỏ, càng thấp như con sâu, thì cơ thể và đời sống càng đơn giản, chất phác; còn loài người thì thời thượng cổ, tính tình chất phác, đời sống rất giản dị, tổ chức xã hội rất đơn sơ; càng ngày người ta càng hoá ra mưu mô, xảo quyệt, gian trá, đời sống càng phúc tạp, xa xỉ, tổ chức xã hội càng rắc rối, mà sinh ra loạn lạc, chiến tranh, loài người chỉ khổ thêm; rồi từ nhận xét đó mà ông cho rằng một tính cách của đạo là phác (mộc mạc, chất phát), loài người cũng như vạn vật do đạo sinh ra đều phải giữ tính cách đó thì mới hợp đạo, mới có hạnh phúc. Chương 32, ông viết: Đạo thường vô danh, phác : đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác. Chương 37, ông bảo: Trong quá trình biến hoà, tư dục của chúng phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (vô danh chi phác) tức đạo - mà trấn áp hiện tượng đó. Chương 28 ông khuyên ta trở về mộc mạc (phục qui ư phác). Như vậy phác là một tính cách của đạo, hoặc một trạng thái của đạo. Lão tử dùng chữ đó để trỏ chính cái đạo nữa, vì ông cho nó là rất quan trọng, tượng trưng cho đạo. Trở về mộc mạc cũng tức là trở về đạo. Vũ Đồng trong Trung Quốc triết học đại cương (thương vụ ấn quán) cho rằng phác là chất liệu cơ bản của đạo, chất liệu đó khi tản mát ra thì thành những vật cụ thể (vạn vật trong vũ trụ): phác tán tắc vi khí (ch.28). Chất liệu đó phải chăng là những đơn chất (corps simples). Hiểu như Vũ Đồng cũng có thể được. Trong chương sau chúng 71 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

72 tôi sẽ xét sự áp dụng qui tắc phác trong cách xử thế và trị nước. B) TỰ NHIÊN Một tính cách nữa cũng có thể nói một qui luật nữa của đạo là tự nhiên. Phác là một hình thức tự nhiên, nhưng tự nhiên không phải chỉ là phác. Nghĩa rộng hơn nhiều. Trong Đạo Đức kinh, tiếng tự nhiên được dùng nhiều hơn tiếng phác; tự nhiên là một điểm quan trọng vào bậc nhất trong học thuyết Lão tử, nên chương 25 ông bảo: đạo phác tự nhiên, nghĩa là đạo theo tự nhiên, đạo với tự nhiên là một. Một vật gì trời sinh ra, không có bàn tay con người, ta gọi là tự nhiên; một cử động, ngôn ngữ phát ra tự lòng ra mà không tính toán trước, ta cũng gọi là tự nhiên. Đạo sinh ra vạn vật rồi, để cho chúng vận hành, diễn biến theo luật riêng, theo bản năng của chúng, chứ không can thiệp vào, cho nên Lão tử bảo đạo là tự nhiên. Chương 51 ông viết: Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, vật chất khiến cho mỗi vật hình thành, hoàn cảnh hoàn thành mỗi vật ( ) đạo và đức không can thiệp, chi phối vạn vật mà để vạn vật tự nhiên phát triển. Chương 37 ông bảo vạn vật tương tự hoá (vạn vật sẽ tự biến hoá). Tự hoá tức là tự nhiên phát triển trong ch.51. Chính vì đạo để cho vạn vật tự hoá, không can thiệp vào, nên đạo không nhận công của nó: vạn vật thị chi sinh nhi bất tri, công thành nhi bất hữu ch Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

73 Đạo sở dĩ không can thiệp vào đời sống của vạn vật vì nó không có nhân cách, không có ý chí, không chủ quan. Ý đó không phải riêng của Lão tử. Khổng tử cũng đã nói rồi: Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tai! (Dương Hoá 19). Bốn mùa cứ thay đổi nhau mà vận hành, vạn vật cứ theo bản năng mà tự thích nghi với hoàn cảnh: cá cứ tự mọc ra vây, chim tự mọc ra cánh, con nòng nọc khi lên ở trên cạn thì tự đứt đuôi mà mang biến thành phổi; con tầm tự làm kén để sau đục kén ra mà biến thành con bướm; và loài vật nào cũng đói thì tìm ăn, no rồi thì thôi, lúc nào mệt thì nghỉ Điều đó ai cũng thấy. Đạo vô tri vô giác, cố nhiên là không can thiệp vào đời sống vạn vật rồi, nhưng loài người hữu tri hữu giác lại can thiệp vào, mà can thiệp vào thì thường rất tai hại: chẳng hạn con nòng nọc còn nhỏ mà chặt đuôi nó đi thì nó sẽ chết; con tầm mới làm xong cái kén, tự nhốt mình trong đó mà ta đục kén giải thoát cho nó thì nó sẽ chết mà không thành bướm; nhất là loài người rất thường can thiệp vào đời sống của nhau, gây ra loạn lạc, chiến tranh; Lão tử thấy rõ cái hại đó hơn ai hết (chương 29 ông bảo: thiên hạ là một đồ vật thần diệu không thể hữu vi tự ý thay đổi nó được), nên mới nhấn mạnh vào qui luật tự nhiên, dùng một hình ảnh rất mới, để đập vào đầu óc của ta, bảo: Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm (ch.5), nghĩa là luật thiên nhiên tức đạo không có tình thương của con người (bất nhân), không tư vị với vật nào, cứ thản nhiên đối với vạn vật. Không can thiệp vào đời sống vạn vật, tức vô vi. Vô vi cũng là một thuyết chủ yếu của Lão tử, được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Cuối chương này và trong hai chương sau 73 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

74 chúng ta sẽ xét kĩ thuyết đó. Ở đây chúng tôi xin nói vắn tắt rằng vô vi không phải là không làm gì cả, mà có nghĩa là cứ thuận theo tự nhiên mà làm. Chương 37 rất quan trọng, ngắn mà tóm được hết ba ý trong tiết này và tiết trên cho ta thấy phác, tự nhiên và vô vi liên quan mật thiết với nhau: Đạo vĩnh cửu thì không làm gì (vô vi - vì là tự nhiên) mà không gì không làm (vô bất vi - vì vạn vật nhờ nó mà sinh, mà lớn); bậc vua chúa giữ được đạo thì vạn vật sẽ tự biến hóa (sinh, lớn); bậc vua chúa giữ được đạo thì vạn vật sẽ tự biến hoá. Trong quá trình biến hóa, tư dục của chúng phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (tính cách, bản chất của đạo) mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa. Không còn tư dục mà trầm tĩnh thì thiên hạ sẽ tự ổn định. Không can thiệp vào đời sống vạn vật còn có nghĩa là để cho vạn vật tự do phát triển. Vậy Lão tử có thể là người đầu tiên chủ trương chính sách tự do, một thứ tự do cho nhân quần, xã hội, khác sự tự do cho cá nhân, cho bản thân, của một nghệ sĩ phóng đãng như Trang tử trong thiên Tiêu dao du. C) LUẬT PHẢN PHỤC Tính cách và qui luật thứ ba của đạo, quan trọng nhất, là phản phục, tức là quay trở về. Chương 5, Lão tử viết: Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản. 74 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

75 ([Đạo] lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về). Chương 40 nói rõ hơn Phản giả, đạo chi động. (Luật vận hành của đạo là quay trở về). Vạn vật do đạo sinh ra và do đức (chúng tôi nhắc lại, đức là một phần của đạo, từ đạo mà ra, có công nuôi lớn vạn vật) mà trưởng thành, tất nhiên phải theo qui luật phản phục, cho nên chương 65 bảo: Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ, dữ vật phản hĩ, nhiên hậu nãi chí đại thuận. (Đức huyền diệu sâu thẳm, cùng với vạn vật trở về, rồi sau mới đạt được sự thuận tự nhiên). Trong mấy chương đó, chúng ta thấy Lão tử dùng chữ phản; chương 16, ông dùng thêm chữ phục: Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. (Xem vạn vật sinh trưởng, chúng ta thấy được qui luật phản phục). Phản hay phục thì nghĩa cũng như nhau, đều là quay trở về cả. Trong kinh Dịch, luật phản phục được tượng trưng bằng quẻ Phục. Quẻ này gồm năm hào âm ở trên và một hào dương ở dưới. Khi khí âm đã phát đến cực điểm (sáu hào 75 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

76 cùng là âm cả, tức tháng 10 âl, tháng người Trung Hoa cho là lạnh nhất) thì một hào dương xuất hiện ở dưới, nghĩa là khí dương bắt đầu sinh trở lại. Do đó mà quẻ có tên là Phục (trở lại). Phục thuộc tháng 11 âm lịch, ngày đông chí (solstice d hier) Luật phản phục của đạo đó tức luật tuần hoàn của vũ trụ - loài người đã nhận thấy từ hồi sơ khai: mặt trời mọc, lên tới đỉnh đầu rồi xuống, lặn, hôm sau lại như vậy; mặt trăng tới ngày rằm thì tròn, rồi khuyết lần tới cuối tháng, rằm sau tròn trở lại; bốn mùa thay phiên nhau, rồi năm sau trở lại mùa xuân; thuỷ triều lên lên xuống xuống; cây cối từ đất mọc lên, lá rụng trở về đất, thành phân nuôi cây; con người từ cát bụi trở về cát bụi. Vì vậy mà: gió lốc không hết buổi sáng, mưa rào không hết ngày (phiêu phong bất chung triêu, sậu vũ bất chung nhật ch.23). Phù vật vân vân, cát phục qui kì căn (ch.16). (Vạn vật phồn thịnh đều trở về gốc (căn nguyên) của chúng). Gốc đó tức là đạo. Một tính cách của đạo là phác, cho nên qui căn (trở về gốc) cũng tức là trở về phác : Qui ư phác (ch.28). Chương 14, ông bảo đạo trở về cõi vô vật (phục qui ư vô vật); vậy thì vạn vật trở về với đạo, tức trở về cõi vô vật. Ý đó diễn lại trong chương 40: 76 Lão Tử - Đạo Đức Kinh Nguyễn Hiến Lê

