Trang Tử và Nam Hoa Kinh - Nguyễn Hiến Lê

Save this PDF as:
 WORD  PNG  TXT  JPG

Size: px
Start display at page:

Download "Trang Tử và Nam Hoa Kinh - Nguyễn Hiến Lê"

Transcription

1 Trang Tử và Nam Hoa Kinh Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động Nguồn: Tạo ebook: Nguyễn Kim Vỹ. MỤC LỤC Lời thƣa trƣớc Phần I - Chƣơng 1 Chƣơng II Chƣơng III Chƣơng IV (a) Chƣơng IV (b) KẾT PHẦN II Chƣơng I Chƣơng II Chƣơng III Chƣơng IV Chƣơng V Chƣơng VI Chƣơng VII PHẦN III - Chƣơng VIII Chƣơng IX Chƣơng X

2 Chƣơng XI Chƣơng XII Chƣơng XIII Chƣơng XIV Chƣơng XV Chƣơng XVI Chƣơng XVII Chƣơng XVIII Chƣơng XIX Chƣơng XX Chƣơng XXI Chƣơng XXII PHẦN IV - Chƣơng XXIII Chƣơng XXIV Chƣơng XXV Chƣơng XXVI Chƣơng XXVII Chƣơng XXVIII Chƣơng XXIX Chƣơng XXX Chƣơng XXXI Chƣơng XXXII Chƣơng XXXIII PHỤ LỤC

3 Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Lời thưa trước PHẦN NHẤT: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CHƢƠNG I: Thời đại và đời sống

4 Thời đại Đời sống CHƢƠNG II: Tác phẩm Xuất hiện từ thời nào? Nội thiên Ngoại và thiên và Tạp thiên CHƢƠNG III: Văn bộ Trang tử Ƣu điểm Nhƣợc điểm Một số nhà chú giải Cách đọc Trang tử CHƢƠNG IV: Học thuyết của Trang Uyên nguyên từ đâu? Vũ trụ luận và căn bản luận Tri thức luận Chính trị luận

5 Nhân sinh quan KẾT PHẦN NHÌ: NỘI THIÊN Chúng tôi dịch ra sao CHƢƠNG I: Tiêu dao du Nhận định CHƢƠNG II: Tề vật luận Nhận định CHƢƠNG III: Dƣỡng sinh chủ Nhận định CHƢƠNG IV: Nhân gian thế Nhận định

6 CHƢƠNG V: Đức sung phù Nhận định CHƢƠNG VI: Đại tôn sƣ Nhận định CHƢƠNG VII: Ứng đế vƣơng Nhận định PHẦN BA: NGOẠI THIÊN CHƢƠNG VIII: Biền mẫu CHƢƠNG IX: Mã đề CHƢƠNG X: Khƣ khiếp CHƢƠNG XI: Tại hựu Nhận định về bốn chƣơng CHƢƠNG XII: Thiên địa

7 CHƢƠNG XIII: Thiên đạo CHƢƠNG XIV: Thiện vận Nhận định về ba chƣơng CHƢƠNG XV: Khắc ý CHƢƠNG XVI: Thiện tính Nhận định về hai chƣơng CHƢƠNG XVII: Thu thuỷ Nhận định CHƢƠNG XVIII: Chí lạc Nhận định CHƢƠNG XIX: Đạt sinh CHƢƠNG XX: Sơn mộc Nhận định về hai chƣơng

8 CHƢƠNG XXI: Điền Tử Phƣơng Nhận định CHƢƠNG XXII: Trí Bắc du PHẦN TƢ: TẠP THIÊN CHƢƠNG XXIII: Canh Tang Sở Nhận định về hai chƣơng CHƢƠNG XXIV: Từ Vô Quỉ CHƢƠNG XXV: Tắc Dƣơng Nhận định CHƢƠNG XXVI: Ngoại vật Nhận định

9 CHƢƠNG XXVII: Ngụ ngôn CHƢƠNG XXVIII: Nhƣợng vƣơng Nhận định CHƢƠNG XXIX: Đạo Chích Nhận định CHƢƠNG XXX: Thuyết kiếm Nhận định CHƢƠNG XXXI: Ngƣ phủ Nhận định CHƢƠNG XXXII: Liệt Ngự Khấu Nhận định về hai chƣơng CHƢƠNG XXXIII

10 Nhận định Phụ lục: Những biến cố lớn xảy ra trong đời Trang tử Vài lời thƣa trƣớc Trƣớc ngày , cụ đã có một trăm tác phẩm đƣợc xuất bản và mƣời tác phẩm khác chƣa in: Tôi tập viết tiếng Việt, Đời nghệ sĩ, Con đƣờng thiên lí, Một mùa hè vắng bóng chim, Những quần đảo thần tiên, Gogol, Tourguéniev, Tchékhov, Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trang tử. Mƣời tác phẩm đó đƣợc cụ đã giới thiệu sơ lƣợc trong Hồi kí (Phần VI: Từ ngày giải phóng ( ), chƣơng XXXIII: Lại tiếp tục viết, mục Sửa lại bản thảo chƣa in); riêng cuốn Trang tử cụ viết nhƣ sau: Trang tử có địa vị rất lớn trong lịch sử tƣ tƣởng Trung Quốc, ngang với Mạnh tử, hơn Tuân tử, hơn cả Mặc tử nữa. Nhờ ông một phần lớn mà tƣ tƣởng của Lão tử mới đƣợc phổ biến mạnh: chỉ giới trí thức mới quí những cách ngôn trong Đạo Đức kinh, còn giới bình dân thì ai cũng biết ít nhiều những ngụ ngôn của Trang tử. Tên ông gắn liền với tên của Lão tử và cả hai có công làm cho dân tộc Trung Hoa bớt thực tiễn, yêu thiên nhiên, tự do hơn, khoan dung hơn, khoáng đạt hơn thơ văn cũng nhƣ hội hoạ từ Lục triều trở đi, nhất là dƣới đời Tống đều mang dấu vết của Trang[1]. Ở nƣớc ta ông Nguyễn Duy Cần đã giới thiệu học thuyết của Trang, nhƣng chỉ dịch ít chƣơng trong Nội thiên, Nội thiên và Tạp thiên[2]; lại không đặt chân nguỵ của những thiên đó, cho nên cho nên gán cho ông vài tƣ tƣởng không thực của ông. Ông nhằm mục đích phổ thông hơn khảo cứu. Ngƣời đầu tiên nêu ra vấn đề chân nguỵ trong bộ Trang tử (cũng có tên là Nam Hoa Kinh[3]) là Tô Đông Pha đời Tống. Sau ông, số học giả nghi ngờ sự nguỵ tác trong Trang tử càng ngày càng nhiều. Đại khái ngày nay ai cũng nhận rằng Nội thiên là của Trang tử (trừ một số bài), còn Nội thiên và Tạp thiên là của ngƣời đời sau. Tôi kiếm đƣợc năm bản Trang tử, quan trọng nhất là Trang tử toản tiên của Tiền Mục, Tân dịch Trang tử độc bản của Hoàng Cẩm Hoành (1974) và L œuvre complète de Tchouang-tseu của Liou

11 Kia - hway (1969); dịch tất cả các chƣơng trong Nội thiên, Nội thiên, Tạp thiên, không bỏ một bài nào; cuối mỗi chƣơng đƣa ra nhận định của các học giả gần đây, và một số nhận định của tôi về chân, nguỵ; nếu là nguỵ tác thì ngƣời viết thuộc về phái nào: chẳng hạn phái quá khích của Lão giáo, phái ôn hoà của Lão giáo, phái theo Trang, phái theo Khổng, phái theo Đạo gia (tu tiên) hay Pháp gia Tôi chỉ dùng những chƣơng chắc chắn của Trang để phân tích tƣ tƣởng của Trang, rán không gán cho Trang những tƣ tƣởng của ngƣời sau. Cuối cùng tôi chỉ cách nên đọc Trang ra sao. Tác phẩm khá dày: trên 500 trang (riêng phần giới thiệu trên 300 trang)[4]. Và có thể coi là công trình đầy đủ nhất về Trang tử từ trƣớc tới nay, tiếc là chƣa in đƣợc (Hồi kí, Nxb Văn học, 1993, trang ). Tuy bảo là dịch tất cả các chƣơng trong Nội thiên, Nội thiên, Tạp thiên, không bỏ một bài nào, điều này cũng đƣợc nói đến trong lời giới thiệu ngắn ở đầu bộ Trang tử; nhƣng vì trong Ngoại thiên và Tạp thiên có nhiều bài chép từ bộ Liệt tử và Dƣơng tử (cụ gọi tắt là Liệt tử) mà cụ đã chú dịch và cho xuất bản trƣớc 1975, nên các bài tƣơng ứng trong bộ Trang tử này, cụ đã lƣợc bỏ, không chép lại, nhƣ: Đạt sinh 3, Đạt sinh 9, Sơn mộc 9, Trí Bắc du 4, Từ Vô Quỉ 7, Ngụ ngôn 7, Nhƣợng vƣơng 6. Ngƣợc lại, có bài cụ không dịch trong Liệt tử lại đƣợc cụ dịch trong bộ Trang tử nhƣ truyện ngƣời say rƣợu té xe trong bài Đạt sinh 2, truyện luyện gà đá trong bài Đạt sinh 8... Nhƣ vậy, ngƣời đọc muốn đọc đƣợc các bài hoặc các đoạn bị lƣợc bỏ trong bộ này thì phải tìm trong bộ kia và ngƣợc lại. Cũng có bài, nhƣ bài Liệt Ngự Khấu 1, cụ đã dịch trong Liệt tử nhƣng ở đây cụ dịch lại để sửa vài chữ. Về việc dịch lại, tuy cụ không nói ra, nhƣng tôi thấy có nhiều câu trong bộ Trang tử này không giống với những câu tƣơng ứng đã đƣợc cụ và cụ Giản Chi dịch trong bộ Đại cƣơng triết học Trung Quốc (ĐCTHTQ) từ năm [5]. Ví dụ hai câu: Sát sinh dã bất tử. Sinh sinh giả bất sinh, trong ĐCTHTQ dịch là: Cái giết đƣợc cái sống thì cái đó không chết. Cái sinh ra đƣợc cái sinh ra thì cái đó chính nó không từ đâu sinh ra (bản của Nxb Thanh Niên, 1994, Tập 1, trang 181), trong Trang tử (bài Đại Tôn sƣ 2) dịch là: Bậc chủ tể giết sinh mệnh thì không chết, bậc đó sinh ra sinh mệnh mà cũng lại không sinh (nghĩa là không có cái gì sinh ra cả). Một ví dụ khác, câu Chiêu ƣ minh minh, hữu luân sinh ƣ vô hình, sách trƣớc dịch là: Cái sáng láng sinh ra từ cái mịt mờ, cái có loại (tức vật hữu hình) sinh ra từ cái vô hình (Sđd, Tập 1, trang 183); sách sau dịch là: Cái sáng sủa phát sinh từ cái tối tăm; cái hữu hình phát sinh từ cái vô hình (Trí Bắc du 5).

12 Nhờ soạn bộ ĐCTHTQ mà cụ đã nhân cái đà đó tiến sâu thêm về Trung triết mà viết đƣợc trên mƣời cuốn nữa, trong đó có bộ Trang tử này. Trong Trang tử, phần Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên, cụ không chép nguyên tác chữ Hán lẫn phiên âm; và trong phần chú thích, cụ cho biết: nếu thấy cần, sẽ chép thêm nguyên văn phiên âm (chứ không có chữ Hán vì công việc ấn loát lúc này khó khăn và tốn kém) [6]. Do không có chữ Hán, nên trong quá trình gõ, khi gặp những chỗ ngờ in sai, hoặc có sự khác biệt với bản Nguyễn Duy Cần, tôi phải tra cứu các trang web chữ Hán để, nếu sai thì ghi thêm vào chú thích, và nếu thấy cần tôi chép thêm chữ Hán vào để chúng ta cùng tham khảo. Ngoài ra, tôi còn chép thêm: Phụ lục I: Những biến cố lớn xảy ra trong đời Trang tử. Phụ lục II: Các bài trong bộ Liệt tử tƣơng ứng với các cụ lƣợc bỏ, không dịch lại trong bộ Trang tử. Trong thời gian chỉnh sửa và bổ sung chữ Hán cho bản đánh máy tác phẩm Trang Tử - Nam Hoa Kinh (Phần Thƣợng) của Nguyễn Duy Cần (bản đánh máy do bạn Fatman1702 cung cấp); và thực hiện ebook Trang tử và Nam Hoa kinh của này, bác Vvn đã nhiệt tình giải đáp giúp tôi rất nhiều nghi vấn; một phần nhỏ những giải đáp đó, tôi có ghi lại trong chú thích. Ngoài ra, bác Vvn còn giúp tôi sửa lỗi ebook này nữa. Xin chân thành cảm ơn bác Vvn. Nhờ sửa lỗi, rồi sau đó bổ sung phần chữ Hán cho bản đánh máy do bạn Fatman1702 cung cấp nhƣ đã nói ở trên, tôi mới có dịp đọc lại cuốn Trang tử của mà tôi đã đọc từ năm 1996; và nhân đó tôi gõ phần I: Nội thiên để chúng ta có thể so sánh hai bản dịch của hai cụ Nguyễn, mà theo lời cụ thì: Trƣớc chúng tôi đã có hai bản Tuyển dịch Trang tử (tức một của Nhƣợng Tống và một của Nguyễn Duy Cần). Sau chúng tôi chắc sẽ còn nhiều ngƣời dịch nữa, mà bản dịch nào cũng sẽ có nhiều chỗ không giống các bản khác Tôi mong độc giả hiểu cho lẽ đó mà coi bản của chúng tôi may mắn lắm là có giá trị ngang các bản khác thôi. Ban đầu tôi chỉ mong gõ xong phần I thôi, nhƣng rồi lần hồi tôi cũng gõ đƣợc trọn bộ Trang tử của cụ. Xin cảm ơn bạn Fatman1702; và xin hân hạnh đƣợc chia sẻ cùng các bạn ebook này.

13 Goldfish Mùa hè 2009 Chú thích: [1] Cũng trong Hồi kí, cụ cho biết thêm: Có thể nhƣ Lâm Ngữ Đƣờng nói, nhờ Lão Trang dân tộc Trung Hoa tuy nghèo khổ mà vẫn yêu đời, tinh thần đƣợc quân bình không thác loạn nhƣ ngƣời Âu giàu gắp 10, gắp 100 họ. [Goldfish]. [2] Trong bộ Trang tử - Nam Hoa kinh gồm hai tập (về sau gọi tắt là bản Nguyễn Duy Cần), cụ Nguyễn Duy Cần chỉ dịch 6 thiên trong Nội thiên (bỏ thiên Nhân gian thế), còn Ngoại thiên và Tạp thiên cụ chỉ trích yếu mà thôi. Ngoài bộ đó, cụ còn có cuốn Trang tử tinh hoa. [Goldfish]. [3] Có ngƣời cho rằng: theo Từ điển Thành ngữ Trung Quốc thì Nam Hoa là tên một hòn núi ở Tào Châu thuộc nƣớc Tống thời xƣa. Tƣơng truyền rằng, khi Trang Tử đến ở ẩn nơi chân núi Nam Hoa, ông đem hết tinh hoa của Đạo giáo của Lão Tử viết thành bộ sách, lấy tên núi Nam Hoa mà đặt, gọi là Nam Hoa kinh, đời sau ngƣời ta gọi là "sách Trang Tử". [Goldfish]. [4] Bản của Nxb Văn hoá - Thông tin năm, 1994: khoảng 560 trang, phần Giới thiệu tác giả và tác phẩm khoảng 130 trang. [Goldfish] [5] Bộ này gồm 2 quyển, do nhà Cảo Thơm xuất bản: quyển Thƣợng in năm 1965, quyển Hạ in năm Bản của nhà Thanh Niên xuất bản in Quí 3 năm 1994, cũng gồm 2 quyển, gọi lại Tập 1 và Tập 2. [Goldfish] [6] Trong sách chỉ có 3 chữ Hán: Hƣu 休, Mộc 木, Mạc 莫 in trong Phần I, tiểu mục Đời sống (của Trang tử) [Goldfish]. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch:

14 Phần I - Chương 1 THỜI ĐẠI VÀ CUỘC SỐNG THỜI ĐẠI Trang tử kém Mạnh tử khoảng mƣời tuổi, sống ở giữa thời Chiến Quốc ( ). Ông sanh vào khoảng -360, trên 40 năm sau khi thời đại loạn đó bắt đầu, và 60 năm sau ông mất, nó cũng chấm dứt. Vậy ông chứng kiến đƣợc hầu hết những biến chuyển lớn của thời đó: Tần dùng Vệ Ƣởng để biến pháp mà hùng cƣờng lên, xƣng bá (-343) rồi xƣng vƣơng (-325); sáu nƣớc kia (Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở) bèn hợp tung để chống Tần (-333), nhƣng phe hợp tung mau tan (-332), Trƣơng Nghi đề nghị thuyết liên hoành (-331) để liên hiệp lục quốc mà tôn Tần, do đó mà Tần lại càng mạnh thêm, thắng đƣợc Nguỵ, Hàn, Sở, rồi xƣng đế (-288), diệt Tống, ức hiếp Triệu. Trƣớc khi mất, chắc Trang tử đã đoán đƣợc xu thế của thời đại; thế nào rồi Tần cũng sẽ thay Chu, làm thiên tử mà thống nhất Trung Quốc. Nhƣ trong Chiến Quốc Sách1[1] trang 10, chúng tôi đã nói, sự dùng năm -403 để phân chia hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc không dựa trên một biến cố nào quan trọng (năm đó chỉ là năm lên ngôi của Uy Liệt vƣơng nhà Chu), mà lịch sử và xã hội Trung Hoa suốt hai thời kì Xuân Thu và Chiến Quốc biến chuyển liên tục, không hề gián đoạn, từ chế độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân li tới tình trạng thống nhất. Tuy nhiên, xét chung, chúng ta vẫn thấy hai thời đó có nhiều điểm khác nhau: 1. Xuân Thu là thời các vị bá chủ (nhƣ vua Hoàn công nƣớc Tề) mƣợn uy danh của Thiên tử, tức vua Chu mà ra lệnh các chƣ hầu; Thiên tử thời đó tuy không có quyền, nhƣng còn danh phận, các vị bá chủ chƣa dám khinh; thời Chiến Quốc, trái lại, các vua nƣớc lớn nhƣ Tần, Tề, Nguỵ, Sở đều xƣng vƣơng, chẳng coi Thiên tử ra gì cả; 1 [1] Nguyên văn: dĩ kì trí chi sở tri dƣỡng, kì trí chi sở bất tri. Mỗi sách giảng một khác. Sách thì cho cái trí tuệ không thể biết đƣợc là tinh thần, sách lại cho là thân thể ta tuy nhỏ mà gồm cả vũ trụ; sách khác cho là thọ mệnh; sách khác nữa bảo là đừng để cái vô bờ bến làm khốn mình.

15 2. Thời Xuân Thu, chế độ chính trị chỉ biến chuyển lần lần thôi, vì các vua chúa còn trọng dƣ luận ít nhiều; qua thời Chiến Quốc, vua các cƣờng quốc không đoái gì tới cổ pháp, cổ lễ, can đảm làm những cuộc cách mạng về pháp độ, nhƣ cuộc biến pháp của Vệ Ƣởng năm -359 đời Tần Hiếu công; 3. Thời Xuân Thu giới quý tộc còn nắm đƣợc nhiều quyền lớn, cha truyền con nối, qua thời Chiến Quốc, đặc quyền đó gần đó gần nhƣ hoàn toàn bị diệt, và rất nhiều ngƣời trong giới bình dân lên làm khanh tƣớng, nhƣ Tô Tần, Trƣơng Nghi ; 4. Chiến tranh trong thời Xuân Thu tuy nhiều nhƣng không kịch liệt, còn giữ đƣợc cái luật quân tử không giết kẻ bại; thời Chiến Quốc, chiến tranh tàn khốc hơn nhiều, có trận chết hàng vạn ngƣời (sát nhân doanh dã, sát nhân doanh thành), cho nên dân tình cực kì điêu đứng; 5. Phép tỉnh điền không rõ bị phế bỏ lần lần từ thời nào, nhƣng chắc chắn là cuộc biến pháp của Vệ Ƣởng, thời Chiến Quốc, đƣợc nhiều nƣớc khác theo, Mạnh tử hô hào tái lập nó mà không đƣợc; 6. Thời Xuân Thu, trọng tâm của kinh tế là nông nghiệp; qua thời Chiến Quốc, công và thƣơng phát đạt mạnh, địa vị mỗi ngày một quan trọng hơn, mà các thị trấn nhƣ Hàm Dƣơng (Tần), Lâm Tri (Tề), Hàm Đan (Triệu) rất phồn thịnh; và bọn cự thƣơng nhƣ Lã Bất Vi có thể dùng thế lực đồng tiền xâm nhập chính trị; 7. Quan trọng nhất là sự phát triển về tƣ tƣởng. Trong thời Xuân Thu, từ khi Khổng tử sanh (-551) tới khi Liệt tử mất (-349), suốt hai trăm năm chỉ có mƣơi triết gia: Khổng tử, Tử Tƣ, Mặc tử, Dƣơng tử, Lão Đam, Quan Doãn, Liệt Ngự Khấu; qua thời Chiến Quốc, số triết gia có tiếng tăm lên tới trên hai chục nhà, ấy là chƣa kể các chính trị gia, biện sĩ, thuật sĩ. Theo Sử kí của Tƣ Mã Thiên, bọn du thuyết đƣợc Tề Tuyên vƣơng tặng chức thƣợng đại phu, chỉ bàn suông chứ không dự vào việc chính trị, nhƣ Trâu Diễn, Thuần Vu Khôn, Tiếp tử, Hoàn Uyên tới 76 ngƣời, còn số học sĩ ở Tề có tới mấy trăm ngàn ngƣời (chƣơng 46: Điền Hoàn thế gia). Nguyên nhân chính là thời đó đại loạn, ngƣời nào cũng có tƣ tƣởng cũng muốn đƣa ra một thuyết để cứu đời; mà các vua chúa nào muốn làm bá chủ Trung Quốc cũng tôn trọng kẻ sĩ, mời họ làm cố vấn. Do đó, ngôn luận đƣợc hoàn toàn tự do. Đúng là thời trăm hoa đua nở ; cho tới nay, trên hai ngàn năm sau, Trung Hoa không còn đƣợc thấy lại cảnh phồn thịnh đó nữa.

16 Dĩ nhiên, mỗi triết gia chỉ nắm đƣợc một phần chân lí, nhƣ tác giả chƣơng Thiên hạ, phần Tạp thiên của Nam Hoa kinh đã nhận định: học phái hoặc kĩ thuật của trăm nhà đều có sở trƣờng, thời cơ thích hợp thì đều có chỗ dùng đƣợc đấy, nhƣng không bao quát đƣợc hết: họ chỉ là những nhà thiên kiến Họ mổ xẻ cái thuần mĩ của trời đất, phân tích cái lí của vạn vật, cái nhất quán của cổ nhân lập ra những phƣơng thuật riêng. Buồn thay! Học phái của bách gia cứ phân tán ra trăm ngả tới cực đoan mà không trở về cái gốc Đạo thuật trong thiên hạ sắp bị chẻ nhỏ ra rồi. (đoạn 3). Bất kì về vấn đề nào: vũ trụ, Đạo và tính, chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, võ bị, danh và thực họ cũng đƣa ra đƣợc hai ba lí thuyết để chống đối nhau, phủ nhận nhau, không khí thật kích thích, tạo nên một hoàng kim thời đại của triết học Trung Hoa. Dƣới đây tôi chỉ ghi tên một số triết gia đồng thời với Trang Chu, hoặc đƣợc nhắc tới trong Trang tử (cũng gọi là Nam Hoa kinh) để độc giả đỡ phải tìm kiếm mà dễ nhận định đƣợc thời đại. Những năm sinh và mất của mỗi nhà đều theo Vũ Đồng trong Trung Quốc triết học đại cương (Thƣơng vụ ấn thƣ quán 1958), và đều phỏng chừng, có thể sai vài ba chục năm.