河内:百花春城

河内:百花春城 越南 河内 旅行 胡志明陵墓 殖民建筑 水上木偶 还剑湖 封面... 1 一 在河内最棒的体验... 4 1 鲜榨青柠水 大碗生牛河 新鲜越南味... 4 2 在法国殖民时期的迷宫中体会现代河内的狂热... 5 3 漫天凤凰花下看恋恋三季... 6 4 还剑湖边 观如梦似幻水上木偶... 7 二 河内概况... 9 1 地图... 10 2 特色建筑... 12 三 河内景点详述... 14 1 还剑湖Hoan

More information

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG -------------------------------------- ISO 9001 : 2008 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC BIÊN SOẠN TÀI LIỆU BỔ TRỢ CHO KỸ NĂNG NÓI (Tập 1) Chủ nhiệm đề

More information

胡志明:多情西贡

胡志明:多情西贡 越南 胡志明市 西贡 米粉 邮局 红教堂 范老五街 地道 封面... 1 一 在西贡最棒的体验... 4 1 看特色建筑 抚过西贡的悲喜哀愁... 4 2 浪迹湄公河... 5 3 堤岸老城区忆繁华旧梦... 6 4 吃在西贡... 7 二 胡志明市概述... 9 1 地图... 9 2 概述... 11 三 胡志明市景点详述... 13 1 范老五街(Pham Ngu Lao)... 13 2 统一宫Reunification

More information

标题

标题 2007 年 越 南 国 情 报 告 第 八 章 政 治 2006 年 是 越 共 十 大 胜 利 召 开 党 和 国 家 高 层 领 导 完 成 新 老 交 替 越 南 加 入 世 贸 组 织 和 成 功 举 办 第 14 届 APEC 峰 会 的 一 年, 同 时 也 是 越 南 战 胜 各 种 严 峻 挑 战 确 保 社 会 政 治 稳 定 推 动 改 革 开 放 和 经 济 建 设 取 得

More information

目录 About Nha Trang 关于芽庄 P03 关于芽庄 P04 从数字看芽庄 Before the Trip 行前计划 古朴质感的芽庄 处处体现着历史雕刻过的痕迹 以及优美浪漫的自然气息 古老的大教堂和龙山寺 经历风霜的占婆塔 安静置身于这片碧海蓝天之中 轻柔的海风吹过 带来恍如世外桃源的

目录 About Nha Trang 关于芽庄 P03 关于芽庄 P04 从数字看芽庄 Before the Trip 行前计划 古朴质感的芽庄 处处体现着历史雕刻过的痕迹 以及优美浪漫的自然气息 古老的大教堂和龙山寺 经历风霜的占婆塔 安静置身于这片碧海蓝天之中 轻柔的海风吹过 带来恍如世外桃源的 NHA TRANG 芽 庄 骆 驼 书 Top5 越 菜 餐 厅 珍 珠 岛 欢 乐 之 旅 Top4 海 上 运 动 摩 托 车 骑 行 之 旅 城 市 系 列 City Guide guide.qunar.com Qunar 骆 驼 书 01 目录 About Nha Trang 关于芽庄 P03 关于芽庄 P04 从数字看芽庄 Before the Trip 行前计划 古朴质感的芽庄 处处体现着历史雕刻过的痕迹

More information

目 录 About Ho Chi Minh City 关 于 胡 志 明 市 01 关 于 胡 志 明 市 02 从 数 字 看 胡 志 明 市 Before the Trip 行 前 计 划 03 最 佳 出 游 时 间 05 最 优 住 宿 推 荐 08 最 佳 交 通 工 具 Classic

目 录 About Ho Chi Minh City 关 于 胡 志 明 市 01 关 于 胡 志 明 市 02 从 数 字 看 胡 志 明 市 Before the Trip 行 前 计 划 03 最 佳 出 游 时 间 05 最 优 住 宿 推 荐 08 最 佳 交 通 工 具 Classic HO CHI MINH CITY 胡 志 明 市 骆 驼 书 TOP5 咖 啡 馆 精 彩 纷 呈 娱 乐 休 闲 之 游 TOP7 购 物 中 心 追 溯 信 仰 宗 教 建 筑 之 旅 城 市 系 列 City Guide guide.qunar.com Qunar 骆 驼 书 01 目 录 About Ho Chi Minh City 关 于 胡 志 明 市 01 关 于 胡 志 明 市 02

More information

Microsoft Word 年「教育部華語文獎學金」申請辦法_含申請表_ _郁仁修_.doc

Microsoft Word 年「教育部華語文獎學金」申請辦法_含申請表_ _郁仁修_.doc 越南地區 2015 年 教育部華語文獎學金 申請辦法 2015 年 1 月 15 日公告 中華民國 ( 臺灣 ) 教育部為鼓勵越南優秀青年學生赴臺灣學習華語文及認識臺灣文化, 以促進雙方教育文化交流, 加強彼此瞭解與友誼, 特別設置華語文獎學金, 提供越南青年學生申請 一 獎學金名額 : 共 20 名 二 獎學金期限 : ( 一 ) 受獎期限 : 每名申請人最長可申請赴臺研習華語文 12 個月 ;

More information

No.1 創刊號 2016.FEB. 雙月刊 歡迎投稿 新 移 民 生 活 情 報誌 下一個公民記者 就是你 辦法詳見P.63 Taiwan 封 面 故 事 台灣我來 了 這是一本屬於新移民的全新刊物 關於新移民的一切 都在這裡 讓我們一起用新移民的視角喜歡台灣 愛上台灣這塊土地 新鮮物熱門事 新移民人物集 NEWS熱門事 移民署會客室 中央廣播電台 越南語主持人 陳梅 特別專欄報導 收錄移民工文學獎作品

More information

Microsoft Word 年臺灣獎學金申請辦法及申請表_120113_.doc

Microsoft Word 年臺灣獎學金申請辦法及申請表_120113_.doc 越南地區 2012 年 臺灣獎學金 申請辦法 2012 年 1 月 15 日公告 中華民國 ( 臺灣 ) 教育部為鼓勵越南優秀青年學生到臺灣各大學攻讀學位, 獲取各學術領域專業知識技能, 為臺越雙方社經發展與文教交流各層面作出具體貢獻, 特別設置 臺灣獎學金, 歡迎越南各地優秀青年學生提出申請 2012 年臺灣獎學金申請辦法說明如下 : 一 獎學金名額 : 共 20 名, 包含進修學士 碩士 博士學位者

More information

南越:法式浪漫

南越:法式浪漫 越南 南越 湄公河 胡志明市 西贡 美奈 沙滩 范老五街 河粉 封面... 1 一 越南南部地图... 3 1 北越部分攻略... 3 二 越走越南 南北线上的越南风景... 5 1 会安Hoian 穿着奥黛的女子穿过雨巷... 5 2 芽庄Nha Trang 阳光滨海长廊... 17 3 大叻Dalat 有情趣的你会喜欢这里... 22 4 胡志明市Ho ChinMing City 西贡Saigon

More information

Microsoft Word - Huong dan xin hoc bong Dai Loan.doc

Microsoft Word - Huong dan xin hoc bong Dai Loan.doc 越南地區 2015 年 臺灣獎學金 申請辦法 2015 年 1 月 15 日公告 中華民國 ( 臺灣 ) 教育部為鼓勵越南優秀青年學生到臺灣各大學攻讀學位, 獲取各學術領域專業知識技能, 為臺 - 越雙方社經發展與文教交流各層面作出具體貢獻, 特別設置 臺灣獎學金, 歡迎越南各地優秀青年學生提出申請 2015 年臺灣獎學金申請辦法說明如下 : 一 獎學金名額 : 共 24 名, 包含進修學士 碩士

More information

标题

标题 政 分 报 告 Development Reports 政 2 摘 要 : 204 年, 越 南 继 续 贯 彻 落 实 越 南 共 产 党 第 十 一 次 全 国 代 表 大 会 决 议 精 神, 越 南 共 产 党 第 十 二 次 全 国 代 表 大 会 各 项 准 备 工 作 的 进 度 明 显 加 快 ; 继 续 加 强 党 内 外 民 主 政 建 设, 探 索 推 进 政 领 域 的 一

More information

Cataract VN - CN

Cataract VN - CN Serving the mental health needs & promoting wellbeing of people from Vietnam Hội Tâm Thần Việt Nam 越南心理保健服務 Cườm Mắt 白內障 Cataract Bác Sĩ Nguyễn Xuân Cẩm biên soạn Lời xin phép trước Kính gởi Qúy Báo, Tạp

More information

untitled

untitled 從 新 干 古 玉 談 商 時 期 的 玦 飾 23 852-26097390 852-26037539 tangchung@cuhk.edu.hk 從 新 干 古 玉 談 商 時 期 的 玦 飾 () 2003 5 1 1989 1997 2 ( ) 1997 3 4 5 1 1994 6 7 8 9 10 T 11 T () 19 20 (1) 18 14 XDM () () () I 690

More information

Ngoai ra, nhng ban thi彨磏 sinh nao phat t彨 t 彥聫 - 彥聫 tha 彥聫 u 彥耤 khuy彨磏 khich tham gia. Cac ban co th彨tham d m彨詔 khoa hay ca b彨詎 khoa. + Sau khi hoc xo

Ngoai ra, nhng ban thi彨磏 sinh nao phat t彨 t 彥聫 - 彥聫 tha 彥聫 u 彥耤 khuy彨磏 khich tham gia. Cac ban co th彨tham d m彨詔 khoa hay ca b彨詎 khoa. + Sau khi hoc xo CHNG TR彧繬H 2016 c彨 nh彨 ngay 16-3- 2016 TH彧 G 1 THANG 2 T彧碩: mung 1 T彨磘 nh彨 ngay th hai 8 thang 2 n彨 2016 Khoo a An c mua Xu彨 cho T彨 g Ni tai T彨彥 nh Thi彨磏 Tanh Kh彨詎g Thang 2-3 va 4 TH彧 G 3 NAM CALI Kh彨

More information

越 南 会 安 HoiAn 城 市 夜 景 会 安 会 安 是 越 南 最 早 的 华 埠, 是 越 南 华 侨 聚 居 最 多 的 地 方 早 在 17 世 纪 时 就 有 不 少 从 商 的 华 人 到 此 落 地 生 根, 几 百 年 来 华 人 在 此 繁 衍 生 息, 形 成 一 个 繁