17 Xét bảng trên2[1], chúng ta thấy khi Lão tử và Liệt tử chết, Trang tử hãy còn nhỏ; những triết gia đồng thời với Trang và lớn hơn Trang từ 10 đến 20 tuổi là Tống Kiên, Bành Mông, Mạnh tử, Huệ Thi, Điền Biền, Thận Đáo Công Tôn Long và Tuân tử đều nhỏ hơn Trang khoảng 30 tuổi. Sau cùng khi Trang mất thì Hàn Phi mới ra đời. Tóm lại Trang sống vào giữa thời phát triển mạnh mẽ nhất của triết học Trung Quốc và mặc dầu không hề nhắc tới Tuân tử, ông có thể đƣợc biết tất cả các triết thuyết thời Chiến Quốc, trừ học thuyết Hàn Phi. 2 [1] Nguyên văn: Sinh nhi vô dĩ tri vi dã, vị tri dĩ tri dưỡng điềm. Câu này hơi khó hiểu, tôi dịch thoát nhƣ vậy. Ý muốn nói: Đừng suy nghĩ, đừng dùng trí xảo, cứ hồn nhiên sống, nhƣ vậy sẽ đƣợc điềm tĩnh. Đoạn sau cũng có mấy câu nghĩa rất tối, mỗi ngƣời hiểu một cách.

18 ĐỜI SỐNG Trong số các triết gia lớn thời Tiên Tần, chỉ có Khổng tử và Mạnh tử là ta biết đƣợc tạm đủ và khá chắc chắn về đời sống: Khổng tử nhờ làm quan ở Lỗ và nhờ bộ Luận ngữ do môn sinh chép; Mạnh nhờ làm khách khanh cho Lƣơng, Tề, Đằng, Tống, nhất là nhờ bộ Mạnh tử do môn sinh chép (ông duyệt lại) ngay khi ông còn sống3[2]. Còn những nhà khác nhƣ Dƣơng tử, Lão tử, Trang tử một phần vì ẩn dật, một phần vì không dạy học hoặc dạy ít học trò nên đời sống không đƣợc ghi chép lại. Về Trang tử ta chỉ có mỗi một tài liệu gồm khoảng hai trăm chữ trong chƣơng 63 bộ Sử kí. Không hiểu tại sao Tƣ Mã Thiên lại sắp chung Lão tử, Trang tử với Thân Bất Hại và Hàn Phi. Ông cho chúng ta biết: * Trang tử tên là Chu, ngƣời đất Mông, đồng thời với Lƣơng Huệ vƣơng ( ), Tề Tuyên vƣơng ( ), và có làm một chức lại trong một xƣởng chế tạo sơn ở đất Mông. * Trang học rộng, viết một bộ sách gồm trên 10 vạn chữ, đại để là ngụ ngôn; có những chƣơng Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp4[3] chỉ trích Khổng Mặc và làm sáng tỏ học thuật của Lão tử. Văn ông hay, lời lẽ có thứ tự, khéo chỉ việc tả tình, tuy hạng túc học đƣơng thời cũng khó tự gỡ cho mình đƣợc khi bị ông bài bác, tƣ tƣởng của ông đặc biệt quá, nên các vƣơng công thời đó không dùng. Sở Uy vƣơng nghe tiếng ông hiền, vời ông làm tƣớng quốc, ông từ chối, muốn đƣợc sống thoả ý, không chịu bị trói buộc. Tƣ Mã Thiên không cho biết Trang tử tên tự là gì, sanh năm nào, mất năm nào, và đất Mông thuộc nƣớc nào. Về tên tự, có sách bảo là Tử Hƣu, có sách chép là Tử Mộc (Hƣu 休 và Mộc 木 viết hơi giống nhau), trong Mạnh tử lại gọi là Tử Mạc (Mạc 莫 và Mộc đọc hơi giống nhau).

19 Về năm sanh và năm tử, cũng có rất nhiều thuyết khác nhau khoảng năm chục năm. Thuyết xa nhất là sanh năm -398, thuyết gần nhất là sanh năm -350, cách nhau: 48 năm. Đa số, nhƣ Lƣơng Khải Siêu, Trƣơng Thành Thu, Trang Văn Thọ, Mã Di Sơ đoán khoảng Năm tử: xa nhất là -317, gần nhất là -270, cách nhau: 47 năm. Đa số đoán vào khoảng -290 hay Trong bảng ở trang 13, tôi theo thuyết mới nhất của Vũ Đồng: -369, Vũ Đồng bảo Trang chịu ảnh hƣởng của Điền Biền và Thận Đáo, chắc phải nhỏ hơn hai nhà này. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một giả thuyết5[4] có thể gần đúng, chứ không đáng tin hẳn. Về nơi sanh, các học giả đều bảo là đất Mông, nhƣng đất Mông ở đâu, thuộc nƣớc nào thì ý kiến cũng phân vân. Ngƣời thì bảo đất Mông tức Mông Trạch, ngƣời thì bảo là Mông huyện hoặc Mông thành. Bùi Nhân trong Tập giải6[5], dẫn bộ Địa lí chí bảo: Huyện Mông thuộc nƣớc Lƣơng ; Tƣ Mã Trinh trong Sách ẩn, dẫn lời Lƣu Hƣớng trong Biệt lục, bảo Trang tử là ngƣời đất Mông nƣớc Tống; Cao Dụ chú giải bộ Lữ Thị Xuân Thu cùng ý kiến với Tƣ Mã Trinh. Chu tử đời Tống lại cho Trang tử là ngƣời nƣớc Sở. Hoàng Cẩm Hoành trong Trang tử độc bản (Tam dân thƣ cục 1974) sau khi nghiên cứu kĩ lƣỡng các thuyết, kết luận rằng đất Mông đó là thành Mông thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay; khi Trang tử ra đời, đất đó vốn là của nƣớc Tống, sau khi Trang mất, Tống bị diệt, ba nƣớc Sở, Nguỵ, Tề chia nhau đất đai của Tống và đất Mông từ đó thuộc về Nguỵ (tức Lƣơng), vì vậy mà bảo Mông thuộc về Nguỵ hoặc Tống cũng đƣợc. Tóm lại về đời của Trang tử chỉ có mấy điểm này là chắc chắn: Ông sinh ở đất Mông thời đó thuộc Tống (Tống giáp biên giới phía bắc của Sở), sống vào thế kỉ thứ 4 trƣớc T.L., đồng thời với Lƣơng Huệ vƣơng và Tề Tuyên vƣơng (tức đồng thời với Mạnh tử), hồi trẻ làm một chức quan nhỏ, coi một xƣởng chế tạo sơn, sau ở ẩn, viết một bộ sách, ngƣời đời sau gọi là Trang tử, tƣ tƣởng chịu ảnh hƣởng của Lão tử. Muốn biết thêm về tình cảnh cùng cá tính của ông, ta phải tìm trong bộ Trang tử. Chúng tôi đếm đƣợc trên dƣới ba chục bài chép cố sự về Trang. Trừ một số bài hoặc chƣơng chúng

20 ta biết chắc là sai vì vô lí, chẳng hạn bài XXI.57[6] cho Trang tử lại yết kiến Lỗ Ai công, mà Lỗ Ai công mất trƣớc khi Trang tử sanh khoảng trăm năm, hoặc chƣơng XXX bàn về thuật đánh kiếm, đem những tƣ tƣởng không có chỗ nào hợp với Trang đặt vào miệng của Trang ; trừ những bài đó không sao tin đƣợc, chỉ có thể coi là ngụ ngôn, còn những bài khác, tuy không hoàn toàn đáng tin hẳn, nhƣng có thể tạm dùng để hiểu về Trang. Những bài này chia làm hai loại: - những bài dẫn lời Trang bàn về đạo lí, nhƣ bài XXII.6 Trang giảng về Đạo cho Đông Quách tử, bài XIV.2 Trang giảng về đức nhân cho viên Thái tể Đãng ; những bài trong loại này nếu tƣ tƣởng có thật của Trang thì tôi cũng không dẫn trong chƣơng về tiểu sử này mà sẽ dành lại cho chƣơng về học thuyết của Trang. - những bài có tính cách cố sự, nhƣ bài XVII.5, Trang từ chối lời vua Sở mời ra làm quan; bài XVIII.2, Trang gõ nhịp vào cái vò mà hát khi vợ chết; bài XXIV.6, Trang tỏ ý tiếc nhớ Huệ Thi vì Huệ Thi mất rồi, không còn ai để đàm luận nữa ; những bài trong loại này khá nhiều, tôi sẽ trích dẫn một số cho ta đoán đƣợc đời sống và tính tình của Trang. Chúng ta không biết đƣợc chút gì về tuổi thơ của Trang cả: Gia đình ra sao? Thuộc giới nào trong xã hội? Hồi nhỏ học ai? Lớn lên lập gia đình vào thời nào? Sau khi goá vợ có tục huyền không? Có bao nhiêu con? Dạy con ra sao?... Theo Tƣ Mã Thiên, ông làm một chức lại nhỏ ở quê nhà. Sau ông ở ẩn, không chịu ra làm quan, chắc chắn có dạy học vì có một số bài chép những lời ông nói với môn sinh, chẳng hạn bài XX.1, ông đáp môn sinh về hữu dụng và vô dụng sau khi chủ nhà ông ghé thăm, sai gia nhân giết ngỗng để đãi ông, hoặc bài XXXII.13, kể chuyện khi ông hấp hối, ngăn môn sinh không cho hậu táng. Môn sinh chắc không đông, ông dạy họ những gì, họ đối với ông ra sao, ta cũng không biết. Có lẽ là một số ngƣời đã lớn thích học thuyết của ông, trọng tƣ cách ông, ở gần ông để nghe ông tuỳ hứng bàn về Đạo, về cách xử thế. Còn Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc thì nhất định là ông không giảng tới. Ông ít đi đâu, cũng nhƣ Lão tử, Liệt tử, và trái hẳn với Mạnh tử, Mặc tử.

21 Ông giao du cũng ít, cơ hồ chỉ thân với mỗi một ngƣời là Huệ Thi, một triết gia lớn hơn ông độ mƣơi tuổi, học rộng (theo chƣơng XXXIII, có đến năm cỗ xe đầy sách), thuộc phái Mặc, làm tƣớng quốc cho Lƣơng Huệ vƣơng. Có hai bài chép rằng Trang tử nghèo. Bài XXVI.2: Trang tử nghèo phải hỏi mƣợn lúa của Giám Hà Hầu [tức Nguỵ Văn Hầu]. Giám Hà Hầu bảo: - Đƣợc. Đợi tôi thu đƣợc tiền thuế của một ấp rồi tôi sẽ cho mƣợn ba trăm đồng. Đƣợc không? Trang Chu giận đỏ mặt lên, đáp: - Hôm qua tôi đi lại đây, giữa đƣờng nghe có tiếng gọi. Tôi ngoảnh lại thấy một con cá giếc nằm trong một vết bánh xe. Tôi hỏi nó: Con giếc kia lại đó làm gì vậy?. Nó đáp: Tôi là thần sóng ở biển Đông, ông cho tôi một đấu, một thăng (phần mƣời đấu) nƣớc để cứu sống tôi đƣợc không?. Tôi bảo: Đƣợc. Để tôi đi du thuyết vua Ngô và vua Việt đã rồi khi về sẽ dẫn nƣớc Tây giang lại cứu anh, đƣợc chứ?. Con giếc nổi giận, biến sắc, đáp: Tôi vì ra khỏi nƣớc, không có chỗ an thân, chỉ mong đƣợc một đấu, một thăng nƣớc để sống. Ông nói nhƣ vậy thì tốt hơn, (khi trở về) ông nên lại hàng cá khô mà tìm tôi. Nếu là truyện thực thì Trang tử quả là nhanh trí và cƣơng trực, không sợ làm bẽ mặt một vị chúa. Lần khác (bài XX.6), Trang tử bận áo vải thô mà vá, đi giầy thủng, cột lại bằng dây gai lại yết kiến vua Nguỵ có thể cũng lại là Nguỵ Văn Hầu trong bài trên. Vua Nguỵ bảo: - Sao mà tiên sinh khốn khổ nhƣ vậy? Trang tử đáp: - Nghèo chứ không khốn khổ. Kẻ sĩ không thi hành đạo đức thì mới khốn khổ. Áo vá, giầy thủng thì

22 là nghèo chứ không phải khốn khổ. Nhƣ vậy là vì không gặp thời. Giọng Trang có vẻ bực tức, gay gắt. Rồi cũng nhƣ trong bài trên, ông đem loài vật ra kể truyện để mắng vua Nguỵ: con vƣợn khi ở trên các ngọn cây cao thì leo nhảy, tự đắc lắm nhƣ làm chúa một cõi, nhƣng khi phải len lỏi trong đám cây thấp có gai thì run sợ, ngó trƣớc ngó sau, gân cốt co lại, chỉ vì hoàn cảnh bất lợi nên không thi thố đƣợc tài năng Sau cùng Trang kết: Ngày nay kẻ sĩ ở vào cái thời hôn quân loạn thần thì làm sao mà khỏi khốn khổ cho được. Chứng cớ là Tỉ Can bị moi tim đấy. Truyện này cũng chƣa chắc đã có thực, nhƣng cũng giống truyện trên: Trang tử lại tỏ tài ứng đối, tính tình khí khái mà cao ngạo nữa. Hễ trêu ông thì chỉ mang nhục thôi. Ngay đối với bạn thân là Huệ Thi, ông cũng không nể mà còn đập một cách cay độc. Huệ Thi đang làm tể tƣớng nƣớc Lƣơng (tức nƣớc Nguỵ sau khi dời đô qua Đại Lƣơng), khi hay tin Trang tử qua Lƣơng, sợ Trang tranh ngôi tể tƣớng của mình, sai ngƣời đi tìm khắp nƣớc suốt ba ngày ba đêm. Khi tới nơi Trang thấu tâm lí đó của bạn, bảo: - Ông có biết một con chim ở phƣơng Nam ngƣời ta gọi là con uyên sồ (một loài chim phƣợng) không? Khi nó cất cánh từ Nam hải mà lên Bắc hải, không phải là cây ngô đồng thì nó không đậu, không phải là hột luyện thì nó không ăn, không phải là nƣớc suối ngọt thì nó không uống. Một con chim cú đƣơng rỉa xác một con chuột thấy nó bay ngang [sợ nó tranh ăn], ngửng lên nhìn nó, kêu lên một tiếng lớn doạ nó. Nay ông vì (cái ngôi tể tƣớng) nƣớc Lƣơng mà cũng muốn kêu lên để doạ tôi sao? (XVII.6) Nếu là bịa thì truyện đó cũng hợp với tính tình ngạo mạn, khinh phú quí của Trang. Trang không chịu nhận một chức vụ lớn nhỏ nào ở triều đình. Sử kí của Tƣ Mã Thiên chép rằng: Vua Sở Uy vƣơng nghe tiếng Trang Chu là ngƣời hiền, sai sứ giả mang hậu lễ lại rƣớc, hứa sẽ phong làm tể tƣớng. Trang Chu cƣời bảo sứ giả của Sở: - Ngàn vàng là cái lợi lớn đấy, khanh tƣớng là một vị tôn quí đấy. (Nhƣng này) ông có thấy con bò

23 làm vật hi sinh trong lễ tế Giao không? Ngƣời ta nuôi nó mấy năm, cho nó bận áo gấm thêu đủ màu để dắt nó vào thái miếu. Lúc đó, giá nó muốn làm một con heo con cô độc, phỏng có đƣợc chăng? Thôi, ông đi ngay đi, đừng làm ô uế ta nữa. Ta thà ngao du trong cái rãnh bẩn cho thích chí chớ không chịu trói buộc tấm thân vì việc nƣớc. Suốt đời ta không làm quan đâu, để thoả lòng ta!. Trong bộ Trang tử, truyện đó đƣợc chép lại hai lần. Một lần trong bài XXXII.12: Một ông vua muốn mời Trang tử ra làm quan. Trang tử đáp sứ giả: - Ông có thấy con bò để tế đấy không? Ngƣời ta trùm cho nó tấm gấm thêu, cho nó ăn cỏ và đậu lớn, để ngày kia dắt nó lại thái miếu. Lúc đó nó có muốn làm một con bê cô độc, phỏng có đƣợc chăng?. Bài đó gần y hệt đoạn văn trong Sử kí, chắc cùng một nguồn gốc. Còn một bài nữa, nghệ thuật cao hơn và thƣờng đƣợc nhiều sách trích dẫn hơn, tức bài XVII.5: Trang tử câu trên sông Bộc. Vua Sở phái hai vị đại phu lại báo trƣớc sẽ xin đem việc nƣớc lại làm phiền ông. Trang tử vẫn cầm cần câu, không ngoảnh lại, mà đáp: - Tôi nghe nƣớc Sở có một con rùa thần, chết đã ba ngàn năm, nhà vua gói nó vào chiếc khăn, cất trong cái hộp ở trên miếu đƣờng. Con rùa ấy chịu chết mà lƣu lại bộ xƣơng cho ngƣời ta thờ hay thích sống mà lết cái đuôi trong bùn? Hai vị đại phu đáp: - Thà sống mà lết cái đuôi trong bùn còn hơn. Trang tử bảo: - Vậy hai ông về đi! Tôi cũng thích lết cái đuôi trong bùn đây. Ba tài liệu đó cho thấy những cố sự về Trang chép trong các sách, dù có thể tin đƣợc thì cũng chỉ đúng một phần thôi, về đại ý thôi, còn về chi tiết thì mỗi tác giả có thể thêm bớt, sửa đổi. Nhƣ ở đây,

24 ta chỉ nên nhớ một điều là Trang không chịu làm quan mà thích sống tự do, thái độ đó rất hợp với tƣ tƣởng của Trang trong bài I.1 và II.4. Bài I.1, Trang bảo: Ông Liệt tử cƣỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mƣời lăm ngày rồi về. Có phúc lớn nhƣ ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhƣng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì - do hữu sở đãi - (nghĩa là còn phải đợi cho gió nổi lên). Đến nhƣ hạng ngƣời làm chủ đƣợc cái chính đạo của trời đất, chế ngự đƣợc lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu. Một ngƣời không muốn tuỳ thuộc một cái gì, thì đâu chịu giam mình trong vòng danh lợi. Đến nhƣ con trĩ ở trong chằm kia, thà chịu khó nhọc kiếm ăn (cứ mƣời bƣớc lại phải mổ một thức ăn, trăm bƣớc lại phải uống) chứ không chịu bị nhốt để ngƣời ta nuôi, (bài III.4), huống hồ là ông. Ông trọng tự do hơn hết thảy những gì ở đời, muốn đƣợc hoàn toàn tự do. Đó là nét nổi bật nhất trong cá tính của ông. Ông nghĩ sống trong một thời đại loạn, nếu lỡ có tài thì cũng nên giấu tài đi, mới mong đƣợc hƣởng hết tuổi thọ của trời, nhƣ cái cây lớn cành lá sum suê vì gỗ xấu mà khỏi bị đốn trong bài XX.1. (Điểm này, tôi sẽ xét thêm trong một chƣơng sau). Vì có tinh thần trọng tự do, tự tại, khinh phú quí đó, nên Trang cực kì cay độc mà dí dỏm với hạng vô tài mà khoe khoang khi đƣợc vua thƣởng. Bài XXXII.6 chép: Một ngƣời nƣớc Tống tên là Tào Thƣơng đƣợc vua Tống sai đi sứ qua Tần, khi đi chỉ có năm cỗ xe, vua Tần bằng lòng ông ta lắm, cho một trăm cỗ. Về tới Tống, ông ta gặp Trang tử, bảo: - Ở trong một đƣờng hẻm trong một xóm nghèo khổ, quẫn bách tới nỗi phải bện dép để sống, đói tới nỗi cổ ngẳng, mặt xanh xao, đó là sở đoản của Thƣơng tôi. Nhất đán gặp vua một nƣớc vạn cỗ xe rồi đƣợc tặng một trăm cỗ xe, đó là sở trƣờng của Thƣơng tôi. Trang tử đáp:

25 - Vua Tần bị bệnh, vời một y sĩ tới trị. Y sĩ mổ một cái nhọt lớn, vua Tần thƣởng cho một cỗ xe; còn kẻ nào liếm trĩ ông thì ông thƣởng cho năm cỗ xe. Việc càng đê tiện thì càng đƣợc thƣởng nhiều. Phải ông trị bệnh trĩ cho vua Tần không, sao mà đƣợc thƣởng nhiều xe nhƣ vậy? Thôi ông cút đi. Truyện đó đáng cho vợ con những kẻ giàu sang trong thời loạn suy gẫm. Y nhƣ nọc rắn phun từ miệng Trang ra vậy. Ai bảo kẻ kia dám trêu ông, mỉa ông nghèo đói. Bình thƣờng đối với hạng ham danh lợi đó, ông chỉ ôn tồn răn bảo, và luôn luôn dùng những ví dụ, những hình ảnh lạ để đập mạnh vào óc kẻ đối thoại, nhƣ trong bài XXXII.11: Một ngƣời lại bái kiến vua Tống, đƣợc ân tứ mƣời cỗ xe, đánh mƣời cỗ xe đó lại khoe Trang tử. Trang tử bảo: - Trên bờ Hoàng Hà có một gia đình nghèo, sống nhờ nghề đan cỏ ngải. Một hôm một ngƣời con lặn xuống vực, vớt đƣợc một viên ngọc châu đáng giá ngàn vàng. Ngƣời cha bảo con: Lấy một phiến đá đập bể nó đi! Một viên ngọc đáng giá ngàn vàng tất phải ở dƣới cằm một con rồng đen trong một vực sâu chín đợt. Con lấy đƣợc nó chắc là trong khi con rồng đó ngủ; nó tỉnh dậy thì còn gì là đời con nữa!. Nƣớc Tống ngày nay còn sâu hơn cái vực chín đợt, mà vua Tống còn hung dữ hơn con rồng đen nữa. Chú đƣợc mƣời cỗ xe đó chắc là trong lúc ông ta ngủ; ông ấy mà tỉnh dậy thì tất chú bị nát thây mất. Một điểm đáng để ý nữa trong cá tính của Trang là vui sống. Trong Nội thiên có tới năm sáu lần ông cho đƣợc hƣởng hết tuổi trời là một hạnh phúc lớn. Bài XXVI.8 ông bảo: Nếu tự mình tự thích ý đƣợc thì đi đâu mà không thích ý? Nếu tự mình không thích ý đƣợc thì dù đi đâu cũng không thích ý đƣợc Chỉ bậc chí đức là vui vẻ sống với ngƣời đồng thời mà không theo thành kiến của họ. Bài đó do ngƣời đời sau viết, nhƣng chúng ta có thể tin đƣợc là diễn đúng quan niệm của ông về nhân sinh. Về quan niệm của ông đối với sinh tử, trong một chƣơng sau, tôi sẽ xét kĩ, đây tôi chỉ xin dẫn ít cố sự

26 cho thấy tin thần rất khoáng đạt của ông thôi. Bài XVIII.2 rất nổi danh, đƣợc gọi là bài Trang tử cổ bồn, và tích Trang tử cổ bồn rất thƣờng diễn trên sân khấu thời xƣa. Bài đó nhƣ sau: Vợ Trang tử chết, Huệ tử lại điếu, thấy Trang tử ngồi xoạc chân ra, gõ nhịp vào một cái vò8[7] mà hát, bèn bảo: - Ăn ở với ngƣời ta, ngƣời ta nuôi con cho, nay ngƣời ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ƣ? Trang tử đáp: - Không phải vậy. Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thƣơng xót? Nhƣng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa; chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái Nhà lớn (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc. Tƣ tƣởng trong bài này hợp với tƣ tƣởng của Trang trong Nội thiên, nhƣng tác giả chắc tƣởng tƣợng thêm, cho Trang tử ngồi xoạc chân, gõ nhịp mà hát, để câu chuyện thêm hấp dẫn. Trang vốn coi sinh tử nhƣ nhau (tề sinh tử), chỉ là những biến hoá tự nhiên nhƣ trên cái vòng tròn, không phân biệt đâu là thuỷ, là chung vì chung của giai đoạn này cũng thuỷ của giai đoạn sau, vì vậy vợ chết Trang tử không thấy làm buồn mà khóc, nhƣng tất cũng không lấy đó làm vui cho vợ, tới nỗi gõ nhịp mà ca hát9[8]. Thú vị hơn nữa là bài XXXII.13 tả lúc Trang tử hấp hối: môn sinh bàn với nhau sẽ hậu táng. Ông nghe đƣợc bảo: - Đừng. Ta đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc

27 châu, vạn vật sẽ đƣa ma ta, nhƣ vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa? Môn sinh đáp: - Chúng con sợ quạ và diều hâu sẽ rỉa xác thầy. Trang tử bảo: - Tại trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dƣới đất thì bị kiến và sâu đục (đằng nào cũng vậy). Tại sao các con lại thiên vị, cƣớp của các loài trên mà cho các loài dƣới? Tắt thở tới nơi mà ông lão tám chục tuổi đó còn dí dỏm đƣợc nhƣ vậy! Những bài văn tả lúc chết của các triết gia lớn đều bất hủ, vì chứa những tƣ tƣởng cao đẹp, mà lại cho ta hiểu rõ thêm chí hƣớng, tƣ cách tuyệt vời của họ. Trong bộ Hương sắc trong vườn văn10[9] chƣơng XIII, tôi đã dịch đoạn chép lúc Socrate thản nhiên đƣa chén thuốc độc lên uống một hơi, thấy đám môn sinh ròng ròng nƣớc mắt, ông rầy: Khóc lóc gì kì vậy? Thầy đã đuổi đàn bà ra khỏi là để tránh cái phiền đó vì thầy muốn đƣợc chết yên ổn. Thôi, bình tĩnh mà an mệnh cả đi. Trong cuốn Nhà giáo họ Khổng11[10] tôi cũng đã thuật lại lúc Khổng tử biết mình sắp chết, than thở xã hội vẫn chƣa hết loạn, rồi đây không còn ai thay mình đƣợc nữa. Tôi xin dịch thêm dƣới đây hai bài 5 và 6 chƣơng Thái bá (Luận ngữ) lúc hấp hối của Tăng tử: Tăng tử đau nặng (sắp mất) cho gọi các đệ tử tới bảo: Dở tay ta ra xem, dở chân ta ra xem (có toàn vẹn không) nào. Kinh Thi có câu: Phải nơm nớp, chăm chăm nhƣ xuống vực sâu, nhƣ đi trên giá mỏng. Từ đây về sau ta mới biết chắc rằng ta giữ đƣợc (thân ta) khỏi các điều hƣ hỏng, tàn tật đó các trò. Rồi khi Mạnh Kính tử (một đại phu nƣớc Lỗ) lại thăm, ông nói: Con chim sắp chết thì kêu lên tiếng

28 bi thảm, con ngƣời sắp chết thì thốt ra lời đạo đức. Bậc quân tử (ngƣời trị dân, trỏ Mạnh Kính tử) nên giữ đƣợc ba điều này: dong mạo đừng bạo ngƣợc, ngạo mạn, nét mặt phải thành tín, ngay thật; lời nói đừng nên thô bỉ, bội nghịch. Tăng tử không buồn vì sắp chết, nhƣng chỉ là một nhà đạo đức mừng rằng suốt đời không mắc tội gì, đã giữ đƣợc trọn vẹn thân thể, không làm nhục cha mẹ; và còn chút hơi thở thì khi gặp dịp, ông còn khuyên ngƣời ta thành tín, khiêm tốn, nhã nhặn. Khổng tử chí lớn hơn nhiều, muốn làm một nhà cải tạo xã hội, gắng sức suốt đời, nhƣng xã hội vẫn loạn lạc, dân chúng vẫn điêu linh, nên ông buồn, không phải buồn cho ông mà buồn cho thiên hạ rồi đây sau khi ông mất, sẽ còn khốn khổ hơn nữa. Nhiệt tâm của ông lúc đó vẫn chƣa tắt12[11]. Socrate bình thản hơn; ông cũng muốn giúp nƣớc nhƣng kẻ cầm quyền không hiểu ông, bắt ông chết thì ông chết, mà ông không oán ai cả. Trang tử khoáng đạt hơn cả, vui vẻ để cho quạ, diều rỉa xác. Ông còn mắng đùa môn sinh nữa. Và con ngƣời đó nghệ sĩ làm sao khi tƣởng tƣợng đám tang của mình có trời đất làm quan quách, trăng sao làm châu ngọc, có vạn vật tiễn đƣa. Thật là hoà đồng với vũ trụ. Trong văn học sử nhân loại, chắc không có đoạn văn thứ hai nào nhƣ bài XXXII.3 đó. Trang tử vốn chủ trƣơng không nên tranh biện, vì tranh biện thì kẻ thắng chƣa nhất định là phải, kẻ thua không nhất định là trái; hơn nữa tranh biện không thuyết phục đƣợc ai cả, mà cũng không thể dùng ai làm trọng tài để phê phán ai phải ai trái đƣợc (bài II.12 Tôi sẽ trở lại điểm này trong một chƣơng sau). Vậy mà trong bộ Trang tử, chúng ta thấy có tới khoảng một chục chỗ Trang tranh biện với Huệ Thi. Chẳng hạn bài XXIV.5 Trang tử hỏi Huệ Thi: - Ngƣời bắn cung vô tình bắn trúng đích thì có thể gọi là thiện xạ rồi kết luận rằng mọi ngƣời đều là Hậu Nghệ (một ngƣời bắn rất giỏi thời thƣợng cổ) cả không? Huệ tử đáp: - Đƣợc.

29 Trang tử lại hỏi: - Nếu trong thiên hạ không có chân lí chung cho mọi ngƣời mà ai cũng tự cho mình là nắm đƣợc chân lí, thì có thể bảo rằng mọi ngƣời đều là minh triết nhƣ vua Nghiêu đƣợc không? Huệ tử đáp: - Đƣợc. Trang tử bảo: - Vậy thì Nho, Mặc, Dƣơng Chu, Công Tôn Long là bốn, với ông nữa là năm, nhà nào nắm đƣợc chân lí? ( ) Huệ tử đáp: - Nay các phái Nho, Mặc, Dƣơng Chu và Công Tôn Long tranh biện với tôi, dùng lời lẽ công kích nhau, lớn tiếng áp đảo nhau, mà không ai bác bẻ đƣợc tôi, còn gì sƣớng cho bằng. Bài đó cho thấy Huệ Thi chỉ là một nhà nguỵ biện nhƣ Công Tôn Long (Chƣơng XXXIII, bài 9 có chép mấy điều nguỵ biện của ông ta). Hai lần ông ta đáp bƣớng: Đƣợc Đƣợc, lần cuối mới thú thực rằng tranh biện chẳng phải để tìm chân lí gì cả, mà chỉ cốt tìm cái vui là không ai bác bẻ đƣợc mình. Rõ rằng hơn nữa là lần Trang và Huệ đấu khẩu với nhau về cái vui của cá (XVII.7): Trang tử cùng với Huệ tử đi dạo trên cầu sông Hào, Trang tử bảo: - Đàn cá du (một loại cá trắng) kia thung dung bơi lội, đó là cái vui của cá. Huệ tử bẻ:

30 - Ông không phải là cá, làm sao biết đƣợc cái vui của cá? Trang tử đáp: - Ông không phải là tôi, làm sao biết đƣợc rằng tôi không biết cái vui của cá? - Tôi không phải là ông, dĩ nhiên tôi không biết đƣợc ông, nhƣng ông không phải là cá thì hiển nhiên là ông không biết cái vui của cá. Trang tử bảo: - Xin trở lại câu hỏi đầu tiên. Ông hỏi tôi làm sao biết đƣợc cái vui của cá. Nhƣ vậy tức là ông nhận rằng tôi đã biết cái vui đó rồi (nên mới hỏi làm sao tôi biết đƣợc?). Làm sao biết tôi đƣợc ƣ? Thì đây: tôi đứng trên cầu sông Hào này mà biết đƣợc. Có ngƣời giải thích bài này bảo Trang tử vì đồng hoá với vạn vật nên biết đƣợc cái vui của cá, còn Huệ tử thì không. Tôi nghĩ ai nhìn cá thung thăng bơi lội dƣới dòng hoặc nghe chim ríu rít hót trên cành thì cũng thấy vui và cho rằng chúng cũng vui. Tâm lí đó rất thông thƣờng, chẳng cần chủ trƣơng vật hoá nhƣ Trang mới có ý nghĩ đó. Có thể chính Huệ tử cũng thấy cá vui, mà chỉ bắt bẻ bạn để nghe cãi lí thôi. Và Trang đã cãi lí y nhƣ các nhà trong phái nguỵ biện. Nếu chỉ có một bài này, thì tôi có thể ngờ rằng do ngƣời đời sau bịa ra; nhƣng còn bài XXIV.5 đã dẫn trên, và nhiều bài khác nữa, hai nhà tranh biện về lẽ vô dụng, hữu dụng (bài I.5, XXVI.7) hoặc thế nào là hữu tình, vô tình (V.6). Nhất là bài XXIV.6, xác nhận rằng Trang rất thích tranh biện với Huệ Thi, nên khi Huệ Thi mất rồi, Trang tiếc nhƣ tiếc một ngƣời tri kỉ. Lần đó Trang đi qua ngang mộ Huệ tử, quay lại nói với ngƣời phía sau: Một ngƣời đất Dĩnh (nƣớc Sở) đầu mũi dính một cục đất sét trắng lớn bằng cánh con ruồi, nhờ ngƣời thợ mộc tên là Thạch dùng lƣỡi rìu đẽo đi. Thợ mộc Thạch múa rìu vù vù nhƣ tiếng gió, đẽo văng cục đất sét mà không đụng tới mũi, và ngƣời kia cũng không hề thất sắc (Sức tƣởng của Trang thật dồi dào, kì dị) Vua Tống Nguyên Quân hay truyện đó, cho vời thợ mộc Thạch lại bảo:

31 Thử làm lại với quả nhân xem nào. Thạch từ chối: Thần đã làm đƣợc việc đó, nhƣng đối thủ của thần chết đã lâu rồi. (Ý muốn nói Tống Nguyên Quân không thể bình tĩnh, can đảm nhƣ ngƣời đất Dĩnh kia đƣợc). Rồi Trang tử kết: Từ khi Huệ tử mất, đối thủ của tôi cũng chết rồi, tôi không còn ai để đàm luận nữa. Nhắc lại chuyện đó, nhiều tác giả nhƣ Hoàng Cẩm Hoành chỉ khen Trang tử là một ngƣời chí tình, đa cảm, thƣơng tiếc bạn, mà không nhận ra rằng Trang cũng ham tranh biện lắm, sở dĩ thƣơng tiếc bạn là vì mất một đối thủ để tranh biện. Khía cạnh tính tình đó trái ngƣợc với tƣ tƣởng của Trang, nhƣng dù là triết gia thì ngƣời ta vẫn có những nét mâu thuẫn nhƣ chúng ta có lẽ triết gia còn có nhiều mâu thuẫn hơn chúng ta nữa nên chúng ta không nên lấy làm lạ. Khổng tử suốt đời lo cải tạo xã hội, mà trong thâm tâm lại chỉ mong mùa xuân, dắt bọn trẻ đi tắm ở sông Nghi, rồi lên hứng mát ở đền Vũ Vu; tính tình rất nghiêm trang, đạo mạo mà có lúc lại nói đùa với môn sinh; dạy ba ngàn học trò mà có mỗi một cậu con trai thì lại không biết cậu đã học những gì. (J.J.13[12] Rousseau tệ hơn nữa, viết một cuốn về giáo dục, cuốn Emile, mà con thì đã không dạy, cũng không nuôi). Tóm lại, Trang tử có một cá tính rất phong phú, đặc biệt: khoáng đạt, xuất thế, - sống bình dị, yêu tự do, nhàn tản, tiêu dao, ông cao ngạo, không coi vua chúa ra gì cả, kẻ nào làm trái ý ông, nhất là hay khoe khoang thì ông không giữ lời, mắng cho tàn nhẫn, nhƣng ông cũng có giọng trào phúng, đùa cợt; tranh biện với ai thì ông rất lanh trí, hoạt bát, sức tƣởng tƣợng của ông thiên biến vạn hoá, tạo ra những ngụ ngôn kì dị, khiến đối phƣơng lúng túng, không sao thắng đƣợc ông, về phƣơng diện đó ông thực là một thiên tài. Ông trái hẳn với Mạnh tử: Mạnh là một chính trị gia hơn là một triết gia, Trang là một nghệ sĩ hơn là một triết gia; Mạnh là một đại trượng phu giữ đúng nguyên tắc, Trang là một ẩn sĩ, không coi cái gì là quan trọng trừ sự tự do, sống theo sở thích của mình. Đó là chân dung của Trang theo những cố sự trong Trang tử. Những cố sự đó chỉ đáng tin một phần thôi, vì do nhiều ngƣời đời sau ghi lại những ngƣời này không phải hết thảy là môn sinh của Trang mãi tới đời Hán mới đƣợc thu thập thành sách lƣu truyền đến nay nhƣ chƣơng sau chúng ta sẽ thấy.

32 Chú thích: 14[1] Trong sách, bảng này in ở trang 13. [Goldfish] 15[2]Coi Mạnh tử của Cảo Thơm [3]Tƣ Mã Thiên đã xét lầm Trang. Trong phần II và IV, chúng ta sẽ thấy những chƣơng này không phải của Trang viết mặc dầu ở bộ Trang tử. 17[4] Giả thuyết: sách in là giả thiết. [Goldfish]. 18[5] Theo bác Vvn: Bùi Nhân 裴駰 còn đọc là Phí Nhân, ông sống vào thời Nam Tống, và Tập giải tức Sử kí tập giải. [Goldfish]. 19[6]Số La Mã chỉ số chƣơng, số Ả Rập chỉ số bài. XXI.5 là chƣơng XXI, bài 5. Các bản chữ Hán đều chia chƣơng, tôi lại chia thành nhiều bài nếu có thể đƣợc, cho độc giả dễ kiếm. 20[7] Một thứ nhạc khí thô sơ bằng đất của Tần. 14 [1] Chữ ngụ ngôn ở đây nghĩa rộng hơn nghĩa ngày nay. Ngụ là ở, là gởi. Chẳng những đặt ra một truyện để gởi vào đó một ý, là ngụ ngôn; mà mƣợn lời ngƣời khác nói thay cho mình (nhƣ cha mẹ nhờ bà mối hỏi vợ cho con: coi đoạn sau trong bài) cũng là ngụ ngôn. Trọng ngôn là những lời mà thiên hạ cho là đáng tin, đáng trọng nhƣ khi dẫn lời của Khổng Tử, Lão tử, Hoàng Đế, Nhan Hồi thì những lời đó là trọng ngôn. Chi ngôn Chi là một thứ chén hễ đầy nƣớc thì nó lật đổ, không có nƣớc thì đứng lại ngay. Những lời thích hợp với những hoàn cảnh thay đổi mỗi ngày thì gọi là chi ngôn. Câu đầu chƣơng này có hai cách dịch. Một cách của Quách Tƣợng (?), L.K.h. theo, dịch là: ngụ ngôn chứa chín phần mƣời chân lí (nghĩa là 10 lần thì đáng tin tới 9); trọng ngôn chức bảy phần mƣời chân lí. Một cách nữa của V.P.C., Diêu Nại, đƣợc D.N.L., H.C.H. theo mà dịch nhƣ trên. V.P.C. giảng nhƣ vậy có lẽ vì ông cho rằng bài 1 chƣơng Ngụ ngôn này do Trang tử viết để làm bài tựa cho cả cuốn. chúng tôi dịch theo Vƣơng, nhƣng thấy cả hai cách đều chƣa ổn.

33 21[8] Bài VI.4 trong Nội thiên có thể cũng không phải của Trang vì cũng cho hai nhân vật ca hát khi bạn chết. 22[9] Nhà xuất bản, 1962, Sài Gòn. 23[10] Nhà xuất bản Cảo Thơm, 1972, Sài Gòn. 24[11] Đoạn đó chỉ chép trong Sử kí của Tƣ Mã Thiên, không có trong Luận ngữ, chỉ nên coi là một truyền thuyết thôi. 25[12] Coi Nhà giáo họ Khổng Cảo Thơm [1]Lá Bối xuất bản, 1969, Sài Gòn. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương II TÁC PHẨM XUẤT HIỆN TỪ THỜI NÀO?

34 Theo Hoàng Cẩm Hoành thì Hán thư Nghệ văn chí (của Ban Cố 32 92) ghi rằng bộ Trang tử gồm 52 thiên chia làm: Nội thiên 7, Ngoại thiên 28, Tạp thiên 14, và Giải thuyết 3. Bản đó phải chăng là bản cổ nhất, mà nay đã thất truyền? Một thuyết khác (trong Kinh điển thuyết văn tự lục) bảo Lƣu An, tức Hoài Nam vƣơng (? 122 tr. TL), cháu Hán Cao tổ, cũng sƣu tập đƣợc một bản nhờ các môn khách chú giải, không biết bao nhiêu thiên, hiện nay cũng thất truyền. Tƣ Mã Thiên (-145 -?) sanh sau Lƣu An chƣa đầy một thế kỉ, là ngƣời đầu tiên sống gần Lƣu An nhất và viết về Trang tử cơ hồ không biết tới bản của Lƣu An đó và chỉ bảo Trang viết một bộ sách gồm trên mƣời vạn chữ, không cho biết gồm bao nhiêu thiên, mà những thiên quan trọng nhất: Tiêu dao du, Tề vật luận lại không nhắc tới, chỉ kể vài thiên tầm thƣờng: Ngƣ phủ, Đạo chích, Khƣ khiếp, Canh Tang Sở Mãi tới đời Tấn, thế kỉ thứ 3, mới xuất hiện một bản do Hƣớng Tú chú giải, gồm 26 thiên, Hƣớng Tú chú giải chƣa xong mới đến chƣơng Thu thuỷ thì mất; một ngƣời bạn là Quách Tƣợng sửa lại rồi chú giải tiếp, theo tôn chỉ của phái huyền học thanh đàm các đời Nguỵ, Tấn, thành một bản khác gồm 27 thiên; tức bản lƣu truyền ngày nay. Nhƣ vậy, từ đời Hán đến đời Tấn, bộ Trang tử đã mấy lần thất lạc, sƣu tập lại rồi thất lạc nữa, mỗi lần nhƣ vậy chắc sai đi ít nhiều. Và bản hiện nay mọi ngƣời dùng xuất hiện lần đầu tiên cách Trang tử sáu thế kỉ. Nhƣ vậy ai dám bảo rằng nó giữ đúng đƣợc tƣ tƣởng của Trang? Bản đó chia ra làm ba phần nhƣ sau: NỘI THIÊN gồm 7 chương 27 [1] I -- -Tiêu dao du II --Tề vật luận III -Dƣỡng sinh chủ IV -Nhân gian thế

35 V ---Đức sung phù VI --Đại tôn sƣ VII - Ứng đế vƣơng. NGOẠI THIÊN gồm 15 chương VIII ---- Biền mẫu IX Mã đề X Khƣ khiếp XI Tại hựu XII Thiên địa XIII ---- Thiên đạo XIV -----Thiên vận XV Khắc ý XVI -----Thiện tính XVII ----Thu thuỷ XVIII ---Chí lạc XIX -----Đạt sinh XX Sơn mộc XXI -----Điền Tử Phƣơng XXII ----Trí bắc du TẠP THIÊM gồm 11 chương XXIII ----Canh Tang Sở XXIV ----Từ Vô Quỉ XXV -----Tắc Dƣơng XXVI ----Ngoại vật XXVII ---Ngụ ngôn XXVIII --Nhƣợng vƣơng XXIX ----Đạo Chích XXX -----Thuyết kiếm XXXI ----Ngƣ phủ XXXII ---Liệt Ngự Khấu

36 XXXIII --Thiên hạ Cũng theo Hoàng Cẩm Hoành, ngƣời đầu tiên nêu ra vấn đề chân nguỵ trong Trang tử là Tô Đông Pha đời Tống. Đại khái Tô bảo Trang có ý bênh vực Khổng tử mà lời văn thì lại không phải vậy. Bề ngoài thì công kích, mà bề trong là ngầm giúp đỡ ( ). Nhƣ chƣơng Thiên hạ phê bình các đạo thuật từ Mặc tử đến Bành Mông, Thận Đáo, Lão, Trang, mà không hề nhắc đến Khổng tử, nhƣ vậy là cực tôn sùng Khổng tử. 28 [2] Nhƣng lại có những chƣơng Đạo chích, Ngƣ phủ thì rõ ràng công kích Khổng tử. Còn những chƣơng Nhƣợng vƣơng, Thuyết kiếm thì lời thô thiển, bỉ lậu, không hợp nghĩa lí. Vậy Tô đã nghi ngờ bốn chƣơng đó (Đạo chích, Ngƣ phủ, Nhƣợng vƣơng, Thuyết kiếm) do ngƣời đời sau nguỵ tác. Sau Tô, số học giả nghi ngờ sự nguỵ tác trong Trang tử càng ngày càng nhiều. Chẳng hạn nhƣ La Miễn Đạo và Tống Liêm đều đồng ý với Tô; riêng La còn ngờ hai chƣơng Khắc ý, Thiện tính nữa, vì lời cũng nông cạn, không phải của Trang. Trịnh Viện (đời Minh) hoài nghi thêm hai chƣơng Mã đề, Khƣ khiếp, và cho rằng chỉ có bảy chƣơng trong Nội thiên là của Trang tử, còn hai mƣơi sáu chƣơng kia đều do môn đồ của Trang viết rồi thêm vào. Sau đó, Vƣơng Phu Chi, Diêu Nại, Vƣơng Tiên Khiêm đều bảo Ngoại thiên không phải của Trang tử. Gần đây, vấn đề chân nguỵ ngày càng phân tích kĩ hơn nữa, nhƣ La Căn Trạch trong Chư tử Khảo sách (Nhân dân xuất bản xã 1958). Hoàng Cẩm Hoành trong Trang tử độc bản đã làm một bản liệt kê ý kiến của mỗi nhà về sự chân nguỵ của mỗi thiên. Đại khái thì ai cũng nhận rằng Nội thiên của Trang tử (trừ một số bài) còn Ngoại thiên và Tạp thiên thì đại đa số của ngƣời đời sau. Nhƣng tôi nhận thấy điều này: cơ hồ tất cả các học giả đều xét tổng quát từng chƣơng để xem chƣơng nào trong Ngoại thiên và Tạp thiên là của Trang hay của môn phái Trang, môn phái Lão; chƣa ai đặt thành vấn đề rằng mỗi chƣơng có thể do nhiều ngƣời viết, hỗn tạp chứ không nhất trí.

37 Theo tôi những ngƣời đời Hán hay Lục Triều (Nguỵ, Tấn) khi thu nhập các bài để cho vào mỗi chƣơng, đã không chú trọng tới điểm nhất trí đó, có lẽ không hề đặt ra vấn đề chân nguỵ nữa. Xung hư chân kinh (tức Liệt tử) nhƣ vậy, mà Nam Hoa kinh (tức Trang tử) cũng vậy. Đó là một lỗi chung của nhiều công trình sƣu tập thời đó. Trong bộ Liệt tử (Lá Bối ) tôi bảo không sao phân biệt đƣợc bài nào của Liệt Ngự Khấu viết, bài nào của ngƣời sau viết (có thể toàn thể đều do ngƣời đời sau viết), cho nên tôi chỉ sắp đặt lại theo nội dung, chia thành các chƣơng: Vũ trụ, Sinh tử, Đạo, Huyền thoại và Truyền thuyết, Cố sự và ngụ ngôn cho dễ kiếm. Trong bộ Trang tử này, vấn đề chân nguỵ quan trọng nhất, mà sự nhận định về chân nguỵ chỉ là những giả thuyết có thể đúng nhiều hay ít, có đúng cũng chỉ đúng về đại cƣơng: của Trang hay của ngƣời đời sau; chứ không căn căn cứ vào đâu để quả quyết bài này của phái Trang, phái Lão, phái Khổng đƣợc. Vì vậy sắp đặt lại các bài theo phái là một việc mạo hiểm. Còn sắp đặt theo từng vấn đề (nhƣ trong Liệt tử tôi đã làm) là một việc vô ích, vì mỗi vấn đề có nhiều chủ trƣơng khác nhau (tuỳ ngƣời viết ở trong môn phái nào), có khi trái ngƣợc nhau nữa (chẳng hạn vấn đề Đạo, có bài hiểu Đạo theo Lão, Trang, có bài lại phân biệt ra Thiên đạo, nhân đạo; vấn đề vô vi, có bài chủ trƣơng vô vi nhƣ Lão, Trang nghĩa là cứ thuận theo tự nhiên mà hành động, có bài bảo vua thì vô vi mà bề tôi thì hữu vi; nhất là thái độ đối với các ông thánh của đạo Nho, nhƣ Nghiêu, Thuấn có bài mạt sát kịch liệt, có bài đề cao, có bài ôn hoà). Do đó mà tôi vẫn giữ lối trình bày của cổ nhân, giữ nhan đề và thứ tự các chƣơng, chia mỗi chƣơng ra nhiều bài để độc giả dễ kiếm, mỗi bài mang một số Á Rập, và không có nhan đề; sau cùng, tôi một phần dựa vào ý kiến của ngƣời trƣớc, một phần tôi đƣa ra ý kiến của riêng tôi để phỏng định chƣơng nào hoặc bài nào là chân hay nguỵ, nếu là nguỵ thì có thể là của phái nào. NỘI THIÊN Trƣớc hết chúng ta hãy xét sự phân biệt Nội thiên, Ngoại thiên, Tạp thiên có hợp lí không đã. Có điều này chắc chắn, ai cũng công nhận là Trang tử khác hẳn Lão tử (tức Đạo Đức kinh), Luận ngữ, Mạnh tử, thành hình lần lần trong một thời gian rất dài, từ sinh thời của Trang tử tới cuối thời Chiến Quốc hay đầu đời Hán, trong khoảng hai trăm năm hay hơn nữa. Xét chung thì Nội thiên do Trang tử viết, còn hai thiên Ngoại và Tạp thiên do ngƣời sau thêm vào. Sự phân biệt Nội thiên ra một bên, Ngoại và Tạp thiên ra một bên là điều rất hữu lí và rất dễ nhận. Vì

38 Nội thiên có nhiều đặc điểm, khác hẳn Ngoại và Tạp thiên: 1. Nội thiên có tính chất nhất quán: Chƣơng I đƣa ra một quan niệm về hạnh phúc: thảnh thơi tự tại; và cho ta biết làm sao thì có thể hoàn toàn tự do mà thảnh thơi tự tại đƣợc. Chƣơng II bàn về lẽ mọi vật trong vũ trụ đều tuyệt đối bình đẳng, không vật nào quí, không vật nào tiện, hơn nữa không có cả thị phi, chung thuỷ, thiện ác nữa, mình và vật nữa. Chƣơng III chỉ cho ta phép dƣỡng sinh để có thể hƣởng đƣợc tuổi trời (chung kì thiên niên) mà sống cuộc đời vui thú. Chƣơng IV chỉ cho ta phép xử thế trong thời loạn. Chƣơng V đƣa ra một tiêu chuẩn về bậc chí đức: Theo thiên tính, trút bỏ hết thế tính. Chƣơng VI luận về Đạo và sự đắc Đạo. Chƣơng VII thuộc về chính trị luận, đại ý là các đế vƣơng trị thiên hạ phải vô vi, nghĩa là hƣ tâm, thuận theo lẽ tự nhiên mà không dùng cơ trí. Nhƣ vậy trong phần Nội thiên chúng ta đƣợc thấy quan niệm của Trang về vũ trụ, tri thức, nhân sinh, chính trị, đủ thành một hệ thống triết lí. Nhiều học giả thời trƣớc đã nhận thấy tính nhất quán đó. Chử Bá Tú 29 [3] bảo: Nội thiên bắt đầu chƣơng Tiêu dao du và kết thúc bằng chƣơng Ứng đế vương, cho thấy điều quan trọng trong đạo học là cầu ở chính mình thì gặp cảnh nào cũng vui, rồi sau quan sát vạn vật ở ngoài sẽ thấy mọi vật đều ngang nhau (tề); thấy vật ngang nhau rồi thì mình quên mình đƣợc; tự quên mình đó là chủ yếu của phép dƣỡng sinh. Dƣỡng sinh để cho mình sung sƣớng, ứng vật để cho vật phát triển tự nhiên (thiện vật), hai việc đó đều cần có đức sung mãn, đức sung mãn thì vạn vật phù hợp mà

39 tôn lên làm thầy (?) ( ) mà ở trong, mình thành thánh, thần, ở ngoài (tức trị dân) mình thực hiện đƣợc lí tƣởng của đế vƣơng. Gần đây, Tƣởng Phục Thông 30 [4] cũng bảo chƣơng Tiêu dao du là cái mào cho toàn thể Nội thiên, mà chƣơng Tề vật luận quét sạch cái quan niệm thị phi, mình và vật, mở đƣờng cho lập luận (tức lí thuyết chính trị); các chƣơng sau hoặc bàn về phép dƣỡng sinh, hay cách xử thế, cách đạt đƣợc cái đức sung mãn, đều phải lấy Đạo làm thầy; Đạo đó ứng dụng vào việc trị nƣớc thì thành đế, vƣơng. Cũng có thể hiểu một cách khác đƣợc, chẳng hạn: Thảnh thơi tự tại (Tiêu dao du) là mục đích của loài ngƣời cũng nhƣ của vạn vật. Muốn đạt đƣợc cảnh giới đó chúng ta phải bỏ quan niệm thị phi, mình và vật đi (Tề vật luận), phải biết phép dƣỡng sinh (Dƣỡng sinh chủ), cách xử thế (Nhân gian thế); cao hơn nữa, phải tu dƣỡng, cho đức đƣợc sung mãn (Đức sung phù), mà lấy Đạo làm thầy (Đại tôn sƣ); và muốn cho mọi ngƣời trong thiên hạ đƣợc thảnh thơi tự tại thì ngƣời cầm quyền phải theo Đạo vô vi mà trị dân. Hiểu theo cách nào, chúng ta cũng thấy có một sự nhất quán trong bảy chƣơng của Nội thiên, tính cách đó Ngoại và Tạp thiên thiếu hẳn. 2. Tư tưởng trong Nội thiên rất ít mâu thuẫn nhau; trái lại trong Ngoại và Tạp thiên, tƣ tƣởng rất hỗn tạp, rõ ràng là của nhiều ngƣời trong nhiều phái viết; điểm này sẽ đƣợc xét kĩ trong tiết sau. 3. Bút pháp trong Nội thiên cao hơn Ngoại và Tạp thiên, đặc biệt là bút pháp trong hai chƣơng đầu: Tiêu dao du và Tề vật luận. 4. Trong Nội thiên nhan đề tóm tắt được đại ý trong chương, còn trong Ngoại và Tạp thiên, ngƣời ta dùng vài chữ trong câu đầu để đặt tên chƣơng, thành thử nhan đề không liên quan gì tới ý chính trong chƣơng cả; nhiều chƣơng cũng không có cả ý chính nữa. Đó là bốn đặc điểm khiến Nội thiên phải đƣợc tách rời khỏi hai thiên kia. Tuy nhiên, Nội thiên có thực do Trang tử viết không? Một số ngƣời còn nghi ngờ và đƣa ra mấy lí do không vững lắm. Họ bảo:

40 1. Tƣ Mã Thiên trong Sử kí chỉ nói rằng Trang tử viết những chƣơng Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp để mạt sát Khổng tử chứ không hề bảo Trang tử viết Nội thiên. Điều đó có thể do Tƣ Mã Thiên không khảo sát kĩ lƣỡng, không đủ chứng rằng Nội thiên không phải của Trang tử. 2. Cổ nhân thƣờng lấy mấy chữ đầu trong chƣơng để đặt tên cho chƣơng, nhƣ trƣờng hợp Luận ngữ, Mạnh tử rồi đời sau mới lấy ý chính trong chƣơng mà đặt tên, vậy Nội thiên phải xuất hiện sau Ngoại và Tạp thiên, tức vào khoảng đời Hán, và không thể do Trang tử viết. Lẽ đó sai. Thời Chiến Quốc, đã có nhiều nhà dùng ý chính để đặt tên chƣơng, nhƣ Tôn tử, Công Tôn Long, Khuất Nguyên, Mạnh tử chỉ là một ngoại lệ. 3. Lối chia tác phẩm thành Nội và Ngoại thiên bắt đầu từ đời Hán. Nhƣng Quản tử cũng chia ra Ngoại ngôn, Nội ngôn; Hàn Phi tử cũng có Nội trừ thuyết, Ngoại trừ thuyết; vậy lối chia ra Nội, Ngoại đã có từ đời Chiến Quốc rồi. Vả lại, dù lối chia đó xuất hiện từ thời Hán thì cũng chỉ chứng minh đƣợc sự phân chia ra Nội, Ngoại bắt đầu từ đời Hán chứ không chứng minh đƣợc rằng Nội thiên do một ngƣời đời Hán viết, không phải của Trang tử. Nhƣng xét kĩ Nội thiên, chúng ta cũng phải nhận có vài chỗ khả nghi trong hai chƣơng Nhân gian thế và Đại tôn sƣ, vì những lí do dƣới đây: 1. Nhân gian thế. - Có sách bảo rằng bút pháp của chƣơng này không giống bút pháp sáu chƣơng kia vì chép toàn cố sự. Tôi thấy lời đó không đúng: Nhân gian thế cũng có hai bài 6 và 9 dùng thể nghị luận; mà chƣơng Đức sung phù gồm 6 bài thì 5 bài đầu là cố sự còn bài cuối là nghị luận. Vả lại, trong cố sự có thể có nghị luận, trong nghị luận có thể đƣa cố sự vào. Nhƣ bài 5 và 6 Nhân gian thế, nếu gom làm một thì có thể bảo là cố sự; nếu tách ra làm hai nhƣ tôi đã làm thì bài 5 là cố sự, bài 6 là nghị luận. Bài 8 và 9 cũng vậy, nếu gom làm một thì là cố sự; tách làm hai thì 8 là cố sự, 9 là nghị luận. Mà theo ý nghĩa thì phải tách làm hai, không thể gom làm một đƣợc. - Bài 1 chép rằng xƣa vua Nghiêu đánh các nƣớc Tùng Chi và Tƣ Ngao, mà bài 9 Tề vật luận lại bảo vua Nghiêu muốn đánh các nƣớc Tông, Khoái và Tƣ Ngao. Không lẽ một ngƣời viết chỉ cách có mấy mƣơi trang đã chép khác nhau nhƣ vậy. Vậy nếu Tề vật luận do Trang tử viết thì Nhân thế gian phải do ngƣời khác viết. Lẽ này có thể chấp nhận đƣợc nhƣng không quan trọng lắm: có thể do ngƣời sau

41 chép sai, cũng có thể một lần vua Nghiêu muốn đánh ba nƣớc Tông, Khoái và Tƣ Ngao, lần khác muốn đánh hai nƣớc Tùng Chi và Tƣ Ngao. - Bài 4 và 5 trùng ý nhau: Cả hai đều nhắc ta rằng hễ vô tài thì hƣởng hết tuổi trời. Bài 5 kém bài 4 do ngƣời sau bắt chƣớc Trang tử, viết rồi cho thêm vào. Rất có thể nhƣ vậy nhƣng vẫn chƣa đủ làm chứng cứ đƣợc. - Lí do này vững hơn: Trong bài 1, tác giả cho Khổng tử sáng suốt về Đạo, đặt vào miệng Khổng tử những tƣ tƣởng của Trang, chẳng hạn: Từ cái hƣ không của tâm thần mà phát ra ánh sáng; cái phúc ở cả trong sự hƣ tĩnh của tâm thần. - Bài 1. Thế mà trong bài 8, lại cho Khổng tử là ngƣời không biết cái lẽ tiến lui. Nhƣ vậy là tƣ tƣởng mâu thuẫn. Nhất là bài 8 này rất giống bài 5 trong chƣơng Vi tử sách Luận ngữ: Một người cuồng nước Sở đi ngang qua Khổng tử, hát: Con phượng kia, con phượng kia, Sao mà đức suy như vậy! Việc đã lỡ rồi, không can gián người được nữa, Nhưng việc sẽ tới, (nếu ngươi tỉnh ngộ) thì còn kịp đấy: Thôi đi, thôi đi, đời nay làm chính trị là một việc nguy hiễm. Khổng tử bèn xuống xe muốn nói chuyện với người cuồng đó, nhưng ông ta đã nhanh chân đi xa rồi, Khổng tử không nói được gì cả. Bài 8 không có câu kết, còn hai bài hát cũng bắt đầu bằng hai câu nhƣ trong Luận ngữ, mà ý nghĩa cũng vậy, tuy rƣờm hơn: Con phượng kia, con phượng kia, Sao mà đức suy như vậy? Không thể biết trước được tương lai, Không thể trở lui được về dĩ vãng. Khi thiên hạ thịnh trị Thì thánh nhân thực hiện sứ mệnh mình.

42 Khi thiên hạ loạn lạc Thì thánh nhân bảo toàn thân mình. Như thời này thì chỉ nên cầu đừng bị hình phạt. Hạnh phúc nhẹ hơn cái lông Mà không biết nhận lấy nó. Tai hoạ nặng hơn trái đất Mà không ai biết tránh nó. Thôi đi, thôi đi! Đừng mong lấy đức cảm hoá người nữa. Nguy thay, nguy thay! Đừng tự làm khổ mình Gai góc, gai góc! Đừng cản ngăn bước đường của ta. Đi vòng, đi vòng, đừng để gai đâm vào chân. 31 [5] Trang tử đâu lại bắt chƣớc ngƣời khác nhƣ vậy. - Hơn nữa, ngay trong một bài bài 2 bút pháp cũng không thông. Giữa bài cho Khổng tử khuyên Diệp Tử Cao: Con thờ cha mẹ thì phải thích ứng với hoàn cảnh, nhƣ vậy là chí hiếu; bề tôi thờ vua phải chấp nhận mọi nguy hiểm, nhƣ vậy là tận trung. Chủ trƣơng đó đúng là chủ trƣơng hữu vi của Khổng giáo. Nhƣng cuối bài, Khổng tử lại có giọng vô vi của Trang tử: Nên vƣợt ra ngoài sự vật mà tiêu dao tự tại, thuận theo cái lẽ tất nhiên để dƣỡng tâm, đó là đạt đƣợc Đạo. 2. Đại tôn sƣ cũng có vài chỗ mâu thuẫn với các chƣơng khác. - Chẳng hạn bài 1 hơi trọng lễ nghi, hình pháp và trí tuệ: [Bậc chân nhân] coi hình pháp là thân thể, lễ nghi là cặp cánh, trí tuệ là thủ đoạn để ứng phó ( ). Coi hình pháp là thân thể mình, nên khoan hồng khi trừng trị; coi lễ nghi là cặp cánh của mình, nên làm việc theo thế tục mà thành công; dùng trí tuệ để ứng phó, nên chỉ hành động khi bất đắc dĩ. Ý đó có màu sắc Khổng giáo, trái ngƣợc với ý trong Đức sung phù 5: Thánh nhân tiêu dao ở chốn hƣ không, coi trí tuệ là mầm thừa (gây tƣ lự), lễ tín là thứ keo [câu thúc ngƣời ta], đức huệ nhƣ thứ để tiếp dẫn, công nghệ [cũng đáng khinh] nhƣ thƣơng mại. Thánh nhân không mƣu tính cái gì, đâu cần tới trí tuệ? Không đẽo gọt cái gì, đâu cần tới keo 32 [6]? Không mất cái gì, đâu cần phải tiếp dẫn? Không chế tạo cái gì, đâu cần đến thƣơng mại?.

43 Bài 2, Nhữ Vũ bảo mình đắc đạo là nhờ học đƣợc của con của [bút] mực; con của mực là cháu của sự đọc sách. Ý đó cũng đáng ngờ là không phải chủ trƣơng của Trang. Trang trọng trực giác, hƣ tâm để đạt Đạo, đâu có dùng đến bút mực nhất là sách vở, cái cặn bả của cổ nhân đó? - Bài 4 cho chết là vui, nên khi bạn là Tử Tang Hộ chết. Mạnh Tử Phản và Tử Cầm Trƣơng hoà đàn ca hát: Ôi anh Tang Hộ, Ôi anh Tang hộ, Anh đã trở về bản thể của anh, Mà tụi tui vẫn còn làm người. Bài này cũng nhƣ bài XVIII.2 tôi đã dẫn ở chƣơng I, không chắc là của Trang vì Trang coi sinh tử nhƣ nhau, có lẽ nào lại cho họ ca hát mừng cho bạn đƣợc và than thở mình còn phải sống nhƣ vậy? Bài 8, Tử Tang than vì số bệnh mà phải nghèo và cực khổ. Tƣ tƣởng đó tầm thƣờng quá, nhất định không phải của Trang. Tóm lại, Nội thiên tƣ tƣởng nhất quán, thành một hệ thống, chắc do Trang tử viết, nhƣng hai chƣơng Nhân gian thế và Đại tôn sƣ có một số bài ý nghĩa mâu thuẫn với học thuyết của Trang, có thể do ngƣời đời sau viết thêm vào 33 [7] và khi tìm hiểu Trang tử, chúng ta nên gạt những chỗ mâu thuẫn đó ra. NGOẠI THIÊN VÀ TẠP THIÊN Vƣơng Phu Chi trong Trang tử giải so sánh Nội thiên với Ngoại thiên, bảo: - Nội thiên ý liên tục và có hệ thống, Ngoại thiên ý rời rạc,

44 - Nội thiên ý man mác mà qui về một mối, Ngoại thiên không hàm súc mà ý phồn tạp, - Nội thiên không cố chấp nhƣ Ngoại thiên, - Nội thiên tuy nén Khổng tử xuống, nhƣng không có giọng khinh bạc, - Nội thiên tuy có điểm giống Lão giáo nhƣng dựng đƣợc một thuyết riêng. Ngoại thiên nông cạn, bắt chƣớc Lão giáo mà không phát huy đƣợc gì, kém nhất là những chƣơng Biền mẫu, Mã đề, Khƣ khiếp, Thiên đạo, Thiện tính, Chí lạc. So sánh Ngoại thiên với Tạp thiên, Vƣơng bảo Tạp thiên tuy không thuần, nhƣng phát huy đƣợc ý nghĩa của Nội thiên, và hơn Ngoại thiên ở điểm đó; nhƣng có mấy chƣơng Nhƣợng vƣơng, Đạo chích, Thuyết kiếm, Ngƣ phủ lời và ý đều bỉ lậu, tầm thƣờng quá đỗi. Tuyên Dĩnh bảo Tạp thiên sở dĩ gọi là tạp vì mỗi bài đều tuỳ hứng mà viết, tuy nhiên đối với đạo, không nhất thiết là tạp loạn. Vƣơng bảo không thuần, Tuyên bảo là tuỳ hứng, ý nghĩa đại khái nhƣ nhau. Tôi thấy từ Nội thiên bƣớc qua Ngoại thiên, không khí khác hẳn, nhƣ đƣơng ở một nơi có ngăn nắp qua một nơi hỗn độn, càng về sau, cảm giác hỗn độn đó càng tăng. - Điều ta để ý tới trƣớc hết là nhan đề mỗi chƣơng không còn liên quan gì với ý nghĩa của chƣơng, nhƣ chƣơng VIII, lấy hai chữ biền mẫu mà đặt tên cho chƣơng. Biền mẫu có nghĩa là ngón chân dính nhau, còn ý cả chƣơng là phải thuận theo cái tính của mỗi vật, đừng làm cái gì hại tới bản tính tự nhiên (bất dĩ nhân hại thiên). Tất cả các chƣơng khác đều nhƣ vậy. - Điểm thứ nhì là tƣ tƣởng không thuần. Trong Nội thiên, trừ mấy bài đáng ngờ của ngƣời sau thêm vào hai chƣơng Nhân gian thế và Đại tôn sƣ, còn thì tƣ tƣởng nhất quán, có hệ thống. Trong Ngoại và Tạp thiên trái lại, ta thấy có ít nhất là năm xu hƣớng: * một xu hƣớng giữ đúng tƣ tƣởng của Trang, tôi gọi là học phái Trang; * một xu hƣớng theo Lão rõ rệt, tôi gọi là học phái Lão; trong phái này có nhà ôn hoà (La Căn Trạch

45 gọi là hữu phái); có nhà cực đoan, muốn đạp đổ mọi tổ chức xã hội, bỏ đạo đức, nhân nghĩa, lễ nghi, tuyệt thánh khí trí mà trở về thời nguyên thuỷ (La Căn Trạch gọi là tả phái); lại có các nhà chủ trƣơng ở ẩn, tu tiên, họ thuộc về phái Đạo gia ở đầu đời Hán, thờ Thái Thƣợng Lão Quân và Lão tử, Trƣơng Đạo Lăng 34 [8], nhƣng không tìm hiểu triết học của Lão, chỉ lo dùng bùa, phép, luyện đan để trƣờng sinh. * lại có một số tác giả chịu ảnh hƣởng cả Lão, Trang lẫn của Khổng, muốn dung hoà, phân biệt đạo Trời thì vô vi, đạo ngƣời thì hữu vi, hoặc chủ trƣơng vua nên vô vi mà bề tôi thì hữu vi, * một số khác đứng hẳn về Khổng phái, bảo phải phân biệt quí tiện, vì trời đất kia còn có tôn ti (trời cao, đất thấp) huống hồ là ngƣời, thật là trái hẳn với chủ trƣơng của Trang. Tác giả bài đó (XIII.4) mà đứng chung với tác giả bài Tề vật luận, trong một bộ mang tên Trang tử thì thật là mỉa mai, * lạ lùng hơn nữa là có một số chịu ảnh hƣởng của Pháp gia, trọng công nghệ, dùng hình danh thƣởng phạt để trị dân. Ba chƣơng XII (Thiên địa), XIII (Thiên đạo) và XIV (Thiên vận) có thể tiêu biểu cho sự hỗn tạp về tƣ tƣởng trong Ngoại thiên và Tạp thiên. - Điểm thứ ba là sự hỗn tạp đó chẳng những hiện trong mỗi thiên (Ngoại và Tạp) mà nhiều khi trong cả từng chƣơng nữa. Ba chƣơng VIII, IX, X tƣơng đối thuần nhất; tới chƣơng XI (Tại hựu) đã bắt đầu thấy hỗn tạp rồi: quan niện đối với thánh nhân trong bài 6 chƣơng đó trái ngƣợc với quan niệm chung trong chƣơng, rõ ràng là của ngƣời sau viết rồi thêm càng vào. Nội dung chƣơng XXI còn phức tạp hơn (coi nhận định ở cuối chƣơng đó, phần III). Tạp thiên lại hỗn tạp hơn Ngoại thiên nhiều: trong số 11 chƣơng (từ XXIII đến XXXIII) có tới bốn chƣơng: XXIV, XXV, XXVI, XXVII, gồm toàn những tạp văn ngắn không liên lạc gì xa gần với với nhau cả. Nhất là hai chƣơng XXIV (Từ Vô Quỉ) và XXXII (Liệt Ngự Khấu) rõ ràng là do ngƣời đời sau lƣợm lặt ở nhiều nơi rồi tiếc rẻ, gom lại chung cho khỏi mất. (Coi nhận định về hai chƣơng đó ở phần IV). Có thể vì tính cách hỗn tạp đó, nên ngƣời ta mới gọi thiên đó là Tạp chăng?

46 Thiên đó còn hỗn tạp ở điểm có bài rất hay mà có những bài rất dở. Nhiều bài trong những chƣơng Ngoại vật (XXVI), Ngụ ngôn (XXVII), nhất là trọn chƣơng cuối (Thiên hạ) bút pháp cao, trái lại những chƣơng Nhƣợng vƣơng (XXVIII), Đạo chích (XXIX), Thuyết kiếm (XXX), Ngƣ phủ (XXXI), nhƣ Tô Đông Pha và Vƣơng Phu Chi đã nhận thấy, bút pháp quá thô lậu, không xứng đƣợc đứng chung trong một bộ với những chƣơng Tiêu dao du, Tề vật luận. Ngoại thiên cũng có mấy chƣơng hỗn tạp, mà bút pháp cũng không đều: những chƣơng Thu Thuỷ XVII, Sơn mộc XX, Đạt sinh XIX, nghệ thuật cao hơn Tại hựu XI, Thiên địa XII, Khƣ khiếp X, v.v ; nhƣng sự cách biệt đó không quá nổi bật nhƣ trong Tạp thiên. - Sau cùng Ngoại thiên và Tạp thiên còn khác với Nội thiên ở vài điểm nhỏ này nữa: * Nhƣ Vƣơng Phu Chi đã nhận thấy, Nội thiên có một giọng nhã nhặn, ôn hoà đối với Nghiêu, Thuấn, Khổng tử. Ngoại và Tạp thiên có giọng quá khích, khen thì khen quá, nhƣ chƣơng XXXIII (Thiên hạ) hoặc bài XII.9 (gọi Khổng tử là phu tử) mà mạt sát thì mạt sát kịch liệt nhƣ chƣơng XXIX (Đạo chích). * Trong Nội thiên, có chỗ cho Lão lên tiếng nhƣ bài V.3, nhƣng đó chỉ là truyện tƣởng tƣợng, tuyệt nhiên không dẫn một lời nào trong Đạo Đức kinh cả, vì kinh này thời Trang tử có lẽ chƣa xuất hiện, hoặc mới xuất hiện mà Trang không đƣợc đọc; trái lại trong Ngoại thiên, chúng ta thấy chƣơng Khƣ khiếp dẫn Đạo Đức kinh bốn lần, Tại hựu dẫn hai lần, Thiên địa hai lần, Thiên đạo một lần, Chí lạc ba lần, Đạt sinh một lần, Sơn mộc hai lần, Điền Tử Phƣơng một lần, Trí bắc du ba lần; và trong Tạp thiên, Canh Tang Sở dẫn hai lần, Tắc dƣơng một lần, Ngụ ngôn một lần, Thiên hạ một lần 35 [9] (Coi Lão tử độc bản của Dƣ Bồi Lâm Tam dân thƣ cục 1973). Điều đó đủ tỏ rằng Ngoại và Tạp thiên xuất hiện sau thời Trang tử. * Ngoại và Tạp thiên có nhiều bài chép trong các sách khác nhƣ Sử kí của Tƣ Mã Thiên, nhất là Liệt tử, còn trong Nội thiên chỉ có mỗi một bài phỏng theo Luận ngữ nhƣ trên tôi đã dẫn. Nhƣ vậy ta thấy Ngoại và Tạp do nhiều ngƣời viết vào nhiều thời đại và ngƣời sau thu thập lại mà không cân nhắc kĩ lƣỡng.