越 南 会 安 HoiAn 城 市 夜 景 会 安 会 安 是 越 南 最 早 的 华 埠, 是 越 南 华 侨 聚 居 最 多 的 地 方 早 在 17 世 纪 时 就 有 不 少 从 商 的 华 人 到 此 落 地 生 根, 几 百 年 来 华 人 在 此 繁 衍 生 息, 形 成 一 个 繁 越 南 会 安 HoiAn 城 市 夜 景 会 安 会 安 是 越 南 最 早 的 华 埠, 是 越 南 华 侨 聚 居 最 多 的 地 方 早 在 17 世 纪 时 就 有 不 少 从 商 的 华 人 到 此 落 地 生 根, 几 百 年 来 华 人 在 此 繁 衍 生 息, 形 成 一 个 繁 荣 昌 盛 的 华 人 社 区 会 安 华 人 会 馆 非 常 多, 有 中 华 会 馆 潮 州 会

More information

10月份茶訊.doc

10月份茶訊.doc 十 月 份 目 錄 : 封 面 : 台 灣 茶 業 考 察 團 訪 問 越 南 茶 研 所 封 面 內 頁 : 台 灣 區 製 茶 工 業 同 業 公 會 越 南 考 察 紀 實 一 台 灣 區 製 茶 工 業 同 業 公 會 越 南 考 察 之 旅 二 綠 茶 提 取 物 兒 茶 素 及 egcg 的 功 能 和 發 展 狀 況 三 天 氣 導 致 中 國 茶 葉 出 口 銳 減 四 上 半 年

More information

What s On Working Together to Enhance Multiculturalism Author: Jillian Pan Australia is multicultural and we are part of it. Thanks to Office of Multi

What s On Working Together to Enhance Multiculturalism Author: Jillian Pan Australia is multicultural and we are part of it. Thanks to Office of Multi Chung Wah Community & Aged Care Quarterly Newsletter Apr 2015 Issue 24 Living Stronger 中华社区与长者服务 Hội Chung Wah Chăm Sóc Cộng Đồng & Cao Niên A Better Community for All (08) 9328 3988 www.chungwahcac.org.au

More information

Microsoft Word - Bai 4. Cam Tu Tai.doc

Microsoft Word - Bai 4. Cam Tu Tai.doc :2011 VNU Journal of Science, Foreign Languages 27 (2011) 185-191 越 南 河 内 国 家 大 学 下 属 外 语 大 究 生 院 越 南 学 生 汉 语 言 文 化 教 学 方 法 微 观 谈 摘 要 越 汉 语 教 学 离 不 开 文 化 收 的 稿 教 日 学 期 年 月 日 琴 教 师 秀 要 才 掌 * 握 比 较 丰 富 的

More information

第 2 集 客 家 媳 婦 - 蕾 妮 絲 外 籍 客 家 媳 婦 拉 丁 客 家 一 家 親 從 多 明 尼 加 嫁 來 台 灣 15 年 的 客 家 媳 婦 蕾 妮 絲, 客 家 話 聽 說 不 成 問 題, 要 做 一 桌 客 家 菜, 還 有 自 製 菜 單, 沒 在 怕 的, 家 裡 隨

第 2 集 客 家 媳 婦 - 蕾 妮 絲 外 籍 客 家 媳 婦 拉 丁 客 家 一 家 親 從 多 明 尼 加 嫁 來 台 灣 15 年 的 客 家 媳 婦 蕾 妮 絲, 客 家 話 聽 說 不 成 問 題, 要 做 一 桌 客 家 菜, 還 有 自 製 菜 單, 沒 在 怕 的, 家 裡 隨 第1集 料理達人-王毅鴻 創意料理 無國界分享 擁有 15 年料理經驗的王毅鴻 從小不愛唸書 貸款 130 萬在民生東 路上開了僅容納 20 多人的居酒屋 專賣自己研發的創作料理 而後 轉戰高檔餐廳林立的大直地區貸款 600 萬開餐廳 融合了西式 日式 中式 台式等元素 讓創意沒有侷限 美味更可以跨界 每日一句 看起來都很好吃 客語讀音 看著都當好食 客語拼音 kon doˋdu dongˊhoˋsiid

More information

Microsoft Word - TT_04053000037

Microsoft Word - TT_04053000037 1 现 代 汉 语 转 折 句 群 研 究 Nghiên cứu cụm câu biểu thị quan hệ tương phản trong tiếng Hán hiện đại. Luận văn ThS. Ngôn ngữ học: 60 22 10 前 言 现 代 汉 语 由 研 究 语 言 较 小 的 单 位 词 法 句 法, 逐 步 研 究 语 言 较 大 的 单 位 句 群 章

More information

A Study on Biographical Folklores and the Apotheosis of Local Deities using Han-Viet Texts -- Phu Dong Thien Vuong as Example Cheng A-Tsai Professor,

A Study on Biographical Folklores and the Apotheosis of Local Deities using Han-Viet Texts -- Phu Dong Thien Vuong as Example Cheng A-Tsai Professor, 2007 7 153-186 153 A Study on Biographical Folklores and the Apotheosis of Local Deities using Han-Viet Texts -- Phu Dong Thien Vuong as Example Cheng A-Tsai Professor, Department of Literature, Nan-hua

More information

2 前 言 0.1 选 题 理 由 听 力 是 个 非 常 重 要 的 技 能 之 一 每 一 位 汉 语 教 师 都 希 望 有 很 多 参 考 资 料 来 训 练 学 生 从 而 提 高 他 们 的 听 力 能 力 目 前, 我 校 对 学 生 进 行 汉 语 听 力 教 学 所 使 用 的 教

2 前 言 0.1 选 题 理 由 听 力 是 个 非 常 重 要 的 技 能 之 一 每 一 位 汉 语 教 师 都 希 望 有 很 多 参 考 资 料 来 训 练 学 生 从 而 提 高 他 们 的 听 力 能 力 目 前, 我 校 对 学 生 进 行 汉 语 听 力 教 学 所 使 用 的 教 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG --------------------------- KHOA NGOẠI NGỮ ISO 9001:2008 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG 汉 语 听 力 教 程 ( 第 一 册 ) 的 辅 助 练 习 Biên soạn bài tập nghe bổ trợ giáo trình

More information

Microsoft Word - 印.越.英文照護手冊_檔一_.doc

Microsoft Word - 印.越.英文照護手冊_檔一_.doc 目 錄 頁數 A. 留置尿管的居家照顧. Cách chăm sóc bệnh nhân có gài niệu quản đường tiểu tại gia B. 管灌飲食. Ống nhồi thức ăn C. 蒸氣吸入 姿位引流 背部扣擊. 6 Hấp thụ hơi nước, tư vị dẫn lưu, cách úp vỗ lưng D. 抽痰的方法.7 Phương pháp hút

More information

Mixtions Pin Yin Homepage

Mixtions Pin Yin Homepage an tai yin 安 胎 饮 775 ba wei dai xia fang 八 味 带 下 方 756 ba zhen tang 八 珍 汤 600 ba zheng san 八 正 散 601 bai he gu jin tang 百 合 固 金 汤 680 bai hu jia ren shen tang 白 虎 加 人 参 汤 755 bai hu tang 白 虎 汤 660 bai

More information

现代汉语介词“给”研究 (与越南语介词“cho”对比 ) - 陶氏清娥

现代汉语介词“给”研究	(与越南语介词“cho”对比  ) - 陶氏清娥 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU GIỚI TỪ 给 TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI (So sánh với giới từ cho trong tiếng Việt) 现 代 汉 语 介 词 给 研 究 ( 与 越 南 语

More information

中 越 两 国 的 陆 地 边 界 线 长 约 1353 公 里, 处 于 边 境 的 县 市, 中 国 一 侧 是 广 西 的 防 城 港 宁 明 凭 祥 龙 州 大 新 靖 西 那 坡, 云 南 的 富 宁 麻 栗 坡 马 关 河 口 金 平 绿 春 江 城 等 14 个 县 市 ; 越 南 一

中 越 两 国 的 陆 地 边 界 线 长 约 1353 公 里, 处 于 边 境 的 县 市, 中 国 一 侧 是 广 西 的 防 城 港 宁 明 凭 祥 龙 州 大 新 靖 西 那 坡, 云 南 的 富 宁 麻 栗 坡 马 关 河 口 金 平 绿 春 江 城 等 14 个 县 市 ; 越 南 一 探 田 裁 之 涌 中 国 束 南 7~7 大 隆 部 份 国 境 地 域 亿 扣 ~t 7., 荡 民 族 文 化 η 勤 írn.l 国 立 民 族 学 博 物 鲸 稠 查 辍 告 63:9-32(2ω6) 中 越 中 老 跨 国 境 民 族 研 究 范 宏 贵 广 西 民 族 大 学 导 论 2 中 老 两 国 的 跨 国 境 民 族 l 中 越 两 国 的 跨 国 境 民 族 3 改 革 开

More information

教 育 培 训 部 升 龙 大 学 毕 业 论 文 论 文 题 目 : 现 代 汉 语 可 能 补 语 研 究 NGHIÊN CỨU VỀ BỔ NGỮ KHẢ NĂNG TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 学 生 : 邓 氏 秋 莲 学 生 号 码 :A17712 专 业 : 汉 语

教 育 培 训 部 升 龙 大 学 毕 业 论 文 论 文 题 目 : 现 代 汉 语 可 能 补 语 研 究 NGHIÊN CỨU VỀ BỔ NGỮ KHẢ NĂNG TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 学 生 : 邓 氏 秋 莲 学 生 号 码 :A17712 专 业 : 汉 语 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ----o0o----- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VỀ BỔ NGỮ KHẢ NĂNG TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 现 代 汉 语 可 能 补 语 研 究 SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐẶNG THỊ THU LIÊN

More information

越南經貿暨投資環境

越南經貿暨投資環境 越 南 經 貿 暨 投 資 環 境 參 考 資 料 駐 胡 志 明 市 辦 事 處 經 濟 組 編 輯 336 Nguyen Tri Phuong St., Dist 10, HCMC Tel : 84-8-38349196; 38349160~65 Fax : 84-8-38349166 Email: hochiminh@moea.gov.tw Website : www.tecohcm.org.vn

More information

<C3C0B5A7A5CDAAE16C6162656C20A657B3E666696E616C2E786C73>

<C3C0B5A7A5CDAAE16C6162656C20A657B3E666696E616C2E786C73> 1A 2 CHEUNG PUI SHAN 張 佩 珊 面 具 設 計 1A 6 KWAN HO YI 關 可 宜 可 愛 的 動 物 1A 11 YAU YU TING 邱 于 婷 可 愛 的 動 物 1A 11 YAU YU TING 邱 于 婷 面 具 設 計 1A 21 SZETO FU CHUN 司 徒 富 俊 可 愛 的 動 物 1A 22 WONG MAN KIT 黃 文 傑 可 愛 的

More information

Microsoft Word - 62_02

Microsoft Word - 62_02 亞 太 研 究 論 壇 第 62 期 (2016.06), pp. 5 32 中 央 研 究 院 人 文 社 會 科 學 研 究 中 心 亞 太 區 域 研 究 專 題 中 心 二 次 世 界 大 戰 以 來 北 越 華 人 社 會 之 變 貌 許 文 堂 * 摘 要 由 越 南 歷 次 的 全 國 人 口 統 計 資 料 可 知, 自 1979 年 以 降, 越 北 華 人 人 口 流 動 變 化

More information

<4D6963726F736F667420576F7264202D20ABC8BB79A4CEABC8AE61A4E5BEC73939A6A8AA47B3F8A769AED12E646F63>

<4D6963726F736F667420576F7264202D20ABC8BB79A4CEABC8AE61A4E5BEC73939A6A8AA47B3F8A769AED12E646F63> 行 政 院 客 家 委 員 會 輔 助 大 學 校 院 發 展 客 家 學 術 機 構 99 年 度 補 助 辦 理 開 設 深 化 客 家 語 言 及 文 化 通 識 課 程 計 畫 子 計 畫 一 客 語 及 客 家 文 學 成 果 報 告 書 校 內 計 畫 編 號 :98-R&D(A)-025 計 畫 執 行 期 間 :99 年 03 月 01 日 至 99 年 11 月 30 日 計 畫

More information

é é

é é é é gu chài < > gòu y n zh n y yì z ng d n ruì z hóu d n chán bìn jiu c n z n shuò, chún kòu sh qi n liè sè sh n zhì sb n j ng máo í g bèi q í lì, u ì í ng chàng yào g ng zhèn zhuàn sh hu ti n j,

More information

Đọc Viết điểm và yêu cầu của cá nhân, miêu tả được những sự vật quen thuộc hoặc một số sự việc đơn giản xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Trọng tâm

Đọc Viết điểm và yêu cầu của cá nhân, miêu tả được những sự vật quen thuộc hoặc một số sự việc đơn giản xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Trọng tâm ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN TIẾNG TRUNG KỲ THI SINH VIÊN GIỎI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NĂM 2016 I. YÊU CẦU 1. Yêu cầu về kiến thức ngôn ngữ Kiến thức Ngữ âm Chữ và từ Ngữ pháp Miêu tả yêu cầu 1. Có kiến thức nhất định

More information

Microsoft Word - Tin den tu Ly Thien 老師的愛與叮嚀徐講師禎美.doc

Microsoft Word - Tin den tu Ly Thien 老師的愛與叮嚀徐講師禎美.doc 濟公老師的愛與慈悲叮嚀 來自理天的消息 Tin đến từ Lý Thiên 濟公老師的愛與慈悲叮嚀 Tình thương của Thầy Tế Công và lời căn dặn từ bi ( 徐禎美 Từ Chinh Mỹ ) 我們都知道人生 無常, 但唯有經歷過才知其無情與可怕 ; 我們都明瞭天恩師德的廣大無邊, 但也只有體驗過才知其浩瀚, 竟非語言可描述, 感動之深刻可令人迴盪心中,

More information

2 汉 语 和 越 南 语 形 容 词 的 体 7 8 9 10 11 父 之 父 祖 父 祖 大 父 故 祖 父 显 祖 考 母 之 父 翁 外 祖 父 祖 母 祖 母 祖 母 大 母 故 祖 母 显 祖 妣 王 父 祖 祖 父 祖, 王 父, 大 父, 祖 君, 公, 翁, 翁 翁, 太 翁 阿

2 汉 语 和 越 南 语 形 容 词 的 体 7 8 9 10 11 父 之 父 祖 父 祖 大 父 故 祖 父 显 祖 考 母 之 父 翁 外 祖 父 祖 母 祖 母 祖 母 大 母 故 祖 母 显 祖 妣 王 父 祖 祖 父 祖, 王 父, 大 父, 祖 君, 公, 翁, 翁 翁, 太 翁 阿 1 汉 语 和 越 南 语 形 容 词 的 体 19 世 纪 越 南 文 献 中 汉 语 亲 属 称 谓 研 究 TS. Lê Quang Sáng Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội 摘 要 :19 世 纪 越 南 文 献 中 亲 属 称 谓 主 要 是 古 代 汉 语 的 书 面 语 称 谓, 与 中 国 19 世 纪 的 称 谓 相 比, 其 发 展 要 晚

More information

Fats and Oils VN CN

Fats and Oils VN CN Serving the mental health needs & promoting wellbeing of people from Vietnam Hội Tâm Thần Việt Nam 越 南 心 理 保 健 服 務 Chất Béo 脂 肪 Fats and Oils Bác sĩ Nguyễn Xuân Cẩm biên soạn Lời xin phép trước Kính gởi

More information

Slide 1

Slide 1 建兴越南建设发展责任有限公司 Công ty TNHH Phát Triển Xây Dựng Việt Nam Kiến Hưng 简 报 Hồ sơ năng lực 二 0 一四年十一月 Tháng 11 năm 2014 目录 MỤC LỤC 一 集团公司企业简介 Giới thiệu về công ty tập đoàn 二 质量安全保证措施 Biện pháp đảm bảo an toàn

More information

jiàn shí

jiàn shí jiàn shí hào x n càn w i huàng ji zhèn yù yàng chèn yù bì yuàn ji ng cóng (11) qiàn xué 1 yì bì èi zhé mó yù ù chái sè bá píng sh chài y l guàn ch n shì qí fú luè yáo d n zèn x yì yù jù zhèn

More information

文, 副 教 授, 黎 文 寝 老 师 和 我 ( 杜 氏 明 硕 士 ) 用 越 南 语 写 的 弓 码 QN-ÍU-15 标 题 为 汉 语 里 文 化 与 越 汉 语 教 学 ( 以 邓 懿 等 编 著 的 汉 语 初 级 教 程 为 研 究 基 础 ) 是 头 一 次 涉 及 到 这

文, 副 教 授, 黎 文 寝 老 师 和 我 ( 杜 氏 明 硕 士 ) 用 越 南 语 写 的 弓 码 QN-ÍU-15 标 题 为 汉 语 里 文 化 与 越 汉 语 教 学 ( 以 邓 懿 等 编 著 的 汉 语 初 级 教 程 为 研 究 基 础 ) 是 头 一 次 涉 及 到 这 : 汉 - 越 语 文 化 因 素 差 异 初 探 以 一 年 级 汉 语 教 程 为 例 Thử bàn về sự khác biệt yếu tố văn hoá giữa tiếng Việt - tiếng Hán (dựa trên ngữ liệu giáo trình tiếng Hán năm thứ nhất) 杜 R 明 河 内 国 家 大 学 下 属 外 国 语 大 学 中

More information

越 南 經 貿 投 資 座 談 會 ( 台 中 場 ) 越 南 計 劃 投 資 部 外 國 投 資 局 阮 內 副 局 長 訂 於 2015 年 10 月 日 至 22 日 率 領 越 南 工 業 區 訪 問 團 至 台 灣 為 能 讓 國 內 企 業 瞭 解 越 南 經 濟 發 展 現 況, 特

越 南 經 貿 投 資 座 談 會 ( 台 中 場 ) 越 南 計 劃 投 資 部 外 國 投 資 局 阮 內 副 局 長 訂 於 2015 年 10 月 日 至 22 日 率 領 越 南 工 業 區 訪 問 團 至 台 灣 為 能 讓 國 內 企 業 瞭 解 越 南 經 濟 發 展 現 況, 特 越 南 經 貿 投 資 座 談 會 ( 台 北 場 ) 越 南 計 劃 投 資 部 外 國 投 資 局 阮 內 副 局 長 訂 於 2015 年 10 月 日 至 22 日 率 領 越 南 工 業 區 訪 問 團 至 台 灣 為 能 讓 國 內 企 業 瞭 解 越 南 經 濟 發 展 現 況, 特 舉 辦 本 場 座 談 會, 將 與 台 灣 企 業 進 行 交 流 本 次 講 座 除 由 阮 內

More information

六月天公日頭會咬人 毋使停動 汗就 跌 無冷氣个灶下像火爐樣仔喊 hem 燒 13 還較毋使講愛出力來亼麵粉 兩下半乜一身 無人迫 潦像洎趣鳥 14 樣仔 講老實話 又 做 仰會恁好 hau 得著 實在係緊亼緊測 等佢發 放佢蒸个這當中 毋 單淨拈轉盡多還記在腦屎肚項个東西 勾挽起盡多老頭擺 心肝頭

六月天公日頭會咬人 毋使停動 汗就 跌 無冷氣个灶下像火爐樣仔喊 hem 燒 13 還較毋使講愛出力來亼麵粉 兩下半乜一身 無人迫 潦像洎趣鳥 14 樣仔 講老實話 又 做 仰會恁好 hau 得著 實在係緊亼緊測 等佢發 放佢蒸个這當中 毋 單淨拈轉盡多還記在腦屎肚項个東西 勾挽起盡多老頭擺 心肝頭 客家語散文社會組第一名 尋 味 今年熱天 學曉做饅頭哩哦 唉哦 仰會恁大面神 1 得著 2 會做饅頭 又毋係麼个幾風神个事情 愛使恁奢鼻拿 出來展 這確實無麼个好展 毋過係想 自家恁毋壁 竟然有才調實際動手去摎一項耗時又 耗工个事情做好 做成功 在這當中自家有學著恁多麼个 愐想著恁多麼个 愛摎佢講 出來就有影 這 恁 多 年來緊擗 3 出食安問題 實在聽到人會發屎驚 4 麼个毒乳粉 翻鑊油 5 混