47 Về vấn đề chân nguỵ, đa số các học giả đều cho rằng xét chung, Ngoại và Tạp thiên có rất nhiều chƣơng chắc chắn không phải của Trang tử, còn những chƣơng khác nếu Trang có viết một phần nào thì cũng khó nhận ra đƣợc đích xác. Trong phần III và IV, khi nhận định về các chƣơng, tôi sẽ xét về chân nguỵ của mỗi chƣơng và tôi cho rằng không có chƣơng nào hoàn toàn của Trang cả, nhƣng có một số chƣơng của môn đồ Trang. Dƣới đây tôi làm một bảng 36 [10] tóm tắt những nhận định đó để độc giả thấy đƣợc một cách tổng quát.

48 Chú thích:

49 37[1] Chúng tôi gọi là chương (sách Hán gọi là thiên); và để cho giản tiện, mỗi chƣơng tôi gọi bằng một số La Mã, ví dụ chƣơng VI (tức chƣơng Đại tôn sƣ), chƣơng XV, XXIII 38[2] Trang tử có thật sự bênh vực Khổng tử không, trong một chƣơng sau tôi sẽ bàn tới. 39[3] Do Hoàng Cẩm Hoành dẫn trong Trang tử độc bản trang Tam dân thƣ cục [4] Do Hoàng Cẩm Hoành dẫn trong Trang tử độc bản trang Tam dân thƣ cục [5] So với bài tƣơng ứng trong bản dịch: giữa câu 9 dƣ chữ nên ; cuối câu 14 dƣ chữ nữa ; cuối câu 15 thiếu chữ nữa. Có khá nhiều đoạn trích không đúng hẳn với đoạn tƣơng ứng trong phần dịch. Các chú thích sau, nếu sự khác biệt không nhiều và không làm sai lệnh ý nghĩa, thì tôi sẽ không chú thích [Goldfish]. 42[6] Keo: sách in sai thành kéo. Về sau, với các chữ mà tôi tin chắc là đã bị in sai, tôi sẽ sửa lại mà không chú thích. [Goldfish]. 43[7]Gần đây một số học giả nhƣ Cố Hiệt Cƣơng, Phó Tƣ Niên, Dong Triệu Tổ còn cho rằng cả thiên Tề vật luận cũng không phải của Trang mà của Thận Đáo nữa! 44[8]Có lẽ là: thờ Thái Thƣợng Lão Quân là Lão tử, Trƣơng Đạo Lăng. [Goldfish]. 45[9] Nghĩa là Nội thiên dẫn Đạo Đức kinh 0 lần, Ngoại thiên 19 lần, Tạp thiên 5 lần. [Goldfish]. 46[10]Tôi chia ra làm hai bảng. [Goldfish]. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương III VĂN BỘ TRANG TỬ

50 ƢU ĐIỂM Kim Thánh Thán, một nhà phê bình đời Minh theo chủ nghĩa ấn tƣợng cho rằng Trung Hoa có sáu bộ hay nhất (tài tử thƣ): 1- Trang tử, 2- Li Tao (của Khuất Nguyên), 3- Sử kí (của Tƣ Mã Thiên), 4- Tập thơ luật (của Đỗ Phủ) 47 [1], 5- Thuỷ hử (của Thị Nại Am), 6- Tây Sương kí (của Vƣơng Thực Phủ). Kim chắc có lí do để đặt Trang tử đứng đầu lục tài tử, nhƣng ai cũng phải nhận Trang Chu vừa là một triết gia vừa là một nghệ sĩ, và văn tài của ông đôi khi đƣợc ngƣời ta trọng hơn học thuyết của ông nữa. Nhƣ chƣơng trên chúng ta nhận thấy, tƣ tƣởng trong Ngoại và Tạp thiên hợp với tƣ tƣởng của Lão nhiều hơn là với tƣ tƣởng của Trang, vậy mà hai thiên đó sắp chung với Nội thiên của Trang, chứ không cho vào một cuốn riêng, có lẽ nguyên do chính là bút pháp, xét chung giống với Nội thiên. Trong số các tác phẩm lớn của các triết gia thời Tiên Tần, Liệt tử và Trang tử có một bút pháp đặc biệt, khác với giọng văn nghiêm trang đạo mạo của Khổng Mạnh, giọng văn cô đọng, đối nhau, nhƣ cách ngôn của Lão tử, và giọng văn rƣờm rà, lặp đi lặp lại, nhiều nhiệt tình nhƣ tuyên truyền của Mặc tử. Bài 1 chƣơng XXVII (Ngụ ngôn) đã vạch cho ta thấy bút pháp chung của cả ba thiên Nội, Ngoại, Tạp trong Trang tử: Trong cuốn này, ngụ ngôn chiếm chín phần mƣời trọng ngôn chiếm bảy phần mƣời trong chín phần mƣời đó một phần mƣời còn lại là những chi ngôn, tuỳ cơ ứng biến, mỗi ngày một khác, nhƣng vẫn là hợp lí tự nhiên. Ngụ ngôn chiếm chín phần mƣời là mƣợn việc hay ngƣời ngoài để luận ( ). Trọng ngôn chiếm bảy phần mƣời (của ngụ ngôn) vì muốn ngăn những lời tranh biện của thiên hạ, nên phải dẫn lời của bậc tiền bối. Nhƣng nếu chỉ là những ngƣời lớn tuổi mà không có học thức cao để cho ngƣời sau tin thì cũng không gọi là tiền bối đƣợc. Không có học thức để ngƣời khác tin thì

51 không phát huy đƣợc hết cái đạo làm ngƣời, nhƣ vậy là hạng ngƣời cổ hủ. 48 [2] Nhƣ vậy thì danh từ ngụ ngôn dùng trong bài đó có nghĩa rộng hơn nghĩa ngày nay. Nó gồm: a) Những truyện hoàn toàn tƣởng tƣợng mà nhân vật hoặc là cây cỏ, súc vật, thần linh, nhƣ truyện con giếc xin Trang tử một đấu nƣớc trong bài XXVI.2, truyện con cú kêu lên một tiếng lớn doạ con uyên sồ vì sợ nó tranh mồi của mình trong bài XVII.6; b) Những truyện về danh nhân nhƣng chỉ có tên là đúng còn hành vi, ngôn ngữ do tác giả tƣởng tƣợng ra nhƣ Khổng tử, Nhan Hồi trong bài IV.1, Lỗ Ai Công và Trọng Ni trong bài V.4; c) Những chuyện có thực nhƣng tác giả sửa đi ít nhiều cho hợp với chủ trƣơng của mình, nhƣ những bài chép truyện Khổng tử bị tai nạn giữa hai nƣớc Trần và Thái, chẳng hạn bài XXVIII.12: Khổng tử quả bị vậy mà vẫn vui, nhƣng Tử Lộ và Tử Cống đều là những môn sinh giỏi của ông, không khi nào lại chê thầy là vô liêm sỉ; d) Những cố sự hoặc những lời nói của danh nhân, hoàn toàn có thực. Ba loại b, c, và d đều viện dẫn những ngƣời thực hoặc truyện thực để lời của mình hoá ra nặng cân (trọng ngôn) hơn mà ngƣời đọc tin hơn. Còn chi ngôn chỉ là những lời nghị luận, giảng giải mà không dùng ngụ ngôn hay trọng ngôn. Ngày nay chúng ta chỉ dùng những truyện, hoặc là tƣởng tƣợng hẳn mà ta gọi là ngụ ngôn (loại a), hoặc là không tƣởng tƣợng chút nào mà ta gọi là cố sự (loại d) chứ không sửa đổi một sự kiện lịch sử hay đặt vào miệng cổ nhân những lời của chính mình nhƣ vậy là thiếu trung thực nhƣng thời Chiến Quốc cách đó hình nhƣ phổ biến. Đó là đặc điểm nổi bật nhất trong bút pháp Trang tử. Đặc điểm thứ nhì là sức tƣởng tƣợng của Trang rất mạnh mẽ, phong phú.

52 Ngay từ đầu bộ ông đã tƣởng tƣợng truyện con cá côn biến thành con chim bằng lƣng rộng không biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó nhƣ đám mây trên trời khi dời xuống biển Nam, nó đập nƣớc tung toé lên ba ngàn dặm rồi nƣơng gió lốc cuốn lên cao chín vạn dặm ; rồi tới một con rùa thiêng mùa xuân của nó dài năm trăm năm, mùa thu dài năm trăm năm, tới cây xuân mùa xuân dài tới tám ngàn năm, mùa thu cũng dài tám ngàn năm. Ông dùng những vật cực lớn, cực thọ để so sánh với những vật rất nhỏ, nhƣ con cút chỉ bay cao đƣợc vài nhẫn, và rất yểu nhƣ cây nấm chỉ sống đƣợc một buổi sáng để sau cùng kết luận rằng dù lớn nhỏ khác nhau nhƣ vậy mà các loài đó điều tiêu dao nhƣ nhau cả, không ao ƣớc đƣợc nhƣ loài khác, chỉ có loài ngƣời là không hiểu lẽ đó, buồn vì đời mình ngắn ngủi, muốn đƣợc nhƣ ông Bành Tổ nhƣng ông Bành Tổ chỉ sống đƣợc có bảy trăm năm, so với rùa thiêng và cây xuân có thấm gì đâu. Hình ảnh thật mới mẽ, mà tƣ tƣởng cao thâm, khoáng đạt. Gần trọn chƣơng V kể truyện những kẻ tàn tật, gù lƣng, không môi, cụt một giò, cụt ngón chân, hoặc xấu nhƣ quỉ, mà đức lại rất cao, đƣợc rất nhiều nhiều ngƣời theo học, thiếu nữ nào trông thấy cũng mê, để chứng tỏ rằng hễ có đức cảm hoá đƣợc ngƣời khác thì ngƣời ta quên hình dáng ghê tởm của mình đi, vậy tinh thần mới quan trọng chứ không phải thể chất, dong mạo. Nội thiên đầy những hình ảnh nhƣ vậy, không sao kể hết, tôi chỉ xin dẫn thêm một đoạn tuyệt diệu tả tiếng gió đầu chƣơng Tề vật luận: Đất thở thì thành gió. Gió không thổi thì thôi, đã thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét lên. Anh có nghe gió hú bao giờ chƣa? Trên rừng núi cao ghê gớm có những cây lớn chu vi đƣợc cả trăm gang tay, thân cây có hang có lỗ, nhƣ lỗ mũi, lỗ tai hoặc miệng ngƣời; lại có những lỗ (vuông) nhƣ lỗ đục trong các đà ngang, hoặc lỗ mắt cáo; có lỗ nhƣ miệng cối, nhƣ ao sâu, nhƣ vũng cạn. Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau, có khi nhƣ tiếng nƣớc chảy ào ào, có khi nhƣ tiếng tên bay vút vút; có khi nhƣ tiếng thú gầm, nhƣ tiếng thở nhẹ; có khi nhƣ tiếng ngƣời mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi nhƣ tiếng chim ríu rít, nhƣ tiếng ngƣời đi trƣớc hô, ngƣời đi sau đáp. Gió hiu hiu thổi thì nghe du dƣơng; gió lớn nổi lên thì nghe ào ào. Gió lớn ngừng rồi, các hang lỗ lại im lặng, mà anh có thấy cành lá lúc đó chỉ hơi lay động không?. Tôi chƣa thấy một bài văn tả gió nào có thể so sánh đƣợc với đoạn trên. Có lẽ vì không có nhà nào

53 nảy ra cái ý tả tiếng sáo tức âm nhạc của đất đó: Âu Dƣơng Tu chỉ tả mùa thu 49 [3], mà Tourgueniev chỉ tả tiếng gió trong rừng thôi 50 [4]. Trang tử đã ghi cho ta trên một chục tiếng gió : ào ào, vun vút, gầm, thở nhẹ, mắng mỏ, khóc lóc, than thở, ríu rít... nhƣng ông biết ngôn ngữ loài ngƣời không sao đủ để tả hết đƣợc, nên ông cho ta tƣởng tƣợng thêm: có cả vạn hang lỗ trên rừng núi, mặt đất, to nhỏ khác nhau, sâu nông khác nhau, hình thể khác nhau, và gió thổi vào mỗi hang mỗi lỗ là tạo nên một thanh âm khác. Nghệ thuật ông hàm súc mà hùng vĩ. Điểm thứ ba: văn của Trang đột ngột, biến hoá không sao lƣờng đƣợc. Bài đầu chƣơng I, chẳng rào đón gì cả, ông kể ngay truyện con cá côn biến thành chim bằng; chúng ta chƣa hiểu truyện đó có ý nghĩa gì thì ông tả hơi nƣớc từ đất bốc lên, tả màu trời xanh thăm thẳm; rồi ông đột ngột nói đến việc đổ một chén nƣớc xuống một chỗ lõm trong sân, để sau trở về truyện con chim bằng. Tới đây ta mới hiểu đƣợc ý ông: lớp không khí mà không dày thì không đỡ đƣợc con chim bằng cũng nhƣ nƣớc không sâu không đỡ đƣợc chiếc thuyền lớn. Từ con chim bằng tới con chim cƣu, ông nhảy qua truyện đi xa, rồi truyện cây nấm, con ve sầu với cây xuân, con rùa thiêng. Liên miên hết truyện nọ đến truyện kia, hết truyện loài vật đến truyện ngƣời: truyện ông Vinh tử, ông Liệt tử, gần nhƣ đầu Ngô mình Sở, biến hoá vô cùng, mãi tới khi hết bài, phải suy nghĩ mới thấy sự liên lạc mong manh, tế nhị giữa các truyện đó, và mới hiểu đƣợc ý của bài: muốn tiêu dao thì cứ theo thiên tính, bản năng của mình, đừng tuỳ thuộc một cái gì, quên mình đi, siêu thoát ra ngoài thế vật. Khi hiểu đƣợc ý Trang rồi thì ta thấy nhƣ tác giả chƣơng XXXIII (Thiên hạ) đã nói: hƣ hƣ, thực thực, kì ảo, thú vị. Điểm thứ tƣ: Trang tử rất lanh trí, thƣờng bịa ra những truyện có tính cách hoạt kê để đáp lại đối phƣơng, chứ ít khi lí luận, chính vì vậy mà Tƣ Mã Thiên bảo những kẻ túc học thời đó cũng không cải ông đƣợc. Ông nửa đùa nửa thực thì còn bắt bẽ ông cách nào?

54 Tinh thần hoạt kê đó chúng ta thấy trong bài 5 chƣơng I: Huệ Thi chê học thuyết của Trang rộng lớn mà không dùng đƣợc, nhƣ cây xƣ cao lớn mà chẳng ai thèm đốn. Ông đáp: Cây xƣ vì vô dụng nên không bị đốn mà đƣợc hƣởng hết tuổi đời. Nhƣng nó có thực vô dụng không hay ngƣời ta không biết dùng nó? Sao không trồng nó ở chỗ hƣ vô tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông để những kẻ nhàn rỗi, thơ thẩn dạo chung quanh, thảnh thơi ngủ dƣới bóng mát của nó?. Lại nhƣ bài II.5, muốn chê tinh thần cố chấp, ông dùng ngụ ngôn con khỉ chủ cho sáng ba trái lật, chiều bốn trái thì không chịu mà lại tỏ vẻ mừng khi đƣợc phát sáng bốn trái, chiều ba trái. Đó là tôi chỉ mới dẫn vài thí dụ trong Nội thiên, nếu kể cả những cố sự về Trang trong Ngoại thiên và Tạp thiên thì còn nhiều bài hoạt kê hơn, có khi cay độc nữa, nhƣ bài XXXII.6, 13. Nhƣng đó thuộc về Ngoại thiên và Tạp thiên rồi. Xét chung bút pháp trong hai thiên này kém xa bút pháp trong Nội thiên, và không có chƣơng nào vừa nghị luận, và tỉ dụ, đã kì ảo mà lại thú vị nhƣ hai chƣơng Tiêu dao và Tề vật luận đƣợc. Nhƣng cũng có những chƣơng nhƣ Thu Thuỷ, Sơn mộc mà cổ nhân rất thích và cũng dùng nhiều ngụ ngôn. Chƣơng Thu thuỷ tuy không phát huy thêm đƣợc gì nhƣng đã suy diễn đúng tƣ tƣởng của Trang, văn sáng sủa, mạch lạc, dễ đọc, vui. Ba chƣơng Thiên địa (XII), Thiên đạo (XIII), Thiên vận (XIV) cũng có nhiều bài thú nhƣ bài XII.9, dùng một ngụ ngôn để diễn cái ý đạo của cổ nhân không thể truyền lại đƣợc, mà sách chỉ là cặn bã của cổ nhân; bài XII.1 dùng một cố sự để chê cơ giới vì nó sinh ra cơ tâm. Nhất là bài XIV.1 có giọng siêu dật, đƣa ra một loạt câu hỏi, khiến ta nhớ tới bài Thiên vấn của Khuất Nguyên hỏi trời một trăm bảy mƣơi hai câu; tác giả XIV.1 chỉ hỏi trên một chục câu về vũ trụ thôi: Trời có vận chuyển không? Đất có đứng im không? Mặt trời mặt trăng có tranh chỗ với nhau không? Ai làm chủ tể cái đó? Ai duy trì cái đó? Ai vô sự mà đẩy cái đó khiến nó chạy? Hoặc giả có một cái máy bí mật bất đắc dĩ chạy hoài không? Hay là vũ trụ tự nhiên vận chuyển mà không tự ngừng đƣợc chăng? Mƣa là do mây chăng? Hay mây là do mƣa? Ai làm mƣa đổ? Ai vô sự mà cao hứng gây ra cái đó? Gió nổi ở phƣơng Bắc, khi thổi qua Tây, khi thổi qua Đông, có lúc lại xoáy ốc

55 mà cuốn lên cao. Ai hô hấp mà thành nhƣ vậy? Ai vô sự mà hƣớng gió về phía này phía khác và làm nó ngừng?. Một bài nữa lí thú về ý nghĩa và tài tƣởng tƣợng: Nhà vua có biết con ốc sên không?... Trên sừng bên trái của nó có một nƣớc tên là Xúc, trên sừng bên phải của nó có một nƣớc tên là Man. Hai nƣớc đó tranh đoạt đất của nhau hoài, số tử thƣơng tới mấy vạn, khi quân một nƣớc bại tẩu thì quân nƣớc kia truy kích mƣời lăm ngày sau mới về. So với vũ trụ vô biên này, một quốc gia dù lớn nhƣ Nga hay Mĩ, cũng chỉ nhƣ nƣớc Xúc hay nƣớc Man chứ khác gì? Hai tên Xúc và Man đó cũng có ý nghĩa lắm: Xúc có nghĩa là đụng chạm, tƣợng trƣng cho một dân tộc xâm lăng, Man có nghĩa là man di. Ngoài ra còn những bài nhƣ: XIII.9: diễn cái ý kẻ biết thì không nói, kẻ nói thì không biết, mà sách chỉ là cặn bã của cổ nhân. XIV.4: so sánh pháp độ đời xƣa với con chó rơm, dùng xong rồi thì liệng đi; vậy mọi truyền thống đều vô thƣờng. XX.8: mà các chính khách thời nào cũng nên nhớ: con ve hƣởng bóng mát mà không ngờ rằng con bọ ngựa đƣơng rình nó; con bọ ngựa mãi rình con ve mà không ngờ rằng con chim khách cũng định vồ nó; còn con chim khách bị Trang tử nhắm bắn mà không hay. Vật nào cũng mƣu hại lẫn nhau. Đúng là hình ảnh các nƣớc chƣ hầu thời Trang tử và các cƣờng quốc ngày nay. Những bài đó và nhiều bài khác nữa đều dùng bút pháp của Trang, tức thể ngụ ngôn để diễn những ý thâm trầm, hàm súc, khi thì hoạt kê, khi thì có thi vị. Đó là phần cống hiến đáng kể nhất của Ngoại và Tạp thiên; còn về triết thuyết, thì nhƣ trong phần III và IV chúng ta sẽ thấy, không có gì mới mẻ, đặc sắc lắm. Có hai bài nội dung và bút pháp khác hẳn các bài kia, nhƣ ở đâu lạc vào bộ Trang tử, tức bài XXXIII (Thiên hạ) mà tôi giới thiệu ở trên và sẽ còn nhắc lại trong chƣơng sau nữa; với bài XII.14 mà tôi xin trích dẫn lại đây đoạn cuối:

56 Ba ngƣời cùng đi mà có một ngƣời mê hoặc thì có thể đi tới chốn đƣợc vì số ngƣời mê hoặc ít hơn số ngƣời sáng suốt. Nếu hai ngƣời mê hoặc thì mệt nhọc mà không sao tới chốn đƣợc, vì số ngƣời mê hoặc nhiều hơn số ngƣời sáng suốt. Ngày nay cả thiên hạ mê hoặc, tôi có muốn tìm đúng đƣờng đi thì cũng không thể đƣợc. Buồn thật ( ) Biết rằng không thể đƣợc mà cứ miễn cƣỡng tìm cho đƣợc, cũng lại là mê hoặc nữa. Không bằng bỏ mặc mà không tìm gì cả, không tìm gì cả thì ai là ngƣời cùng lo buồn với tôi?. Thật là thốn tâm thiên cổ. Ai đó? Sao mà tiếng than ai oán nhƣ vậy, khiến cho trên hai ngàn năm sau, ngƣời đọc cũng phải xúc động! NHƢỢC ĐIỂM Tấm huy chƣơng nào cũng có mặt trái. Vì văn của Trang tử đột ngột, biến hoá bất thƣờng, không dùng phép chuyển, bố cục lỏng lẻo, thú thì có thú đấy, nhƣng quả nhiều khi khó hiểu. Tôi lấy thí dụ bài đầu chƣơng Tiêu dao du. Không thể đọc một lần mà hiểu ngay đƣợc. Mà sau khi đọc vài ba lần, hiểu đƣợc đại ý rồi, vẫn còn thấy vài chỗ còn tối nghĩa, tìm các sách chú giải thì mỗi nhà giảng một khác. Chẳng hạn câu nói về con chim bằng: khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã. Tôi theo Hoàng Cẩm Hoành, Liou Kia hway và Thành Huyền Anh (do Tiền Mục dẫn trong Trang tử toản tiê n) mà dịch là: nó xuống biển Nam vào tháng sáu, lúc gió nổi lên. Nhƣng Diệp Ngọc Lân lại dịch là: nó ở biển Nam phỏng nửa năm. Ai đúng ai sai? Đúng hay sai ở đây cũng không quan trọng vì truyện con chim bằng đó chỉ là tƣởng tƣợng. Rồi kế đó là đoạn: Dã mả dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ tức tƣơng xuy dã. Thiên chi thƣơng thƣơng, kì chính sắc dã? Kì viễn nhi vô sở chí cực dã? Kì thị hạ dã, diệc nhƣợc thị tắc dĩ hĩ. Dịch nghĩa từng chữ: Ngựa hoang vậy, bụi cát vậy, sinh vật dùng hơi thở mà thổi nhau vậy. Màu xanh xanh của trời kia, phải là bản sắc không? Hay là xa mà không tới chỗ cùng cực chăng? Ở trên nhìn xuống, cũng nhƣ vậy mà thôi. Ngựa hoang là cái gì đây? Sao đƣơng nói về con chim bằng lại nhảy qua con ngựa hoang, cùng cát