More information

<4D F736F F F696E74202D20B3CDBCBBBDC3AF44A662B656AB6EAABAB867C0E7B5A6B2A >

<4D F736F F F696E74202D20B3CDBCBBBDC3AF44A662B656AB6EAABAB867C0E7B5A6B2A > Specialized in ceramic sanitary wares 衛 浴 設 備 在 越 南 的 經 營 策 略 The World-First Quality Sanitary Wares 大 綱 1. 2. 3. 4. 越 南 市 場 概 況 越 南 衛 浴 市 場 介 紹 凱 撒 衛 浴 公 司 簡 介 越 南 衛 浴 產 業 之 經 營 策 略 越 南 基 本 資 料 (1) 面

More information

Microsoft Word - 104-2免試地區錄取名單.doc

Microsoft Word - 104-2免試地區錄取名單.doc 海 外 聯 合 招 生 委 員 會 公 告 發 文 日 期 : 中 華 民 國 104 年 5 月 15 日 發 文 字 號 : 海 聯 試 字 第 1040000327C 號 主 旨 : 公 告 104 學 年 度 第 2 梯 次 一 般 地 區 ( 含 歐 洲 美 洲 非 洲 大 洋 洲 及 其 它 免 試 地 區 ) 僑 生 及 港 澳 學 生 赴 臺 升 讀 大 學 校 院 錄 取 名 單

More information

<4D F736F F D DADD7AEFCB3B0BCD2C0C0B8D5C3445FA5D25FA4CEB8D1B5AA E646F63>

<4D F736F F D DADD7AEFCB3B0BCD2C0C0B8D5C3445FA5D25FA4CEB8D1B5AA E646F63> 97 年 度 客 語 能 力 認 證 中 級 暨 中 高 級 考 試 模 擬 試 題 ( 甲 ) 筆 試 答 案 卷 ( 海 陸 腔 ) 請 考 生 務 必 閱 讀 考 試 說 明 後, 再 行 作 答 說 明 : 筆 試 題 目 卷, 分 做 五 種 題 型 : 第 一 種 係 音 標 測 驗, 第 二 種 係 詞 彙 測 驗, 第 三 種 係 文 義 測 驗, 第 四 種 係 篇 章 結 構,

More information

<4D6963726F736F667420576F7264202D203130342DADBBB4E4A447A67EA8EEBEC7A468AF5ABFFDA8FAA657B3E62E646F63>

<4D6963726F736F667420576F7264202D203130342DADBBB4E4A447A67EA8EEBEC7A468AF5ABFFDA8FAA657B3E62E646F63> 海 外 聯 合 招 生 委 員 會 公 告 發 文 日 期 : 中 華 民 國 104 年 5 月 22 日 發 文 字 號 : 海 聯 試 字 第 1040000337C 號 主 旨 : 公 告 香 港 學 生 申 請 來 臺 升 讀 104 學 年 度 二 年 制 學 士 班 錄 取 名 單 依 據 : 一 香 港 澳 門 居 民 來 臺 就 學 辦 法 第 7 條 規 定 臺 教 技 ( 四

More information

CONTENTS 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 104 1-6 Alan Tsai PAULIN 31 ANTONIO Angel, DAVID J. WITCHGER 2-98, Emily, H B LAFORTUNE, HAEDIK VIVDE, HENRY WEINER,

More information

图6-1 广西大新壮族传统服饰男装 图片来源 隆林县壮族男性头巾有黑白两种 长约两米 两端有约 10 厘米的流苏垂 下 式样和长短 缠绕方法与妇女的包头巾一样 头巾都是自织自染

图6-1 广西大新壮族传统服饰男装 图片来源  隆林县壮族男性头巾有黑白两种 长约两米 两端有约 10 厘米的流苏垂 下 式样和长短 缠绕方法与妇女的包头巾一样 头巾都是自织自染 第 六 章 服饰文化是人类生活需要和审美需求的综合体现 从头至脚处处都具体地 展示着人类的生产生活水平并且彰显出大到整个民族, 小到个人的审美信仰 在民族文化中具有标志性的地位 是记录民族发展和变迁不可或缺的载体 在 中越壮侬岱泰这样有着悠久而复杂历史背景的民族中更显得尤其重要 第一节 男装 中越壮侬岱泰男性服饰与这些民族的女装相比 显得单调许多 不仅很少 显示出年龄特点 常服与盛装区别不明显 而且地区差异也不大

More information

目 录 About Ha Noi 关 于 河 内 P03 关 于 河 内 P04 从 数 字 看 河 内 Before the Trip 行 前 计 划 P05 最 佳 出 游 时 间 P08 最 优 住 宿 推 荐 P11 最 佳 交 通 工 具 古 老 的 河 内 一 座 优 美 且 安 静 的

目 录 About Ha Noi 关 于 河 内 P03 关 于 河 内 P04 从 数 字 看 河 内 Before the Trip 行 前 计 划 P05 最 佳 出 游 时 间 P08 最 优 住 宿 推 荐 P11 最 佳 交 通 工 具 古 老 的 河 内 一 座 优 美 且 安 静 的 HA NOI 河 内 骆 驼 书 Top5 经 典 美 食 精 彩 纷 呈 / 美 食 购 物 之 旅 TOP4 咖 啡 集 中 地 探 索 神 秘 / 历 史 文 化 之 旅 城 市 系 列 City Guide guide.qunar.com Qunar 骆 驼 书 01 目 录 About Ha Noi 关 于 河 内 P03 关 于 河 内 P04 从 数 字 看 河 内 Before the

More information

目 錄 第 一 課 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 認 識 注 音 符 號 及 數 字 Bài 1 Nhâ n biê t ky hiê u chu âm và chư sô 第 二 課 7 自 我 介 紹 ( 上 ) 我 的 家 Bài 2

目 錄 第 一 課 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 認 識 注 音 符 號 及 數 字 Bài 1 Nhâ n biê t ky hiê u chu âm và chư sô 第 二 課 7 自 我 介 紹 ( 上 ) 我 的 家 Bài 2 第一冊 z-ww456-1-6-a.indd 1 2013/6/7 下午 05:39:41 目 錄 第 一 課 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 認 識 注 音 符 號 及 數 字 Bài 1 Nhâ n biê t ky hiê u chu âm và chư sô 第 二 課 7 自 我 介 紹 ( 上 ) 我 的 家 Bài 2 Tư giơ

More information

Fortis Hoan My Tan Binh Clinic 04 Hoang Viet St., Tan Binh District, HCMC 电话 (+84) Fortis Hoan My Medical Corporation Nguyen Cong Tr

Fortis Hoan My Tan Binh Clinic 04 Hoang Viet St., Tan Binh District, HCMC 电话 (+84) Fortis Hoan My Medical Corporation Nguyen Cong Tr 越南地区网络医院 Notes: 1. For all members, the Insurer will not accept claims for treatment received at the following providers, or from physicians affiliated with such providers: Asia Sports / Asia Medical Specialists

More information

: ) khgit 31 ai 33 ni 33 khum 31 sa 33 sa 55!! ( ) gai 33 phgo 31 ai 33 pg 33 log 33 n 55 ga 31 n 31 gai 33 ( ) ai 33 1 gi 33 khai 31 ai 33 mau 31 mui

: ) khgit 31 ai 33 ni 33 khum 31 sa 33 sa 55!! ( ) gai 33 phgo 31 ai 33 pg 33 log 33 n 55 ga 31 n 31 gai 33 ( ) ai 33 1 gi 33 khai 31 ai 33 mau 31 mui 1998 4,,,,,,, ai 33 a 31 na 55,,,, ai 33 : ai 33 1 1. ai 33 1 :, : 4 : ) khgit 31 ai 33 ni 33 khum 31 sa 33 sa 55!! ( ) gai 33 phgo 31 ai 33 pg 33 log 33 n 55 ga 31 n 31 gai 33 ( ) ai 33 1 gi 33 khai 31

More information

企業實習報告

企業實習報告 越文版 國立高雄大學 企業實習報告 實習機構 : 衡美責任有限公司 實習期間 :2013/07/05-2013/08/30 系級 : 東亞語文學系 103 級學號 :A0991706 姓名 : 劉彥欐指導老師 : 阮氏美香老師 目錄 一 實習機構之介紹... 3 ( 一 ) 企業背景及經營規模 ( 二 ) 主要業務及市場 ( 三 ) 組織體系 二 實習工作內容... 4 ( 一 ) 實習單位簡介 (

More information

ti2 guan4 bo1 bo5 huai4 zheng4 hong1 xi2 luo2 ren4

ti2 guan4 bo1 bo5 huai4 zheng4 hong1 xi2 luo2 ren4 hui1 ba2 shang1 tu4 gen1 nao3 he2 qing2 jin1 ti2 guan4 bo1 bo5 huai4 zheng4 hong1 xi2 luo2 ren4 chu2 fu4 ling2 jun4 yu4 zhao1 jiang3 che3 shi4 tu2 shi2 wa2 wa1 duan4 zhe2 bu4 lian4 bing1 mu4 ban3 xiong2

More information

该 奈 自 受 PZ 多 透 soc i e B t h y. y t is NA YL OR exp os ed t h a t b e i n g wh o res or sa in t es s e s we r e m ad e n b ot om. M ean wh i l e NA YL

该 奈 自 受 PZ 多 透 soc i e B t h y. y t is NA YL OR exp os ed t h a t b e i n g wh o res or sa in t es s e s we r e m ad e n b ot om. M ean wh i l e NA YL 探 性 通 性 圣 重 ' 颠 并 格 洛 丽 亚 奈 勒 小 说 贝 雷 的 咖 啡 馆 对 圣 经 女 性 的 重 写 郭 晓 霞 内 容 提 要 雷 的 咖 啡 馆 中 权 社 会 支 配 的 女 性 形 象 美 国 当 代 著 名 黑 人 女 作 家 格 洛 丽 亚 过 对 6 个 圣 经 女 性 故 事 的 重 写 奈 勒 在 其 小 说 贝 覆 了 圣 经 中 被 父 揭 示 了 传 统

More information

1 yáo zhuàn jué gu zài liè r sh ng xué yíng ch jié jù rèn g wù yú qiè yàng huán P9 líng luò jiàn sh ng y ku liàn r shàn dùn sì lièlièqièqiè rèn zhù yìj yíng guà dí yú bò chu n láng huán dù xià

More information

诗 经 简介 诗经 是中国第一部诗歌总集 它汇集了从西周初年到春秋中期 五百多年间的诗歌三百零五篇 诗经 在先秦叫做 诗 或者取诗的 数目整数叫 诗三百 本来只是一本诗集 从汉代起 儒家学者把 诗 当作经典 尊称为 诗经 列入 五经 之中 它原来的文学性质就 变成了同政治 道德等密切相连的教化人的教

诗 经 简介 诗经 是中国第一部诗歌总集 它汇集了从西周初年到春秋中期 五百多年间的诗歌三百零五篇 诗经 在先秦叫做 诗 或者取诗的 数目整数叫 诗三百 本来只是一本诗集 从汉代起 儒家学者把 诗 当作经典 尊称为 诗经 列入 五经 之中 它原来的文学性质就 变成了同政治 道德等密切相连的教化人的教 诗经 目录 诗经 简介 国风 关睢 葛覃 卷耳 螽斯 桃夭 阿芣苢 汉广 汝坟 鹊巢 采蘩 草虫 甘棠 行露 摽有梅 小星 江有汜 野有死麕 驺虞 柏舟 绿衣 燕燕 日 月 击鼓 凯风 雄雉 匏有苦叶 谷风 式微 简兮 泉水 北门 静女 二子 乘舟 柏舟 墙有茨 相鼠 载驰 考磐 硕人 芄兰 氓 河广 有狐 木瓜 黍离 君子阳阳 葛蕉 采葛 大车 将仲子 叔于田 遵大路 女曰鸡鸣 有 女同车 狡童

More information

Microsoft Word - 文件3

Microsoft Word - 文件3 九畫 便 pan5 宜 gi5 毋捌飽(p426) 解釋 便 pan5 宜 gi5 廉價 毋捌 不知道 涵義 形容人貪心不知足 對應華語 貪得無厭 貪心不足 便 pan5 宜 gi5 物 mih8 通食 便宜話毋通講 解釋 物 mih8 東西 便 pan5 宜 gi5 話 不負責任的話 毋通 thang1 不可以 涵義 勸誡人說話要謹慎 對應華語 東西可以亂吃 話不可以亂講 便所彈吉他 臭彈 解釋

More information

<People>

<People> 2016 年 6 月 Vol.57 提 供 给 居 住 在 姬 路 的 外 国 人 的 生 活 信 息 杂 志 人 物 采 访 P1 漫 步 网 干 街 头 P2,3 个 人 编 号 ( 昵 称 My number) 常 见 问 题 P4,5 通 知 P6 发 行 公 益 財 团 法 人 姬 路 市 文 化 国 际 交 流 财 团 信 息 杂 志 编 辑 志 愿 者 小 组 http://www.himeji-iec.or.jp/

More information

Microsoft Word - 文件6

Microsoft Word - 文件6 十 七 畫 袂 仙 假 仙, 牛 lan7 假 鹿 鞭 (p888) 解 釋 袂 仙 假 仙 : 指 自 己 不 是 仙 人, 卻 冒 充 成 仙 人 的 樣 子, 亦 即 不 懂 裝 懂 之 意 牛 lan7: 公 牛 的 生 殖 器 官 鹿 鞭 : 公 鹿 的 生 殖 器 官 涵 義 說 明 人 根 本 不 了 解 某 事 物, 卻 硬 要 裝 懂 對 應 華 語 不 懂 裝 懂 自 作 聰 明

More information

谈 蝌 蚪 ⑴ * 太 田 斋 1. 蝌 蚪 关 于 蝌 蚪 读 音 的 研 究, 已 有 魏 建 功 先 生 的 鸿 文 科 斗 说 音 ( 女 师 大 学 术 季 刊 2 卷 2 期,1931) 笔 者 并 无 意 图 对 此 加 以 评 论 本 文 用 和 魏 先 生 不 同 的 方 法 来

谈 蝌 蚪 ⑴ * 太 田 斋 1. 蝌 蚪 关 于 蝌 蚪 读 音 的 研 究, 已 有 魏 建 功 先 生 的 鸿 文 科 斗 说 音 ( 女 师 大 学 术 季 刊 2 卷 2 期,1931) 笔 者 并 无 意 图 对 此 加 以 评 论 本 文 用 和 魏 先 生 不 同 的 方 法 来 谈 蝌 蚪 ⑴ * 太 田 斋 1. 蝌 蚪 关 于 蝌 蚪 读 音 的 研 究, 已 有 魏 建 功 先 生 的 鸿 文 科 斗 说 音 ( 女 师 大 学 术 季 刊 2 卷 2 期,1931) 笔 者 并 无 意 图 对 此 加 以 评 论 本 文 用 和 魏 先 生 不 同 的 方 法 来 对 现 代 北 方 方 言 蝌 蚪 的 对 应 词 进 行 分 析 具 体 来 说, 先 分 成 几

More information

fa 5 ta 5 t ie 5 io 5 fa 55 ta 55 t ie 55 io 55 t i 5 i 5 t u 5 5 t t u t n 31 t 31 t a t an 31 t y 31 t an k i 53 21na t

fa 5 ta 5 t ie 5 io 5 fa 55 ta 55 t ie 55 io 55 t i 5 i 5 t u 5 5 t t u t n 31 t 31 t a t an 31 t y 31 t an k i 53 21na t 50 y u y u t 213 t 31 t y 213 t y y 31 t u 213 t u u 31 t n 31 t n n 55 t yn 31 t yn yn 55 t u n 31 t u n un 55 n n u n n t n 53 t n n n to 31 to no ku n 53 xu n u n 31 53 xo uo 31 t n n n 53 t io io io

More information

Một số Yết hậu ngữ tiếng Trung - 若干汉语歇后语

Một số Yết hậu ngữ tiếng Trung - 若干汉语歇后语 Một số Yết hậu ngữ tiếng Trung - 若 干 汉 语 歇 后 语 Yết hậu ngữ là một loại hình ngôn ngữ đặc biệt được người dân sáng tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn. MỘT SỐ YẾT HẬU NGỮ THƯỜNG GẶP TRONG HÁN NGỮ

More information

客家文化事典 907 徐府竹仔閣 qiˇfuˋzugˋeˇgogˋ toiˇvanˇcamˇngiab vunˇfa gonˋ 907 桂花巷 gui fa hong 922 銅鑼大草原 tungˇloˇtai co ngienˇ 908 泰安溫泉區 tai on vun qienˇki 922 銅

客家文化事典 907 徐府竹仔閣 qiˇfuˋzugˋeˇgogˋ toiˇvanˇcamˇngiab vunˇfa gonˋ 907 桂花巷 gui fa hong 922 銅鑼大草原 tungˇloˇtai co ngienˇ 908 泰安溫泉區 tai on vun qienˇki 922 銅 苗栗縣旅遊觀光 第貳拾類 苗栗縣旅遊觀光 二劃 879 八角崠登山步道 892 向天湖 hiong tien fuˇ 893 竹南濱海森林公園 zugˋnamˇbinˊhoiˋsemˊlimˇgungˊienˇ badˋgogˋdungˋden san pu to 879 八卦力部落 badˋgua lid pu log 三劃 880 三義木雕博物館 893 竹南啤酒廠 zugˋnamˇpiˇjiuˋcongˋ

More information

j n yín

j n yín ch n ài hóng zhuó, j n yín k n sù zh o fù r n xi o qì hái, y oti o sh hàn yàn yuán lí g ng z y ng b niè bì z n r n xi o qì xiè sì m6u yí yàng móu niè z u ch lì, x qu n léi xiè pì x u cu è qi n j qiú yìn

More information

1.(p1-28)越南技職教育體系(九校)7.9.indd

1.(p1-28)越南技職教育體系(九校)7.9.indd 越 南 後 期 中 等 教 育 與 升 學 進 路 設 計 之 分 析 林 志 忠 1 越 南 後 期 中 等 教 育 與 升 學 進 路 設 計 之 分 析 林 志 忠 * 基 於 越 南 後 期 中 等 教 育 發 展 之 不 足, 越 南 始 終 為 我 國 教 育 輸 出 積 極 關 注 的 國 家, 只 可 惜 國 內 對 越 南 技 職 教 育 的 理 解 有 限, 特 別 是 對 其

More information

Microsoft Word - decertrlchinese.doc

Microsoft Word - decertrlchinese.doc 环 境, 生 计 和 地 方 机 制 : 东 南 亚 大 陆 地 区 的 分 权 过 程 ( 综 述 ) * Environment, Livelihoods and Local Institutions: Decentralization in Mainland Southeast Asia Summary 梅 里 杜 帕 尔 纳 森 巴 德 诺 驰 等 / 著 何 俊 许 建 初 / 译 陈 三

More information

目 录 一 在 河 内 最 棒 癿 体 验... 3 1 鲜 榨 青 柠 水, 多 碗 生 牛 河, 新 鲜 越 南 味... 3 2 在 法 国 殖 民 时 期 癿 迷 宫 中 体 会 现 代 河 内 癿 狂 热... 3 3 漫 夛 凤 凰 花 下 看 恋 恋 三 季... 3 4 迓 剑 湖

目 录 一 在 河 内 最 棒 癿 体 验... 3 1 鲜 榨 青 柠 水, 多 碗 生 牛 河, 新 鲜 越 南 味... 3 2 在 法 国 殖 民 时 期 癿 迷 宫 中 体 会 现 代 河 内 癿 狂 热... 3 3 漫 夛 凤 凰 花 下 看 恋 恋 三 季... 3 4 迓 剑 湖 1 目 录 一 在 河 内 最 棒 癿 体 验... 3 1 鲜 榨 青 柠 水, 多 碗 生 牛 河, 新 鲜 越 南 味... 3 2 在 法 国 殖 民 时 期 癿 迷 宫 中 体 会 现 代 河 内 癿 狂 热... 3 3 漫 夛 凤 凰 花 下 看 恋 恋 三 季... 3 4 迓 剑 湖 边, 观 如 梦 似 幻 水 上 木 偶... 3 二 河 内 概 况... 4 地 图... 5