57 bụi, rồi tới màu xanh của trời? Mỗi nhà giải thích một khác. Trong bản dịch (phần II) tôi đã theo Vƣơng Phu Chi, cho rằng Trang tử muốn nói: Sở dĩ chim bằng bay cao đƣợc vì có hơi nƣớc những hơi nƣớc này bay lên, coi tựa nhƣ những con ngựa hoang bụi cát cùng hơi thở của các sinh vật đỡ nó ở dƣới, và một lớp không khí dày ở trên và ở dƣới. Chính lớp không khí dày đó làm cho màu trời hoá xanh, vì ở trên cao nhìn xuống thì cũng thấy màu xanh đó. Hiểu nhƣ vậy rất có lí, mà đoạn đó mới có liên lạc với đoạn sau; nhƣng đó chỉ là một lối suy diễn, có thực đúng với tƣ tƣởng của Trang không thì chỉ có Trang mới biết được. Thí dụ tôi mới dẫn còn tƣơng đối dễ hiểu, mà có hiểu sai thì cũng chẳng hại gì đến đại ý cả bài, giá có bỏ hẳn đi, cũng đƣợc nữa. Còn nhiều chỗ mù mịt hơn nhiều, không sao mò ra đƣợc manh mối, tìm các chú giải thì không ai giống ai, không có lối giảng nào làm cho tôi thoả mãn cả; có nhà lại làm thinh, họ cho là sáng sủa quá rồi chẳng cần giảng chăng? Tôi không muốn dẫn thêm ít thí dụ nữa, ngại rƣờm, nhƣng trong phần dịch các thiên, tôi đã ghi những chỗ tối nghĩa, độc giả sẽ thấy lời tôi mới nói không phải là quá. Tôi nghiệm thấy văn của Trang mà lại tƣơng đối dễ hiểu hơn văn của một số ngƣời đời sau trong Ngoại và Tạp thiên. Ngay trong Nội thiên, một vài bài tôi ngờ rằng không phải của Trang nhƣ bài IV.1 văn cũng rất tối. Phải có đọc Trang tử rồi, chúng ta mới thấy những tác phẩm của Khổng phái, nhƣ Tứ thư, sáng sủa biết bao. Nhất là bộ Mạnh tử trong nhƣ nƣớc suối vậy. Thói không dùng phép chuyển, có phải là thói chung của thời Chiến Quốc (trừ vài ngoại lệ nhƣ Mạnh tử) không? Ngay Tƣ Mã Thiên đời Hán cũng coi thƣờng phép chuyển, nhƣ trong bài Bá Di, Thúc Tề, mà chúng tôi đã giới thiệu tại phần I Sử kí. Hình nhƣ cổ nhân cứ diễn hết ý này đến ý khác, nếu ý dồi dào, tân kì và có liên lạc với nhau thì cách đó làm cho văn vừa gọn, vừa đột ngột, có cái thú riêng. Nếu tài kém, ý tầm thƣờng, không khéo sắp đặt thì khổ cho ngƣời đọc. Từ đời Đƣờng trở đi, nhờ có luật làm thơ: phá, thừa, thực, luận, kết, nên văn sĩ (thƣờng cũng là thi sĩ) rất chú trọng tới phép chuyển cùng bố cục mà cổ văn đạt tới một nghệ thuật rất cao. Rất nhiều đoản văn (ngƣời Trung Hoa gọi là tiểu phẩm) đời Đƣờng, Tống, Thanh mặc dù không có cái hùng khí, cái hơi dài nhƣ Trang tử hay Sử kí, không cuồn cuộn, man mác, nhƣng thật là những viên ngọc không vết, vừa đẹp, vừa sáng.

58 Tôi đã lạc ra ngoài đề rồi, xin trở lại những nhƣợc điểm trong văn Trang tử. Ngụ ngôn của Trang tử thƣờng rất hay, nhƣng phép dùng trọng ngôn của ông đã đi ngƣợc lại mục đích của ông muốn đạt. Thí dụ trong bài V.1, Trang tử cho Khổng Tử nói với Thƣờng Quí: Sống chết là việc lớn mà ông ấy (một ngƣời cụt chân tên là Vƣơng Đài) coi thƣờng, trời đất có sập ông ấy cũng không bị huỷ diệt; ông ấy xét kĩ cái chân thực, không bị cái giả tạo làm mê hoặc; ông ấy biết rằng vạn vật đều biến hoá, nên giữ đƣợc cái căn bản chân chính. ( ) Xét chỗ dị biệt của vạn vật thì lá gan và trái mật khác nhau cũng nhƣ nƣớc Sở và nƣớc Việt; mà xét chỗ giống nhau thì vạn vật chỉ là một. Biết đƣợc cái lẽ ấy thì không để ý đến sự nhận thức của tai mắt nữa mà tâm linh ngao du ở chỗ hài hoà của vũ trụ. Đã thấy vạn vật là một thì không thấy cái gì mất nữa. Cho nên Vƣơng Đài cho mình mất một chân cũng nhƣ mất một cục đất vậy thôi. Ý đó chính là của Trang tử, khoáng đạt mà có phần đúng. Không phải đặt vào miệng của Khổng Tử mà có giá trị hơn; trái lại ngƣời hiểu biết Khổng Tử sẽ nhận ngay ra là truyện bịa, rồi coi thƣờng. Huống hồ bài đó cho Khổng Tử là khoáng đạt, tới bài thứ ba cũng chƣơng đó, lại cho Khổng Tử là nông nổi, khiến Lão tử phải chê là không hiểu biết sống với chết chỉ là một, cái khả và cái bất khả thì cũng nhƣ nhau. Qua bài sau, bài 4, Khổng Tử lại trở thành một bậc đạt Đạo nhƣ Trang, thấu đƣợc lẽ tử sinh, đắc thất: Khổng Tử nói với vua Ai công nƣớc Lỗ: Tử sinh, đắc thất, cùng đạt, giàu nghèo, hiền ngu, chê khen, đói khát, nóng lạnh, đó là những biến hoá của sự vật, sự chuyển vận của luật trời, nhƣ ngày rồi đến đêm, mà không ai biết gốc ở đâu. Ai đạt đƣợc lẽ ấy, thì tâm thần không bị hỗn loạn, ngày đêm giữ đƣợc cái khí thuần hoà, ung dung, vui vẻ nhƣ khí xuân mà thích ứng với mọi sự biến hoá. Sao mà mâu thuẫn nhƣ vậy! Ngoại và Tạp thiên còn tệ hơn nữa. Trọng ngôn đƣợc dùng một cách bừa bãi, nhƣ bôi xanh bôi đỏ lên mặt các ngƣời thời trƣớc, từ Nghiêu, Thuấn tới Khổng Tử, Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Ngƣ, Bá Di, Thúc Tề, vân vân gây ra hai cái hại: - ngƣời nào không hiểu Nho, Lão, không thuộc sử Trung Hoa thì không nên đọc Trang tử.

59 - những tƣ tƣởng của Trang dù sâu sắc mà diễn theo thể trọng ngôn đó hoá ra những lộng ngôn nhƣ chỉ muốn cho ta đọc rồi cƣời chơi vậy thôi. Ngay đến ngụ ngôn tôi nghĩ cũng nên dùng vừa phải, không phải bài nào cũng hay cả. Chẳng hạn bài VII.7, Trang tử cho vua Nam Hải tên là Mau lẹ, vua Bắc Hải tên là Thình lình thấy ai cũng có bảy lỗ để nghe, ăn, và thở mà vua Trung Ƣơng là Hỗn độn không có một lỗ nào cả, bèn đục cho Hỗn độn có đủ lỗ, hậu quả là Hỗn độn chết. Trang muốn khuyên ta rằng cái gì do thiên nhiên tạo ra cũng hoàn hảo rồi, đừng xuẩn động sửa chữa thiên nhiên; chỉ tai hại thôi (bất dĩ nhân hại thiên). Nhƣng dùng thể ngụ ngôn ở đây, tôi chẳng thấy có gì lợi hơn là cứ dùng sự thực làm chứng cứ nhƣ tác giả bài IX.1: Ngựa có móng để dẫm lên sƣơng tuyết, có lông để chống gió lạnh. Chúng ăn cỏ, uống nƣớc, co giò lên nhảy nhót. Đó là chân tính của chúng. Chúng chẳng cần gì đến đài cao chuồng rộng đâu. Một hôm Bá Lạc bảo: Tôi khéo nuôi ngựa, rồi đốt, hớt lông chúng, gọt và đánh dấu móng chúng, dùng dây cƣơng cột chúng, làm chuồng có sàn cho chúng ở. Mƣời con có hai ba con chết. Ông bắt chúng chịu đói chịu khát, phải chạy nƣớc kiệu, phải phi, dùng cái ách bắt chúng đứng yên thành hàng, dùng hàm thiếc khớp mõm chúng, và ngựa chết già nửa. Hoặc vắn tắt hơn nữa nhƣ tác giả bài VIII.2: đừng nối dài chân vịt, cắt ngắn chân hạc mà chúng sẽ đau khổ. Có ngƣời bảo vì sống vào thời loạn, Trang không dám nói thẳng mà phải dùng ngụ ngôn. Nói nhƣ vậy là không biết đọc Trang: nhiều ngụ ngôn của ông còn cay độc hơn lời nói thẳng nữa nhƣ khi ông đáp Nguỵ Văn Hầu. Vả lại nhƣ tôi đã nói, thời đó ngôn luận rất tự do. Mạnh tử còn dám chửi thẳng vào mặt các vua chúa kia mà! MỘT SỐ NHÀ CHÚ GIẢI Sau cùng Trang tử còn một nhƣợc điểm nữa là dùng rất nhiều cổ ngữ cổ chế nhƣ La Miễn Đạo đã nhận thấy, thành thử dù thông cổ học thì cũng phải có một vài bản chú giải kĩ lƣỡng mới có thể hiểu đƣợc.

60 Từ trƣớc tới nay có cả trăm nhà chú giải Trang tử. Bản chú giải đầu tiên còn lƣu truyền đến nay là của Hƣớng Tú. Hƣớng Tú theo huyền học, tức cái học u áo của Đạo gia (thờ Hoàng, Lão) rất thịnh hành đời Lục triều, nên chú giải theo huyền học, và có ngƣời đã trách ông không chú giải Trang và trái lại dùng Trang để chú giải cho ông. Lỗi đó không phải chỉ riêng ông mắc phải; đời sau cũng rất nhiều ngƣời đem sở học của mình ra chú giải Trang: ngƣời học Nho nhƣ Lâm Hi Dật đời Tống thì đem tƣ tƣởng Khổng Mạnh ra chú giải Trang; ngƣời theo Phật thì đem thuyết của Phật ra chú giải, nhƣ Thành Huyền Anh đời Đƣờng. Họ toàn là xuyên tạc cả. Nhƣng cũng có những bản gọi là tập giải, nghĩa là soạn giả tham khảo một số bản chú giải của ngƣởi trƣớc rồi lựa chọn, châm chƣớc chớ không theo một khuynh hƣớng nào. Khi nào có vài cách chú giải khác nhau, không biết lựa ra sao thì họ ghi cả lại; trái lại nếu lựa đƣợc một cách thì họ cho biết xuất xứ. Các bản chú giải gần đây hầu hết đều theo phƣơng pháp đó. Tôi kiếm đƣợc những bản dƣới đây: 1. Trang tử giải của Vƣơng Phu Chi - Quảng Văn thƣ cục không đề năm; 2. Trang tử toản tiên của Tiền Mục - Đông Nam ấn vụ in lần thứ tƣ năm 1962; 3. Trang tử bạch thoại cú giải của Diệp Ngọc Lân Hoa Liên xuất bản xã - không đề năm; 4. Tân dịch Trang tử độc bản của Hoàng Cẩm Hoành Tam Dân thƣ cục 1974; 5. L œuvre complète de Tchouang - tseu của Liou Kia hway - Collection Unesco Gallimard Tôi dùng cả năm bản đó, nhiều nhất là bản Ba bản này với bản 1 đều in hoặc dịch đủ cả 33 chƣơng, riêng bản 3 của Diệp Ngọc Lân chỉ tuyển 20 chƣơng: trọn 7 chƣơng Nội thiên, 8 chƣơng Nội thiên và 5 chƣơng Tạp thiên. CÁCH ĐỌC TRANG TỬ Ai cũng nhận rằng Trang tử thật khó đọc. Ở đoạn trên tôi đã đƣa ra hai điều khó:

61 phải hiểu Khổng, Lão và cổ sử, cổ ngữ Trung Quốc, phải suy nghĩ nhiều để tìm mạch lạc trong văn. Còn thêm bốn điều khó này nữa: phải tạm bỏ tinh thần lí luận của ta đi, rán dùng trực giác để tìm hiểu Trang, nhƣ Trang khuyên khi tìm hiểu đạo, phải bỏ thành kiến của ta đi, dùng ngay lời của Trang mà giảng Trang, phải bất cầu thậm giải nhƣ Đào Tiềm nói (trong Ngũ liểu tiên sinh truyện), nghĩa là đừng thâm cứu chi tiết, chỉ cốt nắm vững đại ý thôi; chẳng hạn muốn tìm hiểu quan niện của Trang về sinh tử, ta chỉ cần nhớ rằng Trang đã tề vật, tề sinh tử thì tất coi sinh cũng nhƣ tử, tử cũng nhƣ sinh, còn sống thì hƣởng hết tuổi trời, lúc nào chết thì cứ thản nhiên chấp nhận; vậy nếu trong Ngoại, Tạp thiên, ngay cả trong Nội thiên nữa, có chỗ nào khen chết là sƣớng, chê sống là khổ, ta có thể gạt bỏ đi, vì đó không phải là chủ trƣơng của Trang; có thể trong một hoàn cảnh nào đó, vì một lí do nào đó Trang phải nói thế; huống hồ không phải bài nào trong Nội thiên cũng đáng tin cả, đừng nói chi tới Ngoại và Tạp thiên. quan trọng nhất là phải nhận định đâu là chân, đâu là nguỵ trong mấy trăm bài của toàn bộ, chứ không phải chỉ nhận định tổng quát từng chƣơng mà thôi. Công việc này rất khó nhƣ chƣơng trên đã nói. Trong tất cả các tác phẩm lớn về triết học thời Tiên Tần, không có bộ nào nhƣ Trang tử, hỗn tạp cả về nội dung lẫn hình thức. Tôi chỉ tin ba chƣơng đầu Nội thiên: Tiêu dao du, Tề vật luận, Dƣỡng sinh chủ là hoàn toàn của Trang, chƣơng Ứng đế vƣơng cũng có nhiều phần chắc là của Trang, còn ba chƣơng Nhân thế gian, Đức sung phù, Đại tôn sƣ, chỉ đáng tin già nửa thôi. Tuy nhiên, vì không có chứng cứ gì chắc chắc, và cũng vì bảy chƣơng đó tƣ tƣởng liên lạc thành một hệ thống, nên hầu hết các học giả tạm coi cả Nội thiên là của Trang. Trong chƣơng sau, xét học thuyết của Trang tôi cũng dùng cả bảy chƣơng đó, chỉ trừ vài ba bài trong

62 Nhân gian thế, Đức sung phù và Đại tôn sƣ. Còn Ngoại và Tạp thiên, tôi sẽ cho toàn là của ngƣời đời sau hết, tôi sẽ phân tích riêng. Có lẽ nhƣ vậy là giản dị hoá vấn đề quá, nhƣng tôi nghĩ không còn cách nào khác hợp lí hơn. Chú thích: 51[1]Theo một số sách khác của Trung Quốc thì thứ tƣ là Tam Quốc chí thay vì Đỗ Phủ (BT). [BT: ngƣời biên tập là Nguyễn Q. Thắng Goldfish] 52[2]Đoạn này có ngƣời hiểu khác. Xin coi phần IV chƣơng XXVII. 53[3]Bài Thu thanh phú. 54[4] Trong tập Hồi kí của một người đi săn trong Tourgueniev của tôi () Nxb Văn học, 1994 (BT). Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương IV (a) HỌC THUYẾT CỦA TRANG UYÊN NGUYÊN TỪ ĐÂU?

63 Từ khi Tƣ Mã Thiên chép chung tiểu sử của Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi trong một chƣơng thì hễ nhắc tới Lão, chúng ta nghĩ ngay tới Trang, tƣởng đâu giữa Lão và Trang có một sự liên hệ chặt chẽ cũng nhƣ giữa Khổng và Mạnh, và Trang chỉ chịu ảnh hƣởng của Lão cũng nhƣ Mạnh chỉ chịu ảnh hƣởng của Khổng. Sự thực không phải vậy. Lão và Trang chỉ đại biểu cho tƣ tƣởng lãng mạn, khoáng đạt, vô vi của phƣơng Nam cũng nhƣ Khổng và Mạnh đại biểu cho tƣ tƣởng thực tế của phƣơng Bắc (tức miền ở phía Bắc sông Hoàng Hà), còn xét về ảnh hƣởng thì Trang nhận di sản tinh thần của nhiều nhà, từ Dƣơng Chu sống trƣớc Trang khoảng một trăm năm tới Lão tử, Liệt tử, có lẽ cả Điền Biền và Thận Đáo sống cùng thời với Trang và lớn hơn Trang khoảng mƣời tuổi, cho nên có tác giả đã nói rằng: Trang tập đại thành các học thuyết của phƣơng Nam. Mà di sản đó cũng là thứ di sản gián tiếp chứ không trực tiếp nhƣ Khổng để lại Tử Tƣ rồi Tử Tƣ truyền lại cho Mạnh tử hai ba thế hệ sau. Nghĩa là Mạnh tử có thể coi là môn đồ xa của Khổng tử; Trang tử thì tuyệt nhiên không phải là môn đồ của Lão tử. Hơn nữa, Mạnh tử đƣợc đọc các kinh Thi, Thư, Lễ, Xuân Thu của Khổng tử, có thể cả Luận ngữ cùng Đại học, Trung dung nữa; còn Trang chỉ nghe đƣợc học thuyết của Lão tử thôi chứ không đƣợc đọc vì, nhƣ chƣơng I tôi đã nói, thời ông, bộ Đạo Đức kinh chƣa xuất hiện 55 [1] hoặc mới xuất hiện mà không tới tay ông, cho nên trong Nội thiên ông không dẫn một câu nào trong bộ đó cả, còn những lời ông cho Lão đáp Dƣơng Tử Cƣ trong bài VII.4, có phần chắc là tƣ tƣởng của Liệt tử hoặc của chính ông hơn là của Lão 56 [2], vì tƣ tƣởng trong bài đó không hợp với Lão, mà truyện chỉ là một trọng ngôn tức một thứ ngụ ngôn thôi. Tuy gián tiếp, ảnh hƣởng của Lão tới Trang cũng rõ rệt chẳng hạn trong quan niệm về vũ trụ (Đạo, sự biến hoá của sự vật, lẽ qui căn), về nhân sinh (vô vi); nhƣng khi ứng biến với sự vật, Trang có thái độ khác Lão: Lão còn phân biệt mình và vật (tiếng vật này trỏ các ngoại vật, tức những cái gì không phải là ta, từ ngƣời cho tới vật) và trọng các đức khiêm, nhu, bất tranh, cƣ hạ (ở dƣới ngƣời), cƣ hậu (ở sau ngƣời), để bảo toàn thân mình; còn Trang tề sinh tử, đồng nhân ngã, coi tử cũng nhƣ sinh, ngƣời cũng nhƣ mình, cứ theo luật tự nhiên mà biến hoá và để cho vật biến hoá, không cho cái gì là hại cả (bất dĩ hại vi hại). Đi ngƣợc lên nữa, chúng ta thấy cả Lão và Trang đều chịu ảnh hƣởng của Dƣơng tử về điểm quí sinh (trọng đời sống). Dƣơng tử bảo dù mất một sợi lông chân mà làm lợi đƣợc thiên hạ, ông cũng

64 không chịu, nhƣ vậy là ông quí kỉ quí thân ông và quí sinh quí đời sống đến cực điểm, quí kỉ nên khinh vật, quí sinh nên khinh lợi (danh lợi). Lão tử cũng bảo: Danh với thân cái nào quí hơn? Thân và của, cái nào trọng hơn? (Đạo Đức kinh chƣơng 44). Và nếu ta hiểu câu: Quí dĩ thân vi thiên hạ, nhƣợc khả kí thiên hạ (Đạo Đức kinh chƣơng 13) nhƣ Phùng Hữu Lan 57 [3] là: Ngƣời nào cho thân mình quí hơn thiên hạ thì có thể giao thiên hạ cho ngƣời đó đƣợc thì rõ ràng Lão tử cũng khinh vật, trọng sinh nhƣ Dƣơng tử. Còn Trang chỉ mong không có tài gì, không ai biết tới mình để hƣởng tận tuổi trời thì cũng là quí sinh nữa. (Điểm này tôi sẽ xét thêm ở một đoạn sau). Nhƣng tiếng ảnh hƣởng tôi dùng ở đây có lẽ không đúng. Cái quan niệm trọng sinh, nhất là trong một thời loạn, thời mà sinh mạng con ngƣời có thể bị cƣớp bất kì lúc nào, là một quan niệm rất phổ biến, chẳng cần phải chịu ảnh hƣởng của Dƣơng Chu mà Lão và Trang cũng có thể có đƣợc. Mà chính Dƣơng Chu cũng chẳng cần phải chịu ảnh hƣởng các ẩn sĩ từ đời Khổng tử, nhƣ Sở Cuồng Tiếp Dƣ, Trƣờng Thƣ, Kiệt Nịch (coi Luận ngữ - chƣơng Vi tử) mới biết vị ngã, vô quân, quí sinh. Phùng Hữu Lan chắc cũng nghĩ vậy cho nên trong Trung Quốc triết học sử - chƣơng 7 chỉ coi các ẩn sĩ đó và Dƣơng Chu là các bậc tiền khu (đi trƣớc mở đƣờng) cho Lão, Trang thôi. Một nhà nữa cũng ảnh hƣởng ngang Lão tử tới Trang tử là Liệt tử. Trong bộ Liệt tử và Dương tử (Lá Bối 1972) trang 30 tôi có dẫn lời của Trƣơng Trầm: (học thuyết của Liệt tử) đại khái giống với Lão, Trang, nhất là giống với Trang, và từ trang 30 tới trang 56 tôi đã vạch ra nhiều chỗ Liệt giống Trang: - quan niệm tề vật tr quan niệm tề thị phi tr tinh thần hoài nghi mộng và thực tr không phân biệt nội ngoại tr. 35 và 42.