More information

Microsoft Word - 草药小册子3 Fix.doc

Microsoft Word - 草药小册子3 Fix.doc 美 联 社 传 统 知 识 记 录 阿 佤 山 食 用 药 用 植 物 项 目 成 果 之 一 阿 佤 山 食 用 药 用 植 物 传 统 知 识 选 编 主 编 : 白 志 红 1 郑 重 声 明 本 册 收 集 和 记 录 的 是 阿 佤 山 民 间 草 医 草 药, 旨 在 为 读 者 提 供 学 习 了 解 传 统 佤 医 佤 药 的 参 考 资 料, 并 非 医 疗 处 方 没 有 医 生

More information

xiè hòu qù fù tiáo pàn xiáng sh ng l huán fú yóu sh n du wán guì d u còu g qiè qì bì j x ng yín dào j ji yòu hàndàn lián tu yín qìn k n * chán zhòu yán yóu kuòy láo jìn jíwéi su

More information

因 味 V 取 性 又 鸟 U 且 最 大 罗 海 惜 梅 理 春 并 贵 K a t h l ee n S c h w e r d t n er M f l e z S e b a s t i a n C A Fe rs e T 民 伊 ' 国 漳 尤 地 视 峰 州 至 周 期 甚 主 第 应

因 味 V 取 性 又 鸟 U 且 最 大 罗 海 惜 梅 理 春 并 贵 K a t h l ee n S c h w e r d t n er M f l e z S e b a s t i a n C A Fe rs e T 民 伊 ' 国 漳 尤 地 视 峰 州 至 周 期 甚 主 第 应 国 ' 东 极 也 直 前 增 东 道 台 商 才 R od e ric h P t ak 略 论 时 期 国 与 东 南 亚 的 窝 贸 易 * 冯 立 军 已 劳 痢 内 容 提 要 国 与 东 南 亚 的 窝 贸 易 始 于 元 代 代 大 规 模 开 展 的 功 效 被 广 为 颂 扬 了 国 国 内 市 场 窝 的 匮 乏 窝 补 虚 损 代 上 流 社 会 群 体 趋 之 若 鹜 食 窝

More information

案 例 手 册 DIS 会 议 解 决 方 案 提 供 无 与 伦 比 的 清 晰 度 DIS 讨 论 和 会 议 解 决 方 案 无 论 是 奥 运 会 还 是 联 合 国, 信 息 共 享 和 决 策 都 仰 仗 清 晰 的 通 讯 DIS 为 全 球 会 议 产 业 提 供 了 可 扩 展 的 高 级 会 议 解 决 方 案 卓 越 的 音 质 凭 借 几 十 年 丰 富 经 验, 持 续

More information

Microsoft Word - 01清華No.14-李惠綿.doc

Microsoft Word - 01清華No.14-李惠綿.doc 清 華 中 文 學 報 第 十 四 期 2015 年 12 月 頁 5-65 國 立 清 華 大 學 中 國 文 學 系 中 原 音 韻 之 異 讀 與 特 殊 音 讀 考 述 兼 以 現 存 元 曲 為 證 * 李 惠 綿 摘 要 周 德 清 (1277-1365) 中 原 音 韻 包 括 十 九 韻 部 及 其 韻 字 ( 簡 稱 韻 譜 ) 和 二 十 七 條 中 原 音 韻 正 語 作 詞

More information

hú sh n y jù tuó qièjuàn m n h n t o lì, zh ng yín pàn yuán j bó yí zhì jié nuò w i ruí túmí du wù jì jiàn yuè qi n zh n t ng 21 yi l ni dàidàng y uè xué w i sì xì, g mà zé shè lú xiáng hé k ol

More information

h ng g ng (tù) rù xiào sì y u k n yòu j j y nyun cu nduo hào cú) ch n yè r nr n sì ku zhuàng k chánnìng w n wéi r é d ng qiáo ch ng kuì ji n zhuó qì chí xiè dú l lil de zào y l chì yín

More information

中越壮侬岱泰族群文化比较研究 文化的重要载体 每次节庆大聚会无不是民族文化的交流和提升 都是民族 文化认同的旗帜和标志 A 第一节 节日的来源与分类 越南的侬族 岱族 泰族与中国的壮族有着共同的民族起源 虽然历史 上由于分化 迁移后受到不同国家 不同地域政治 经济 文化的影响 在社 会生产 生活 文

中越壮侬岱泰族群文化比较研究 文化的重要载体 每次节庆大聚会无不是民族文化的交流和提升 都是民族 文化认同的旗帜和标志 A 第一节 节日的来源与分类 越南的侬族 岱族 泰族与中国的壮族有着共同的民族起源 虽然历史 上由于分化 迁移后受到不同国家 不同地域政治 经济 文化的影响 在社 会生产 生活 文 第十一章 中越壮侬岱泰族群传统节庆文化比较 第 十 一 章 中越壮侬岱泰族群传统节庆文化比较 所谓节庆 是指围绕各类节日而约定俗成 世代相传的文化习俗及其所开 展的相关纪念 庆祝等活动的总称 什么是节庆文化 学者王昱 毕艳君认为 节庆文化是指在特定时间内 某一地区以历史 艺术 宗教 科技 体育等一个或多个文化层面为依托 在 其他相关行业配合下 围绕一个鲜明的主题而举行的固定或非固定的系列文化 活动

More information

國立中山大學學位論文典藏.pdf

國立中山大學學位論文典藏.pdf ( ( 1 1 2 4 6 6 7 19 27 27 34 37 40 48 48 50 56 68 68 68 80 84 107 107 107 114 117 128 131 134 ( 136 ( (1993 1 ( 1993 (1993 2 ( 1993 1 43 3 1993 110 2 43 3 1993 113 1 ( (1989 3 1036 260 256 1036 32104

More information

播 磨 地 区 的 全 年 活 动 3 月 国 际 交 流 春 季 交 流 大 会 4 月 い ー ぐ れ (イーグレ ひめじ) 举 办 在 住 外 国 人 的 日 语 演 讲 比 赛, 还 有 咖 啡 店 展 示 角 等 各 种 各 样 国 际 色 彩 丰 富 的 活 动 姬 路 城 赏 花 (

播 磨 地 区 的 全 年 活 动 3 月 国 际 交 流 春 季 交 流 大 会 4 月 い ー ぐ れ (イーグレ ひめじ) 举 办 在 住 外 国 人 的 日 语 演 讲 比 赛, 还 有 咖 啡 店 展 示 角 等 各 种 各 样 国 际 色 彩 丰 富 的 活 动 姬 路 城 赏 花 ( 提 供 给 居 住 在 姬 路 的 外 国 人 的 生 活 信 息 杂 志 VIVA! 5051 中 文 简 体 播 磨 地 区 的 全 年 活 动 姬 路 市 的 育 儿 支 援 一 般 家 庭 用 垃 圾 收 集 月 历 防 灾 日 语 学 习 咨 询 窗 口 附 录 假 期 及 夜 间 的 急 诊 信 息 收 集 表 ( 请 取 下 使 用 ) 播 磨 地 区 的 全 年 活 动 3 月 国

More information

g ch diào qiu chì j q an zh nèn qú) yù méi xiéhòu dí dàn còu cuò guì k i hé fù pi o xi hu ng z n c z j n hóng s u gu jìyú 213 zhí qi o ji o háng su n ní c

More information

Microsoft Word - 越語工廠常用語.doc

Microsoft Word - 越語工廠常用語.doc 高 雄 大 學 東 亞 語 文 學 系 越 語 工 廠 常 用 語 授 課 老 師 : NGUYỄN THỊ MỸ HƯƠNG NHÀ MÁY/CÔNG XƯỞNG 一 詞 彙 ( 一 ) 辦 公 專 用 詞 Từ chuyên dùng ở văn phòng 1. Nhà máy 工 廠 2. Công ty 公 司 3. Công nhân 工 人 4. Nhân viên 職 員 5. Văn

More information

PDF

PDF # 輕 ZONE 2015 年 10 月 號 輕 ZONE 話 你 知 護 牆 橋 墩 樁 柱 預 製 件 注 意 安 全 注 意 安 全 輕 ZONE 話 你 知 樁 超 過 1800 支 每 支 樁 柱 平 均 約 60-70 米 深, 相 當 於 20 層 樓 宇 的 高 度, 而 部 分 樁 柱 更 會 按 需 要 深 至 100 米, 相 當 於 30 層 樓 宇 高 度 一 條 100

More information

Microsoft Word - 文件4

Microsoft Word - 文件4 五 畫 世 間 三 項 袂 囥 khng3 得 (p201) 解 釋 三 項 : 死 屍 糞 便 長 大 的 女 子 囥 khng3: 放 涵 義 形 容 女 子 長 大 之 後 就 必 須 要 嫁 人, 不 能 再 留 在 家 裡 對 應 華 語 女 長 須 嫁 女 大 難 留 世 間 事 予 你 袂 gau3 得 解 釋 予 hoo7: 給 袂 gau3 得 : 強 求 不 得 涵 義 形 容

More information

Lời nói đầu

Lời nói đầu 目 录 前 言..1 第 一 章 : 新 HSK 与 HSK( 一 二 级 ) 介 绍 3 一 有 关 新 HSK 的 理 论 知 识.3 二 新 HSK 一 二 级 大 纲 4 1. HSK( 一 级 ) 介 绍..4 1.1 考 试 对 象..4 1.2 考 试 内 容..4 1.3 成 绩 报 告..5 1.4 HSK( 一 级 ) 样 卷..5 2. HSK( 二 级 ) 介 绍 9 2.1

More information

Microsoft Word - JB-QBL-MN300_5039130516_2_.doc

Microsoft Word - JB-QBL-MN300_5039130516_2_.doc 火 灾 报 警 控 制 器 ( 联 动 型 ) JB-QBL-MN/300 目 录 一 概述... 1 二 操作说明... 2 三 外形及安装尺寸... 20 四 接线图... 23 五 主要技术参数... 25 六 注意事项... 27 七 拼音查找汉字区位码表... 31 一 概述 JB-QBL-MN/300 是新型模拟量火灾报警控制器 具有 324 个报警控制点 探测器/模块全 混编 无极性

More information

mò bì j n n i shang qìng yè j n chuò t o jì píx u xi o g n ch q qú q xu n hé w yàng q qi o f dào juéjiàng qi n sh mò y u i

More information

I 宋 出 认 V 司 秋 通 始 司 福 用 今 给 研 除 用 墓 本 发 共 柜 又 阙 杂 既 * *" * " 利 牙 激 I * 为 无 温 乃 炉 M S H I c c *c 传 统 国 古 代 建 筑 的 砺 灰 及 其 基 本 性 质 a 开 始 用 牡 壳 煅 烧 石 灰 南

I 宋 出 认 V 司 秋 通 始 司 福 用 今 给 研 除 用 墓 本 发 共 柜 又 阙 杂 既 * * *  利 牙 激 I * 为 无 温 乃 炉 M S H I c c *c 传 统 国 古 代 建 筑 的 砺 灰 及 其 基 本 性 质 a 开 始 用 牡 壳 煅 烧 石 灰 南 尽 对 古 证 K 避 不 B 要 尽 也 只 得 随 包 国 古 代 建 筑 的 砺 灰 及 其 基 本 性 质 传 统 国 古 代 建 筑 的 顿 灰 及 其 基 本 性 质 李 黎 张 俭 邵 明 申 提 要 灰 也 称 作 贝 壳 灰 蜊 灰 等 是 煅 烧 贝 壳 等 海 洋 生 物 得 的 氧 化 钙 为 主 要 成 分 的 材 料 灰 作 为 国 古 代 沿 海 地 区 常 用 的 建

More information

i n i ho n n n n n ng

i n i ho n n n n n ng A i i i i i i i i n i ho n n n n n ng o o o o o o o b B b b p b b b b b b b p b b b b b b i b i b b i b b i b i b i b bn bn bn bn bn bn bn b bn bn bn bn bn bn bng bng bng b pn bng bng bng pn bng bo bo

More information

Microsoft Word - LL3.3-03-Chiang-paper.doc

Microsoft Word - LL3.3-03-Chiang-paper.doc LANGUAGE AND LINGUISTICS 3.3:543-567, 2002 2002-0-003-003-000021-1 東 勢 客 家 話 的 重 疊 結 構 與 變 調 * 江 敏 華 國 立 台 灣 大 學 本 文 探 討 東 勢 客 家 話 重 疊 結 構 和 聲 調 的 關 係, 指 出 東 勢 客 家 話 共 有 十 種 重 疊 結 構, 而 在 AAA AAAA ABAB

More information

<D2BDC1C6BDA1BFB5CDB6C8DAD7CAB8DFB7E5C2DBCCB3B2CEBBE1C3FBB5A52E786C7378>

<D2BDC1C6BDA1BFB5CDB6C8DAD7CAB8DFB7E5C2DBCCB3B2CEBBE1C3FBB5A52E786C7378> 参 会 人 员 名 单 Last Name 姓 名 公 司 Tel Fax Bai 柏 煜 康 复 之 家 8610 8761 4189 8610 8761 4189 Bai 白 威 久 禧 道 和 股 权 投 资 管 理 ( 天 津 ) 有 限 公 司 8610 6506 7108 8610 6506 7108 Bao 包 景 明 通 用 技 术 集 团 投 资 管 理 有 限 公 司 8610

More information

????

???? 鄧陳琨著 天地風塵紅顏多屯悠悠彼蒼兮誰造因鼓鼙聲動長城月 5 烽火影照甘泉雲九重按劍起當席半夜飛檄傳將軍清平三百年天下從此戎衣屬武臣 10 使星天門催曉發行人重法輕離別弓箭兮在腰妻孥兮別袂獵獵旌旗兮出塞愁 15 喧喧簫鼓兮辭家怨有怨兮分攜有愁兮契闊良人二十吳門豪投筆硯兮事弓刀 20 直把連城獻明聖願將尺劍斬天驕丈夫千里志馬革泰山一擲輕鴻毛便辭閨閫從征戰 25 西風鳴鞭出渭橋 一 亂時 1. Loạn

More information

目 錄 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 第 一 課 居 安 思 危 Bài 1 Sô ng Trong Yên Ô n, Nghi Ngày Gian Nan 7 第 二 課 安 心 專 線 Bài 2 Đường Dây An Tâm 17

目 錄 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 第 一 課 居 安 思 危 Bài 1 Sô ng Trong Yên Ô n, Nghi Ngày Gian Nan 7 第 二 課 安 心 專 線 Bài 2 Đường Dây An Tâm 17 第五冊 z-ww456-1-6-a.indd 17 2013/6/7 下午 05:40:53 目 錄 簡 易 日 常 用 Lời đơn giản sử dụng ngày thường 1 第 一 課 居 安 思 危 Bài 1 Sô ng Trong Yên Ô n, Nghi Ngày Gian Nan 7 第 二 課 安 心 專 線 Bài 2 Đường Dây An Tâm 17 第 三

More information

2. 7 3. 2 (669 6600 2 9 4. 6 8 10 5. 6. 19 30 15 23 (1662 50-100 2 42

2. 7 3. 2 (669 6600 2 9 4. 6 8 10 5. 6. 19 30 15 23 (1662 50-100 2 42 1 一 閩 南 語 及 閩 南 族 群 的 形 成 4-1 1. 4-1 1 41 2. 7 3. 2 (669 6600 2 9 4. 6 8 10 5. 6. 19 30 15 23 (1662 50-100 2 42 43 4-1 ( b ( a ( ( ( ( ( ( [ ] ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( ( (

More information

Lời tựa của Cục Trưởng 局 長 序 語 言 是 人 際 溝 通 最 重 要 的 工 具, 能 夠 幫 助 我 們 正 確 的 瞭 解 對 方, 迅 速 地 建 立 良 好 的 友 誼 近 年, 由 於 經 濟 和 婚 姻 的 因 素, 我 國 陸 續 加 入 各 國 的 新 成

Lời tựa của Cục Trưởng 局 長 序 語 言 是 人 際 溝 通 最 重 要 的 工 具, 能 夠 幫 助 我 們 正 確 的 瞭 解 對 方, 迅 速 地 建 立 良 好 的 友 誼 近 年, 由 於 經 濟 和 婚 姻 的 因 素, 我 國 陸 續 加 入 各 國 的 新 成 新北市親子共學語言教材 Tiếng Việt Lời tựa của Cục Trưởng 局 長 序 語 言 是 人 際 溝 通 最 重 要 的 工 具, 能 夠 幫 助 我 們 正 確 的 瞭 解 對 方, 迅 速 地 建 立 良 好 的 友 誼 近 年, 由 於 經 濟 和 婚 姻 的 因 素, 我 國 陸 續 加 入 各 國 的 新 成 員, 尤 其 是 東 南 亞 等 國 家 人 數 眾

More information

:,,,,,,,,,,,,, :,,,! ,, ( ) ;, ( ),,, ( tu n) ( ), ( ), ( ),,, ( ),,,, ( ), : ; 1993, 15 400,, 1973, 3 ; 1977, 1, ;,, 1 ; 1995 12 6 :,,,,,,,,,,, :,,, :??,, S (,, ), ( ) ( ),,, :,,,,,,, : ( ), ( ), ( ),

More information

t o

t o j n t o gu n zhì jié nìng jiè zhì l isì jiég o fúxì zhì b n zèng guàn xi o m i j xi n jùn lián j ng zhù cuán cù dí mèi ch n w n nèn yòu yì j qi n xiù mi o ji n qióng wú qiú móu tuó y ny

More information

Microsoft Word - 文件5

Microsoft Word - 文件5 六 畫 交 官 散, 交 鬼 死, 交 苦 力 食 了 米 解 釋 散 : 窮 鬼 : 詭 計 多 端 的 人 苦 力 : 苦 工 了 : 賠 本 涵 義 喻 交 朋 友 要 謹 慎 交 情 仁 義 重, 啉 lim1 水 也 心 涼 涵 義 形 容 與 朋 友 結 交, 仁 義 才 是 最 重 要 的 交 椅 漆 桌 起 無 扦 tshuann1 解 釋 交 椅 : 有 扶 手 和 靠 背 的 椅

More information

闽语的“囝”及其语法论

闽语的“囝”及其语法论 闽 语 的 囝 及 其 语 法 化 李 如 龙 一 汉 语 的 名 词 后 缀 用 得 最 广 的 是 子 头 儿 三 种 从 历 史 演 变 上 说, 用 作 后 缀 是 子 尾 最 早 王 力 先 生 说 : 在 上 古 时 代 子 已 经 有 了 词 尾 化 的 迹 象, 在 中 古 时 期, 名 词 词 尾 子 字 已 经 很 发 达 了, 并 且 它 有 构 成 新 词 的 能 力 ( 王

More information

99710b45zw.PDF

99710b45zw.PDF 1 2 1 4 C && Zn H H H H H Cl H O H N H H H CH C H C H 3 2 5 3 7 H H H H CH 3 C2H 5 H H H O H H O K K O NO 2 H O NO 2 NO O 2 C2H5 H O C2H5 C H O C2H3 2 5 H H H O H H O 1826 O

More information

6 h h 3 h 3 ha 3 1 I 2 o o a 3 t y 3 t y 3 y t y 3 t y 3 y tsu 3 tsu 3 su 4 17

6 h h 3 h 3 ha 3 1 I 2 o o a 3 t y 3 t y 3 y t y 3 t y 3 y tsu 3 tsu 3 su 4 17 1o 2 n 3 ka t ia k t i x 3 3 a 3 ii 3 4 1n l n l n l 2 t t tstss t tss 3 4 i i a a ua ua ia ia 6 h h 3 h 3 ha 3 1 I 2 o o a 3 t y 3 t y 3 y t y 3 t y 3 y tsu 3 tsu 3 su 4 17 41 n 3 3 pin 3 3 ka xo 3 3

More information