65 Đặc biệt là Liệt tử chủ trƣơng rằng ngƣời nào hoà đồng với vạn vật thì hoá đồng với vạn vật, vạn vật không là thƣơng tổn, trở ngại đƣợc mình mà có thể xuyên vô kim thạch, đi trong nƣớc lửa. (bài II.12 tr. 129). Trang cũng bảo các thần nhân ở núi Cô Dạ hoà đồng đƣợc với vạn vật nên không có vật gì làm hại họ đƣợc, xuống nƣớc không chìm, vô lửa không cháy. (bài 3 chƣơng Tiêu dao du). Chƣơng XXXIII trong Trang tử có một tài liệu quan trọng, tóm tắt các triết thuyết từ thời Khổng Tử tới đời Trang tử: Khổng, Mặc, Tống, Kiên, Doãn Văn, Bành Mông, Điền Biền, Thận Đáo, Quan Doãn, Lão Đam, Trang Chu, Huệ Thi 58 [4]. Tác giả có thể là một ngƣời nào trong phái Trang, đề cao Trang hơn Lão, bảo: Đạo đức của Trang sung mãn không biết tới đâu là cùng, trên thì tiêu dao với trời đất, dƣới thì làm bạn với những ngƣời vƣợt lên trên sự sinh tử, không phân biệt đâu là thuỷ, đâu là chung nữa. Sự nhận thức của ông về căn bản của đạo thuật đã quảng bác lại thông đạt, thâm viễn; tôn chỉ của ông là đạt đƣợc Tự nhiên và hoà hợp với Tự nhiên. Nhƣng khi đƣa ra uyên nguyên của mỗi học thuyết, thì tác giả có lẽ theo một nguyên tắc nào đó, không cho biết rõ nhà nào chịu ảnh hƣởng của nhà nào, mà chỉ nói một cách bao quát, mơ hồ rằng mỗi nhà đã suy diễn thêm một chủ trƣơng đã có từ trƣớc. Nhƣ về Trang tử, tác giả viết: Thanh tĩnh, vô hình mà biến hoá hoài. Sống ƣ? Chết ƣ? Trời đất chỉ là một ƣ? Thần minh đi đâu? Ngƣời ta mang nhiên (không biết gì cả) đi về đâu? Rồi hốt nhiên tới đâu? Vạn vật bao la trong vũ trụ mà không có vật nào đáng cho ta qui về cả. Đạo thuật của cổ nhân có chủ trƣơng đó. Trang Chu đƣợc nghe thuyết đó thấy thích rồi diễn (ra). Cổ nhân đó là ai? Tác giả không cho biết. Còn chủ trƣơng tác giả nói đó một phần có thể là của Lão, một phần có thể là của Liệt, một phần (Ngƣời ta đi về đâu? Rồi hốt nhiên tới đâu?) có thể là của những ngƣời thắc mắc về nguồn gốc cùng cứu cánh của vũ trụ, vạn vật mà những ngƣời này chắc là đã xuất hiện từ khi loài ngƣời biết suy nghĩ, trƣớc cả Lão Trang cả vạn năm? Trái lại, đoạn 6 cũng chƣơng XXXIII sẽ xét học thuyết của Bành Mông, Điền Biền và Thuận Đáo lại vô tình cho ta biết về uyên nguyên học thuyết của Trang.

66 Tôi trích dƣới đây ít câu trong đoạn đó: Công chính mà không thiên vị, đảng phái; bình dị mà không ít kỉ; quyết đoán mà không có thành kiến; tuỳ theo ngoại vật mà không phân biệt mình và người; không tƣ lự, không dùng mưu trí; đối với sự vật, không lựa chọn mà cứ thuận theo sự diễn biến tự nhiên, đạo thuật cổ nhân có chủ trƣơng đó. Bành Mông, Điền Biền và Thận Đáo nghe đƣợc thuyết đó mà thích. Qui tắc của họ là vạn vật ngang nhau (tề vật). Họ bảo: Trời che đƣợc mà không chở đƣợc; đất chở đƣợc mà không che đƣợc 59 [5]. Đạo bao dung vạn vật mà không phân biệt (vật này hơn, vật kia kém). Họ biết rằng vạn vật đều có chỗ dùng đƣợc, có chỗ không dùng đƣợc 60 [6], cho nên bảo: Lựa chọn thì không dùng đƣợc hết, dạy dỗ thì có chỗ không tới, chỉ thuận theo Đạo là không bỏ sót cái gì hết. Cho nên Thận Đáo chủ trƣơng bỏ trí tuệ, quên mình đi, cứ theo thế bất đắc dĩ mà hành động, thản nhiên thuận theo sự vật, nhƣ vậy là hợp với đạo lí. ( ). Điền Biền cùng một chủ trƣơng (với Thận Đáo) và học đƣợc cái lẽ dạy mà không dùng lời. Bành Mông bảo: Những ngƣời đạt đạo thời xƣa chỉ cốt tu dƣỡng tới cái mức không cho cái gì là phải, không cho cái gì là trái nữa mà thôi. Sự giáo hoá của họ vô hình nhƣ gió thổi, làm sao có thể dùng lời mà truyền đƣợc. Những hàng và chữ in ngã trong đoạn trích dẫn đó diễn nhiều ý giống Liệt tử và Trang tử. Vũ Đồng có lẽ căn cứ vào đó mà bảo: Điền Biền, Thận Đáo sinh trƣớc Trang tử, vậy Trang tử quả có chịu ảnh hƣởng của họ. (Trung Quốc triết học đại cƣơng trang 25). Tôi nghĩ Điền Biền và Thận Đáo chỉ hơn Trang độ mƣời tuổi (theo Vũ Đồng), bảo Trang chịu ảnh hƣởng của họ không bằng bảo cả ba đều chịu ảnh hƣởng của những ngƣời trƣớc họ mà tác giả bài 6 gọi là cổ nhân. Cổ nhân đó là ai? Liệt tử chăng? Tất cả những điều tôi mới suy luận về uyên nguyên học thuyết của Trang chỉ là giả thuyết vì Điền Biền, Thận Đáo, Bành Mông đều không lƣu lại một tác phẩm nào cả (nếu có thì cũng đã thất lạc), mà bộ Liệt tử không chắc đã phải của Liệt tử, còn tác giả chƣơng XXXIII trong Trang tử là ai, viết vào thời nào, có đáng tin không, chúng ta cũng không biết nốt. Hiện nay chƣa có hi vọng gì các học giả

67 Trung Hoa sẽ tìm đƣợc những tài liệu đích xác để giải nỗi nghi cho ta. VŨ TRỤ LUẬN VÀ CĂN BẢN LUẬN Trong ba phần sau (dịch Nội thiên, Nội thiên và Tạp thiên), cuối mỗi chƣơng tôi sẽ phân tích những ý chính rồi sắp đặt lại cho có liên lạc để độc giả dễ thấy nội dung cũa chƣơng. Riêng về Nội thiên và Tạp thiên, tôi sẽ xét kĩ về vấn đề chân nguỵ của các bài. Ở đây tôi chỉ gom góp những ý rải rác trong mỗi chƣơng của Nội thiên về bốn vấn đề: Vũ trụ và Căn bản luận, Tri thức lận, Chính trị luận và nhân sinh quan để độc giả thấy hệ thống tƣ tƣởng của Trang. Ngoại và Tạp thiên cũng xét bốn vấn đề ấy nhƣng không phải của Trang viết cho nên tôi chỉ lựa những bài nào của học phái Trang mà có giá trị về nội dung hay hình thức để giới thiệu phụ vào sau tƣ tƣởng của Trang, coi nhƣ lời bàn thêm của hậu học. Những bài đó tôi sẽ tóm tắt, trích dẫn và cho in chữ nhỏ hơn mà lùi vào một chút 61 [7]. Còn những tƣ tƣởng của học phái Lão hoặc những nhà có khuynh hƣớng khác (Khổng gia, Pháp gia chẳng hạn) tôi không cho vào đây mà chỉ phân tích ở cuối mỗi chƣơng trong phần III (Nội thiên) và IV (Tạp thiên). Tôi phải phân biệt rõ ràng nhƣ vậy để khỏi mắc cái lỗi gán cho Trang những tƣ tƣởng mà Trang không có, nhất là cái lỗi bắt Trang mâu thuẫn với Trang. Tôi xin kể một thí dụ: bài XIII.4 trong Nội thiên chủ trƣơng: Có quí, có hèn, có trƣớc, có sau, đó là trật tự của trời đất, thánh nhân theo thứ tự ấy ( ). Cho nên ở trong tôn miếu thì trọng những ngƣời vào hàng ông cha mình, ở triều đình thì trọng chức tƣớc, ở hƣơng đảng thì trọng ngƣời già, xử sự thì trọng ngƣời hiền, đó là trật tự của Đạo. Tác giả Tề vật luận không khi nào chủ trƣơng nhƣ vậy. Tƣ tƣởng đó đã phản Trang, không thể dùng bài đó để phân tích học thuyết của Trang đƣợc. Trong tiết trên tôi đã dẫn mấy hàng của đoạn 6 chƣơng XXXIII, về uyên nguyên học thuyết của Trang. Những thắc mắc về vũ trụ: Thanh tĩnh trời đất vô hình và biến hoá hoài chỉ là một ƣ?... Ngƣời ta mang nhiên đi về đâu? Rồi hốt nhiên tới đâu? Vạn vật bao la trong vũ trụ mà không có vật nào đáng cho ta qui về cả mà tác giả cho là của cổ nhân đó, cũng là thắc mắc của Trang tử. Ông đã đƣợc nghe nhiều thuyết về vấn đề khởi thuỷ của vũ trụ; bài II.6 ông ghi lại ba thuyết:

68 Cổ nhân có ngƣời tri thức đạt đƣợc tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi vũ trụ không có vật: đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt đƣợc, không thể thêm gì đƣợc nữa. Hạng ngƣời thấp hơn cho rằng thời sơ khởi đã có cái gì đó, nhƣng cái đó không nhất định. Hạng thấp ngƣời hơn cho rằng cái đó đã nhất định nhƣng nhận rằng không có thị phi (phải trái, xấu tốt). Đọc đoạn đó ta ngờ rằng ông cho thuyết khởi thuỷ không có gì cả - tức chủ trƣơng hữu từ cái vô mà ra của Lão tử, và Liệt tử (coi Liệt tử trang 28-29) là cao hơn cả, thâm thuý hơn cả, chấp nhận đƣợc. Nhƣng qua bài sau, II.7, ông lại tỏ vẻ nghi ngờ: Một ngƣời bảo rằng vũ trụ có khởi thuỷ; một ngƣời khác bảo không có khởi thuỷ, một ngƣời nữa bác thuyết ngƣời thứ nhì dùng để bảo vũ trụ không có khởi thuỷ. Nói cách khác: một ngƣời bảo mới đầu vũ trụ có cái gì đó (hữu), một ngƣời khác bảo mới đầu vũ trụ không có cái gì đó (vô); một ngƣời nữa bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có cái gì đó; lại một ngƣời thứ tƣ khác nữa bác cái thuyết ngƣời thứ ba dùng để bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có gì cả. Khi thì có (hữu), khi thì không (vô). Mà không biết cái có, cái không đó có thực là có, có thực là không không. Tôi mới đƣa ra một ý kiến, nhƣng nó có thực là ý kiến hay là không có ý kiến gì cả. Quả là ông không có ý kiến gì cả. Ông nhận rằng không giải đƣợc vấn đề hữu vô ngƣời trƣớc đã đặt ra. Bài II.2: ông cũng không biết đƣợc chủ tể của vũ trụ là gì, có chủ tể hay không? Ví thử có một chủ tể thực đi thì chúng ta cũng không thấy dấu hiệu, vết tích gì của nó. Thấy tác động mà không thấy hình thể nó. Nó không có hình thể, vậy nó là phi vật không phải là vật không phải là ông trời, là Thƣợng đế, nhƣng quả nó có tác động. Ông theo Lão tử, gọi nó là Đạo. Nó phi vật còn có nghĩa nó là tự gốc của nó, trƣớc khi có trời đất đã có nó rồi. Tác động của nó là tạo ra quỉ thần, Thƣợng đế, nó sinh ra trời đất, vạn vật. Nó ở trên thái cực mà không cao, dƣới lục cực mà không sâu, có trƣớc trời đất mà không phải là trƣờng cửu, có trƣớc thời thƣợng cổ mà không phải là già. (VI.1)

69 Nó không có hình trạng, nó ở khắp nơi, vì mọi vật đều từ nó mà ra rồi hợp nhất với nó (II.4). Tuy nó tác động khắp nơi nhƣ vậy mà nó vẫn là vô vi, không làm gì cả, vì nó tự nhiên mà tác động (không có ý thức, không dụng tâm), nó là tự nhiên (VI.5). Trang tử đặt vào miệng Hứa Do những lời dƣới đây để ca tụng nó, mà ông gọi là Đại tôn sƣ của ông (VI.1): Hỡi đại tôn sƣ của tôi, đại tôn sƣ của tôi! Ngƣời làm cho mọi vật điêu tàn mà không phải là vì nghĩa, Ngƣời gia ân cho tới vạn đại mà không phải là vì nhân. 62 [8] Ngƣời có trƣớc thời thƣợng cổ mà không phải là già, Ngƣời che chở trời đất, đục đẽo mọi hình thể mà không phải là khéo ( ) Nó vô vi nhi vô bất vi (vô vi mà không gì là không làm). Nó tự nhiên nên sinh thành, gia ân cho vạn vật mà không phải là vì nhân, rồi nó làm cho vạn vật điêu tàn mà không phải là bất nhân, không phải là vì nghĩa chữ nghĩa ở đây nên hiểu là điều gì nên làm thì làm. Phùng Hữu Lan gọi nó là tổng nguyên lí của trời đất vạn vật (Trung Quốc triết học sử - trang 280). Nhƣ vậy ta có thể bảo rằng Trang tử vô thần không, vì quan niệm của ông giống quan niệm các nhà khoa học vô thần ngày nay? Thực là khó trả lời. Cho vũ trụ đƣợc tạo theo một nguyên lí tự nhiên thì có vẻ là vô thần; nhƣng cái nguyên lí cũng tạo ra quỉ thần, Thƣợng đế thì lại nhƣ tin là có thần. Còn Trang tử có thờ thần hay không thì đọc trong bộ Trang tử ta không thấy chỗ nào nói tới cả, cũng không có chỗ nào ông cầu khấn thần linh cả. Đạo sinh ra vạn vật mà ta là một trong những vạn vật đó, nên không biết đƣợc nó, nhƣng dùng kinh nghiệm và trực giác, chúng ta có thể nhận xét tác động của nó để thích ứng với nó. Tác động của Đạo là biến hoá. Từ khi mới biết suy nghĩ, loài ngƣời tất đã thấy sự biến hoá trong thiên nhiên rồi, chẳng những biến hoá mà còn tuần hoàn nữa, hết một vòng rồi trở về nguyên thuỷ: hết ngày rồi tới đêm, hết đêm lại trở lại ngày; hết xuân tới hạ, tới thu, đông, hết đông lại trở về xuân.

70 Lão tử có lẽ là ngƣời đầu tiên coi luật đó là một biểu hiện của Đạo, khi ông bảo: Phản giả, Đạo chi động (chƣơng 40). Động đó tức là biến hoá. Liệt tử trong bài 1.10 nhận thấy rằng vạn vật cứ sinh sinh hoá hoá, vận chuyển hoài không ngừng, giảm ở phía này thì tăng ở phía khác, đầy ở kia thì vơi ở đây, cứ chầm chậm mỗi ngày một chút. Không đột nhiên tăng lên, không đột nhiên giảm đi. Còn Trang tử thì nói: Hình thể của con ngƣời chỉ là một hình thức của hàng vạn sự biến hoá của vũ trụ (VI.1). Chắc ông cũng nghĩ nhƣ Liệt tử rằng ngƣời và vạn vật, đều từ cái hỗn luân mà biến thành khí, khí lại biến thành hình, hình biến thành chất, cho nên trong bài VI.4, ông cho sinh tử là sự tuần hoàn của cái khí. Lúc đó ông buồn về sự biến hoá hoài không ngừng đó, nhƣ trong bài II.2: Khi ta đã nhận đƣợc cái hình hài của ta rồi thì ta giữ nó cho tới khi chết. Nó với những vật khác đâm nhau, mài cọ vào nhau, cùng bôn tẩu nhƣ những con ngựa, mà không có gì làm cho ngừng đƣợc. Buồn thay! Suốt đời khó nhọc mà không thành công gì cả; tân khổ, mệt mỏi mà không biết để đi tới đâu. Đáng thƣơng thay! Nhƣ vậy mà bảo là sống, thử hỏi có ích gì không? Hình hài mà biến hoá thì tinh thần cũng biến hoá. Đó chẳng phải là điều rất thƣơng tâm ƣ? Lần đó ông chán đời, ba lần thở dài: Buồn thay! Đáng thƣơng ƣ? Chẳng phải là điều đáng thƣơng tâm ƣ? Chứ bình thƣờng ông vui hơn nhƣ trong bài VI.1: Có hình thể con ngƣời cũng đủ cho ta mừng rồi. Mà hình thể con ngƣời chỉ là một hình thức của hàng vạn sự biến hoá của vũ trụ. Vậy thì ngắm những biến hoá vô cùng của vũ trụ còn thích đến đâu! Cho nên thánh nhân muốn trở về cái gốc chung của vạn vật (tức Đạo). Ông nghĩ rằng vạn vật vì đều là con của Đạo cả, cho nên tuy khác nhau mà cũng chỉ là một: Xét chỗ dị biệt của vạn vật thì lá gan và trái mật khác nhau cũng nhƣ nƣớc Sở và nƣớc Việt; xét chỗ giống nhau thì vạn vật chỉ là một. (V.1). Cũng nhƣ khi gió thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét, mỗi hang, mỗi lỗ thành một thanh âm khác nhau, nhƣng hết thảy đều là tiếng thở của đất cả (II.1). Cho nên vật nào cũng là chính nó mà đồng thời cũng là vật khác. Phân biệt vật và mình thì không thấy đƣợc lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy đƣợc (II.3). Quan niệm hoà đồng với vạn vật này, Trang

71 mƣợn của Liệt tử. Liệt tử có bốn bài ngụ ngôn diễn cái ý hễ hoà đồng với vạn vật thì vạn vật không hại đƣợc, mà còn giúp ta nữa, ta có thể vô lửa mà không bị cháy, vô nƣớc mà không bị chìm, ta có thể để cho không khí nâng ta, gió đƣa ta đi, có thể bay đƣợc, trƣờng sinh đƣợc. Trang tử có lẽ cũng nghĩ nhƣ vậy (coi bài I.1, VI.1), nhƣng thái độ ông triết hơn. Ông hoà đồng với vạn vật để coi vạn vật nhƣ mình chứ không cầu trƣờng sinh bất tử, vì ông đã tề sinh tử. Có lần ông nằm mê thấy mình hoá bƣớm, tỉnh dậy ông tự hỏi ông mộng thấy hoá bƣớm hay bƣớm mộng thấy hoá ông. Giá ông không hoá bƣớm mà hoá cục đá, cành cây hay con bọ hung đi nữa thì ông cũng cho là thƣờng, vì vật nào cũng là con của Đạo. Bài III.6 chỉ có một hàng: Chỉ cùng vi ƣ tân, hoả truyền dã, bất trị kì tận dã mà tôi dịch thoát là hết thanh củi này tới thanh củi khác, nhưng lửa vẫn lan tới vô cùng. Câu đó có nhiều cách hiểu. Liou Kia hway hiểu là lửa (do gió) mà lan rộng ra thì không sao dập đƣợc. Diệp Ngọc Lân cho rằng củi trỏ hình thể, ngọn lửa trỏ tinh thần, hình thể mất mà tinh thần không. Tôi cho rằng lửa ở đây trỏ sự sống: chết là bỏ cái thể xác hiện thời của ta mà lấy một thể xác khác. Sự sống cứ truyền nhƣ vậy tới khi nào ta trở về với Đạo, nhƣ trong bài II.4 Trang đã nói: Không vật nào có sinh thành huỷ diệt cả vì rốt cuộc điều hợp nhất ở Đạo. Đọc bài VI.3, tôi càng tin cách giải thích của tôi không phải là võ đoán. Tử Du vì âm dƣơng thác loạn mà lƣng hoá cong, xƣơng sống thì lòi ra, ngũ tạng đảo lộn, cằm đƣa xuống tới rốn, vai đƣa lên khỏi đầu (Óc tƣởng tƣợng của Trang lạ thật!); Tử Tự là bạn của Tử Du, hỏi Tử Du thấy thân thể của mình nhƣ vậy có gớm không. Tử Du đáp: Không, tại sao lại thấy gớm? Nếu tạo hoá muốn biến cánh tay trái tôi thành con gà thì tôi nhân đó mà gáy sáng; nếu biến tay phải tôi thành cây cung thì tôi sẽ nhân đó mà bắn con chim hào đem về quay; nếu biến đít tôi thành bánh xe, tinh thần tôi thành ngựa thì tôi sẽ nhân đó mà thắng xe. ( ) Tại sao tôi lại gớm? Phải, cái gì cũng trở về bản căn hết. Các nhà khoa học đã nhận thấy từ lâu trong vũ trụ không có cái

72 gì mất đi, cái gì tạo ra; chỉ có biến đổi từ thể này qua thể khác, từ hình này qua hình khác Trang tử không phải là nhà khoa học, mà thời ông sống, đạo Phật chƣa truyền qua Trung Hoa, ông không biết các luật khoa học, và luân hồi, nhƣng ông đã cảm thấy một cách sâu sắc luật biến hoá trong vũ trụ. Ông nghĩ rằng chúng ta chết rồi có thể biến thành bất kì một vật nào khác nhƣ đổi căn nhà (VI.6) mà vật cũng vậy, cũng có thể biến thành ngƣời, và dù biến thành gì thì vật và ta rốt cuộc cũng trở về Đạo, qui căn, hợp nhất với Đạo 63 [9]. Đó là một tƣ tƣởng đặc sắc của ông, làm căn cho thuyết không phân biệt ta và vật, trọng thiên tính và sự tự do của vạn vật. Biến hoá nhƣ vậy có theo một trình tự nào không? Không, ông không tin rằng có một trình tự nào cả, chẳng hạn nhƣ từ con kiến thành con sâu, con chim, con ngựa, con khỉ, rồi ngƣời, thánh, thần, vân vân Vì vạn vật đều ngang nhau, đều là một cả, sao lại có trên có dƣới đƣợc. Có thể ông cho rằng cái đó thuộc về quyền của Đạo, Đạo muốn sao thì muốn không: Đạo đã là tự nhiên thì không muốn gì cả - phải nói: Cái đó xảy ra sao thì xảy, ông không quan tâm tới. Vậy thuyết của Trang chỉ là thuyết biến hoá, không phải là thuyết tiến hoá: Qua Ngoại thiên, chƣơng XVIII, bài 7, ta sẽ thấy một tác giả gần nhƣ chủ trƣơng thuyết tiến hoá của Darwin, đại ý bảo: Phôi chủng có một bộ phận nhỏ là cái cơ. Cái cơ gặp nƣớc thì thành một thứ cỏ, gặp chỗ giáp mí nƣớc thì thành rêu xanh, gặp chỗ gò cao thì thành xa tiền thảo. Rồi xa tiền thảo lần lần hoá thành con bọ, con bƣớm, con sâu, con ve, con chim con ngựa và sau cùng ngựa thành con ngƣời. Tác giả đó giống Trang tử (và khác Darwin) ở điểm cho con ngƣời lại trở về cái cơ, nhƣ vậy vạn vật, đều là cái cơ, đều qui căn ; nhƣng lại khác Trang ở điểm chỉ có vật biến thành ngƣời, chứ ngƣời không biến thành vật đƣợc. Trang thấy hoá bƣớm thì chỉ là một giấc mộng 64 [10]. Vậy cả vũ trụ chỉ là một sự biến hoá không ngừng và do luật biến hoá đó mà không biết đâu là thuỷ là chung, là sinh là tử, nhƣ trên một bánh xe quay tròn. Ngƣời ta phân biệt sống và chết. Sự thực sống cũng là chết (II.3) vì chết thì chỉ nhƣ đổi nhà, chỉ là sống một đời sống khác ở trong một thể xác khác; xét về kiếp trƣớc thì là tử, mà xét về kiếp sau thì là sinh. Cái kia tự cái này mà ra, cái này cũng tự cái kia mà ra, chung từ thuỷ mà ra, thuỷ lại từ chung mà ra, chung cũng là thuỷ, mà thuỷ cũng là chung.

73 Không có cả thị phi nữa, vì thị hay phi là tƣơng đối. Cái phải (thị) biến hoá hoài mà cái không phải (phi) cũng biến hoá hoài. Biến hoá tuỳ theo thời đại. Ở thời đại săn mồi, hái trái chẳng hạn, hiếu chiến là một đức tốt vì ngƣời ta phải tranh nhau con mồi; qua thời đại nông nghiệp, hiếu hoà mới là đức tốt vì có yên ổn mới có trồng trọt đƣợc. Rồi trong thời đại kĩ nghệ của chúng ta, nhiều giá trị thời nông nghiệp đã suy tàn, nhƣ chế độ gia đình, quan niệm hiếu và trinh và chúng ta lại có những giá trị khác: Ganh đua để thành công, nghĩa là để kiếm đƣợc nhiều tiền, sản xuất cho mạnh mà tiêu thụ đƣợc nhiều. (Coi Bốn thời đại của nhân loại trong Những vấn đề của thời đại Mặt đất 1974). Quan niệm thị phi còn thay đổi tuỳ nơi, nhƣ Liệt tử đã nói: Ngƣời nƣớc Viêm khi cha mẹ mất thì cắt lấy thịt liệng đi 65 [11], còn xƣơng thì đem chôn, ngƣời nƣớc Cừ, cha mẹ chết thì chất củi mà thiêu, khói bốc lên cao, bảo cha mẹ lên cõi xa ; hành động khác nhau nhƣ vậy mà ngƣời các nƣớc đó đều cho là báo hiếu cả. Hiện nay ở nƣớc ta ít nhất là ở thôn quê ngƣời ta ông bà ở với con cháu là một cái vui trong gia đình, một cái phƣớc, mà ở Âu Mĩ, ngƣời ta cho nhƣ vậy là làm phiền con cháu. Ngày nay chúng ta còn trọng trinh tiết một chút, nhƣng ở Âu Mĩ, thanh niên nam nữ nào mà đem trinh tiết ra đề cao thì tất bị bạn bè cƣời là ngƣời thời trung cổ. Vậy thì thị và phi cũng xoay trên vòng bánh xe, ở đây là thị, xoay qua chỗ khác là phi, không có gì quyết định đƣợc là thị hay phi cả. Tốt hay xấu cũng vậy, không có chính xứ, chính vị, chính sắc, nhƣ Vƣơng Nghê nói với Niết Khuyết trong bài 10 Tề vật luận: Chẳng hạn một ngƣời nằm chỗ ẩm thấp (trong bùn) mà đau lƣng tê liệt nửa ngƣời, nhƣng một con lƣơn thì có sao không? Một ngƣời ngồi trên ngọn cây thì run rẩy sợ sệt, nhƣng con khỉ có vậy không? Chỗ ở của ngƣời và hai con vật ấy, chỗ nào là lí tƣởng (chính xứ)? Ngƣời ta ăn thịt dê, bò, chó, lợn; hƣơu nai ăn cỏ; rết thích ăn rắn con; cú mèo và quạ thích ăn chuột.

74 Khẩu vị của bốn loài đó, khẩu vị nào là lí tƣởng (chính vị)? Khỉ đực sống với vƣợn cái; nai đực sống với hƣơu cái; lƣơn sống chung với cá; nàng Mao Tƣờng và nàng Lệ Cơ đƣợc mọi ngƣời khen là đẹp, vậy mà thấy họ tới thì cá lặn sâu, chim bay cao, hƣơu nai chạy dài. Cái đẹp theo bốn loài đó, cái đẹp nào là lí tƣởng (chính sắc)? Cũng không biết đƣợc đâu là hoạ, đâu là phúc: Nàng Lệ Cơ con gái viên quan giữ biên giới ở đất Ngãi. Khi vua Hiến Tông nƣớc Tấn đón nàng về cung, nàng khóc tới uớt đẫm vạt áo, nhƣng về tới hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm cao lƣơng mĩ vị, nàng hối hận giọt lệ ngày xƣa. Vậy làm sao tôi biết đƣợc khi chết rồi, ngƣời ta lại không ân hận rằng trƣớc kia ham sống? (II.11). Mà làm sao biết vật nào hữu dụng, vô dụng? Chƣơng Tiêu dao du có hai bài 4 và 5 xét lẽ đó. Một ngƣời nƣớc Tống chế đƣợc một thứ thuốc bôi ngón tay cho khỏi nứt nẻ (chắc là cùng loại với vaseline ngày nay). Gia đình ngƣời đó làm công việc đập lụa, chỉ biết dùng thuốc để bôi ngón tay cho mùa đông khỏi nứt nẻ mà đập lụa đƣợc. Một ngƣời mua lại phƣơng thuốc, đem bán cho vua Ngô. Mùa đông, Ngô thuỷ chiến với Việt, nhờ có thuốc đó mà thuỷ quân Ngô không nứt nẻ ngón tay, thắng đƣợc Việt. Vua Ngô đem đất phong cho ngƣời bán thuốc để thƣởng công (bài 4). Vậy thứ thuốc gần nhƣ vô dụng, đã thành rất hữu dụng. Không có vật gì hoàn toàn vô dụng cả. Cây xƣ là một thứ cây lớn, gỗ xấu, nổi u, chỗ lồi chỗ lõm, cành cong queo, nên không ngƣời nào đốn để xẻ làm đồ dùng. Trang bảo: Sao không trồng nó ở chỗ hƣ vô, tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông, để những kẻ nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh thảnh thơi ngủ dƣới bóng mát của nó?. Vậy Trang chủ trƣơng cái gì cũng tƣơng đối hết và có nhà đã khen ông tìm ra đƣợc luật tƣơng đối trên hai ngàn năm trƣớc Einstein. Lời khen đó chắc Trang không dám và cũng không muốn nhận. Không dám vì lẽ tƣơng đối về xấu đẹp, lớn nhỏ, thọ yểu loài ngƣời đã nhận ra đƣợc từ lâu, không phải đợi tới ông rồi mới nhận thấy. Không muốn vì ông là một triết gia suy tƣ về xã hội, đâu phải là một khoa học gia muốn phát minh về vật lí, mà đem so sánh với Einstein. Ông đáng khen không phải vì tìm ra đƣợc luật đó mà vì đã diễn ra một cách rất sâu sắc và rút ra đƣợc một nhân sinh quan nhân từ, khoán đạt.

75 Tuy nhiên ta không thể bảo Trang tử theo hoài nghi chủ nghĩa. Không có thị phi, thị phi quay hoài trên một vòng tròn, nhƣng vòng tròn đó có trung tâm, cái chốt (cái chốt đó ông gọi là Đạo xu chốt của Đạo), ứng với các biến hoá vô cùng (II.3); thánh nhân dung hoà, đứng ở cái chốt đó, coi thị phi là một, mà theo luật quân bình, tự nhiên, nhƣ vậy là lƣỡng hành, nghĩa là biết thích nghi, dùng đƣợc cả hai, tuỳ theo hoàn cảnh. Thái độ lƣỡng hành đó chính là cái thị, cái phải tuyệt đối, cũng có thể gọi nó là siêu thị phi đƣợc. Không có gì là hoạ, là phúc, nhƣng có một thái độ thảnh thơi tự tại, thuận thiên tính, sống theo khả năng của mình mà hƣởng hết tuổi trời, không ganh tị, so sánh với ai, hoàn toàn tự do, không tuỳ thuộc một cái gì, không trọng sinh khinh tử, coi sinh tử nhƣ nhau; thái độ tiêu dao đó, theo ông là hạnh phúc tuyệt đối. Do luật tƣơng đối đó và do lẽ muôn vật đều từ Đạo mà ra, rồi biến hoá không ngừng để cuối cùng lại hợp nhất với Đạo, cho nên mọi vật đều ngang nhau, không có vật nào quí, vật nào tiện. Gió thổi vào cả vạn hang lỗ, tạo ra hành vạn âm thanh khác nhau, nhƣng hết thảy đều là tiếng thở của Đất (II.1), có thanh âm nào quí hơn thanh âm nào? Sinh tử, thị phi, lớn nhỏ cũng vậy, chỉ là những biến hoá của Đạo, cho nên sinh không đáng trọng hơn tử, thị cũng không hơn gì phi, mà lớn (ngọn núi) cũng nhƣ nhỏ (đầu sợi lông) chứ không hơn gì Ý vật tề (mọi vật ngang nhau) này chúng ta ta đã thấy trong một ngụ ngôn của Liệt tử. Trong một bữa tiệc, họ Điền nƣớc Tề nhìn các món cá và chim nhạn ngƣời ta dâng lên, bảo: Trời hậu đãi loài ngƣời quá, sinh ra ngũ cốc, cá chim cho chúng ta ăn. Một em bé đứng lên phản đối: Không đúng nhƣ lời ngài nói. Vạn vật trong trời đất với chúng ta đều là sinh vật cả, không loài nào quí, không loài nào hèn ( ) Không loài sinh vật nào sinh ra để cho loài khác ăn thịt. Loài ngƣời thấy cái gì ăn đƣợc thì ăn, trời đâu có vì ngƣời mà sinh ra các loài đó. Muỗi mòng kia đốt da ta, hổ lang kia ăn thịt ta, có thể nói là trời vì chúng mà sinh ra chúng ta không? (Liệt tử - VIII.28). Chủ trƣơng đó trái với hết thảy các triết gia khác, nhất là Mạnh tử. Mạnh cho rằng bản chất của mọi vật là không đều nhau, có vật đáng giá gấp hai hoặc gấp năm vật khác, có vật đáng giá gấp mƣời, gấp trăm, hoặc gấp ngàn gấp vạn vật khác. (Đằng Văn Công, thƣợng-4). Ngay trong thân thể ngƣời ta cũng có phần cao quí, phần đê tiện, có phần to tát, có phần nhỏ nhen (Cao tử, thƣợng-14). Mà trong xã hội có hai hạng ngƣời: Hạnh quân tử có tài đức lo việc trị dân, và hạng tiểu nhân tài đức kém, phải lo cấp dƣỡng cho hạng trên. Thuyết bất đồng, bất tề đó làm cơ sở cho chính sách tôn ti trong tổ

76 chức xã hội. Trang tử cho rằng xét bề ngoài thì quả nhƣ Mạnh tử nói. Có con chim bằng lƣng rộng không biết mấy ngàn dặm, tung cánh bay thì cánh nó nhƣ đám cỏ bồng cỏ cảo, 66 [12] có hạng trí lực nhỏ không thể so sánh đƣợc với hạng trí lực lớn, có ngƣời tài trí đủ làm một chức quan, có ngƣời làm gƣơng đƣợc cho một làng, có ngƣời đức đáng làm vua mà đƣợc cả nƣớc phục (I.1), nhƣng xét sâu hơn thì vật nào cũng do luật biến hoá của Đạo mà ra cả, đều có một phận riêng trong một giai đoạn nào đó, hết giai đoạn đó lại biến thành một vật khác, cho nên không có vật nào không có cô dụng, công dụng nào cũng quan trọng nhƣ nhau, không có quí, có tiện. Huống hồ dù thuộc hạng nào thì hết thảy cũng có bản tính, khả năng riêng do Đạo phú cho, đều có thể thảnh thơi tự tại nhƣ nhau, cho nên con chim cút không ƣớc ao đƣợc nhƣ con chim bằng mà còn mỉa nó nữa: Tôi lên cao vài nhẫn rồi xuống, nhƣ vậy đủ rồi, con chim bằng kia bay đi đâu vậy kìa. Chủ trƣơng tề vật đó thật nhân từ mà khoáng đạt. Ngoại thiên có một bài dài và hay bài Thu thuỷ 1 dùng một ngụ ngôn để khai triển thêm ý tề vật đại ý nhƣ sau: Hà Bá (thần sông Hoàng Hà) xin thụ giáo thần Bắc Hải (thần biển Bắc). Bắc Hải giảng rằng trong vũ trụ không có gì lớn, không có gì nhỏ. Nhƣ chính Bắc Hải rộng mênh mông, không bao giờ đầy, không bao giờ vơi, vậy mà so với vũ trụ thì không khác gì hòn cuội. Trung Quốc tuy lớn mà so với bốn biển không khác gì hạt lúa trong kho lớn. Vậy mà ngũ đế, tam vƣơng tranh giành nhau vì Trung Quốc thì thật là không sáng suốt. Trời đất không phải là lớn, nhƣng sợi lông cũng không phải là nhỏ, vì cái lƣợng của vật thì vô cùng mà thời gian thì không ngừng, nó biến đổi hoài, không biết đâu là thuỷ, là chung. Cái ta biết ít hơn cái ta không biết, cuộc đời ta sống không dài bằng thời gian trƣớc khi ta sanh ra. Lấy cái cực nhỏ (tức trí tuệ và đời sống của ta) mà muốn hiểu đến cái cực lớn (tức tất cả những cái ta không biết và cả thời gian trƣớc khi ta sanh ra) nhƣ vậy là mê loạn. Đã vậy rồi thì làm sao biết đƣợc đầu sợi lông làm tiêu chuẩn cho cái cực nhỏ mà trời đất làm tiêu chuẩn cho cái cực lớn?. ( ) Lấy con mắt sai biệt mà xét, muốn nhấn vào chỗ lớn thì không vật nào là không lớn, muốn nhấn vào

77 chỗ nhỏ thì không vật nào là không nhỏ. Cũng không có quí, có tiện theo lập trƣờng Đạo. Mà xét theo lập trƣờng của vạn vật thì vật nào cũng tự cho mình là quí, vật khác là tiện. Theo thế tục mà xét thì quí tiện không tuỳ thuộc chính mình (mà tuỳ thuộc ý kiến của ngƣời khác về mình). Hữu dụng hay vô dụng, thị hay phi cũng là do chủ quan của mỗi ngƣời cả, chứ theo Đạo, thì vật nào cũng ngang nhau về công dụng và chẳng có gì thị hay phi. Cuối cùng, thần Bắc Hải bảo Hà Bá: Anh hỏi tôi nên làm gì, không nên làm gì ƣ? Thì cứ để cho bản thân của anh tự nhiên biến hoá, và đừng đem cái ngƣời làm mà diệt cái thiên nhiên (bất dĩ nhân hại thiên ý này đã diễn trong bài VII.7). Tóm lại, Trang tử tìm hiểu tác động của Đạo, thấy nó sinh ra vạn vật, vạn vật biến hoá rồi qui căn, do đó ông rút ra đƣợc mấy luật này: vạn vật với ta là một, không phân biệt ta và vật; không có gì là quí tiện, vạn vật đều ngang nhau hết, không có gì là thị phi. và sau cùng đƣa ra chủ trƣơng dƣới đây để mong cứu vớt xã hội: chúng ta phải có thái độ lƣỡng hành, theo luật biến hoá tự nhiên; phải tề vật, coi vạn vật hoàn toàn bình đẳng, phải tiêu dao và để cho vạn vật hoàn toàn tự do cũng nhƣ ta. Chúng ta nhận thấy rằng Trang chỉ bàn về Đạo và quan niệm về Đạo của ông giống quan niệm của Lão; còn về Đức thì ông không hề nhắc tới. Ông để cả một chƣơng, chƣơng Đức sung phù, đƣa ra một số ngƣời có đức sung mãn, nhƣng chữ đức ông dùng trong chƣơng đó chỉ là chữ đức của Khổng, Mặc hiểu theo nghĩa nhƣ: nhân, nghĩa, lễ, trí chứ không phải chữ Đức của Lão, tức cái nguyên lí ở trong mỗi vật, cái tác dụng của Đạo ở mỗi vật, cái biểu hiện của Đạo ở mỗi vật.

78 Trang cũng không nói đến tính 67 [13], chỉ khuyên ta theo tự nhiên và để cho vạn vật thuận theo tự nhiên (nhƣ trong bài IV.4, nuôi cọp thì thuận theo cọp). Ông nói thuận theo tự nhiên, chúng ta có thể hiểu rằng thuận theo bản tính của mỗi vật. Ông phân biệt thị phi thì tất không phân biệt tính thiện ác; nhƣng ông cho tự nhiên, phác tố 68 [14] là biểu hiện của Đạo thì cũng cho nó là siêu thiện ác. Vì vậy mà các học giả cho rằng ông chủ trƣơng tính siêu thiện ác, thực ra ông không hề đem vấn đề đó ra bàn nhƣ Mạnh tử, ngƣời đƣơng thời với ông, và Tuân tử sinh sau ông. TRI THỨC LUẬN Một lần nữa, ta lại thấy Liệt tử và Trang tử có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều chủ trƣơng có những điều mình không biết đƣợc. Liệt tử hỏi: Trời đất có tận cùng không? có huỷ hoại không? rồi ông tự đáp: Điều đó ông không biết đƣợc. (Liệt tử và Dương tử - trang 32). Ông lại ngờ thực với mộng nhƣ trong ngụ ngôn một ngƣời kiếm củi bắt đƣợc con hƣơu, đập chết, giấu trong cái hào cạn, phủ cành lá lên, rồi quên mất chỗ giấu, tƣởng mình nằm mê. Còn Trang tử thì tự hỏi chủ tể của vũ trụ là gì? Và than thở không biết bao giờ loài ngƣời mới hiểu đƣợc lẽ sinh hoá trong vũ trụ (II.2). Hai lần ông thắc mắc về cái ta : bài II.5 tỉnh mộng rồi ông không biết mình hoá bƣớm, hay bƣớm hoá mình; bài VI.5, Trang lại cho Trọng Ni bảo Nhan Hồi: Ngƣời ta cho cái hình hài tạm thời của mình là cái ta, nhƣng làm sao biết đƣợc cái ta đó có thực là ta không? Trang tử cơ hồ đề cao tinh thần bất khả tri mà thành thực đó. Câu: Biết rằng có những điều mình không thể biết đƣợc, đó là đạt đƣợc cực điểm của tri của ông nghĩa cũng tựa nhƣ câu: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã của Khổng tử (Luận ngữ - Vi chính 17). Nhƣng Trang còn tiến xa hơn Khổng, cho rằng ngay đến thị phi, thiện ác, cũng không biết đƣợc vì cái thiện lúc này thì hoá các lúc khác, cái phải ở đây thì không phải ở kia. Cơ hồ ông cho không có gì là chân lí cả.

79 Cũng nhƣ Lão tử, Trang không coi trọng trí tuệ. Lão chủ trƣơng khí trí (bỏ trí tuệ đi), tuyệt xảo (dứt bỏ sự khéo léo đi) Đạo Đức kinh 18 - ; Trang cũng coi sự rời hình thể, bỏ trí tuệ, hợp nhất với đại Đạo (li hình, khứ trí, đồng ƣ Đại thông 69 [15] ) là đạt đƣợc mức tối cao của sự tu dƣỡng (VI.7). Bài V.5, ông coi trí tuệ là mầm thừa, vì không mƣu tính cái gì thì đâu cần tới trí tuệ. Chữ trí tuệ có nghĩa cũng gần nhƣ trí xảo, mà trí xảo thì ông rất ghét vì nó là nhân vị, làm hại thiên nhiên, nhƣ ngụ ngôn VII.7 về việc vua Nam Hải và vua Bắc Hải đục lỗ cho vua Trung Ƣơng làm cho vua Trung Ƣơng chết. Đầu chƣơng Dƣỡng sinh chủ có một câu bất hủ, môn đồ Lão Trang rất thích, thƣờng đem ra mỉa mai hạng ngƣời hiếu học. Câu đó nhƣ sau: Ngô sinh dã hữu nhai nhi tri dã vô nhai, dĩ hữu nhai tuỳ vô nhai, đãi dĩ : Đời người có hạn mà chạy theo cái vô cùng. Đem cái vô hạn mà chạy theo cái vô cùng thì tinh thần phải mệt mỏi. Mệt mỏi mà không ngừng thì sẽ nguy mất. Vả lại, cái mức cao nhất của tri thức là biết đƣợc thiên đạo và nhân sự. Biết đƣợc thiên đạo là biết rằng vạn vật do tự nhiên sinh ra, vậy thì phải theo tự nhiên. Biết đƣợc nhân sự là dùng cái mà trí tuệ có thể biết đƣợc để bảo hộ cái mà trí tuệ không thể biết đƣợc tức cái sinh mệnh hầu hƣởng hết tuổi trời, khỏi chết yểu (VI.1). Nghĩa là mục đích của chúng ta là tìm hiểu lẽ tự nhiên (Đạo) rồi sống theo tự nhiên để hƣởng hết tuổi trời. Công việc tìm hiểu đó chỉ dùng trực giác mà thực hiện đƣợc. Dùng trực giác nghĩa là đứng ở cái chốt của Đạo (Đạo xu), tức cái trung tâm để ứng với cái biến hoá vô cùng trên cái vòng bánh xe (thiên quân) xoay hoài chung quanh. Dùng trực giác thì đâu cần tới sách vở. Trông thấy năm xe sách của Huệ tử, chắc Trang phải mỉm cƣời cho bạn là hạng tiểu trí, đứng trên cái vòng bánh xe mà phân biệt những cái nhỏ nhặt, chứ không phải là đại trí, đứng ở trung tâm để bao quát đƣợc hết thảy. Về điểm đó Trang tử cũng giống Liệt tử. Liệt tử bảo: Cơ thể hoà hợp với tâm, tâm hoà hợp với khí, khí hoà hợp với thần, thần hoà hợp với cái vô mà hễ có một hình thể rất nhỏ nào xuất hiện, một thanh âm rất nhỏ nào thoảng qua dù ở xa hay ở gần tôi

80 cũng biết liền. Nhƣng tôi không hiểu là do cảm giác của ngũ quan hay của các bộ phận trong ngƣời, chỉ biết rằng cái biết đó tự nhiên phát ra vậy thôi. Cái biết đó chính là trực giác, trái với sự suy luận. Còn Trang thì bảo đừng suy luận gì hết sẽ thấy đƣợc Đạo. Càng suy luận chỉ càng thêm rối mù. Ông đƣa ra một thí dụ: một ngƣời bảo mới đầu vũ trụ có cái gì đó (hữu) ; một ngƣời khác bảo mới đầu vũ trụ không có gì cả (vô); một ngƣời nữa bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có gì cả ; lại một ngƣời thứ tƣ khác nữa bác cái thuyết ngƣời thứ ba dùng để bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có gì cả. Khi thì có, khi thì không. Mà không biết cái có, cái không đó có thực là có, có thực là không không. Tôi (Trang tử) mới đƣa ra một ý kiến, nhƣng nó có thực là ý kiến hay là không có ý kiến gì cả Vũ trụ hợp nhất, (nhƣ vậy là một rồi); cái nhất đó thêm cái ta nói về nó, thế là hai cái rồi; hai cái đó với cái nhất (nguyên thuỷ) thành ra ba. Cứ nhƣ vậy mà tính tiếp thì ngƣời giỏi tính cũng đành chịu; huống hồ là ngƣời thƣờng. Nhƣ vậy là từ không tới có đã có ba ý khác nhau rồi; huống hồ từ có tới có, sẽ có cơ man nào là ý (II.7). Không nên suy luận, mà tranh biện lại càng không nên, vì ngôn ngữ không chắc chắn nó thay đổi theo hoàn cảnh, không diễn đƣợc Đạo -; tranh luận chỉ thấy cái phiến diện vì ngƣời nào cũng chấp nhất, mà càng chấp nhất, càng có thành kiến thì Đạo càng bị che lấp: Đạo bị thành kiến nhỏ nhen che lấp; lời bị sự hoa mĩ phù phiếm che lấp. Do đó mà phái Nho, phái Mặc tranh biện 70 [16] với nhau. Cái gì phái này cho là phải thì phái kia cho là trái; cái gì phái này cho là trái thì phái kia cho là phải. Muốn thấy điểm phải trong chỗ họ cho là trái, thấy điểm trái trong chỗ họ cho là phải thì không gì bằng dùng trực giác (II.3). Tranh biện chỉ phí sức, mất thì giờ, vô ích, vì không có kẻ thắng ngƣời bại; rốt cuộc chẳng giải quyết đƣợc gì cả: Giả sử tôi tranh biện với anh mà anh thắng tôi thì có nhất định là anh phải, tôi trái không? Nếu tôi thắng anh thì có nhất định là tôi phải, anh trái không? Trong chúng ta có một ngƣời phải, một ngƣời trái? Hay cả hai chúng ta đều phải cả hoặc đều trái cả? Anh và tôi làm sao biết đƣợc điều đó? Mà một ngƣời thứ ba nào khác thì cũng hồ đồ không biết đƣợc, lựa ai sáng suốt làm trọng tài đây? Hỏi một ngƣời cùng một ý kiến với anh, thì ngƣời đó do lẽ cùng ý kiến với anh, làm sao có thể phê phán đƣợc? Nếu là một ngƣời cùng ý kiến với tôi thì ngƣời này do lẽ cùng ý kiến với tôi, làm sao có thể

81 phê phán đƣợc? Nếu là một ngƣời ý kiến khác cả tôi lẫn anh, hoặc giống cả tôi lẫn anh thì cũng làm sao phán đoán đƣợc? Vậy anh, tôi và ngƣời thứ ba đó đều không quyết đƣợc ai phải, ai trái. Có nên đợi một ngƣời thứ tƣ nữa không? (II.12) Và ông tỏ thái độ trong bài II.8: Đại Đạo không có tên, đại biện luận thì không nói ( ) Cái Đạo mà minh thị ra rồi thì không phải là Đạo; biện luận mà phải dùng lời nói thì không đạt đƣợc chân lí. Ngoại thiên có bài Trí Bắc du 1 và Tạp thiên có bài Tác Dƣơng 12 cũng diễn lại ý đó: Tác Dƣơng 12: Nếu dùng lời nói mà đủ thì chỉ cần nói về Đạo suốt ngày là hiểu hết về nó; nếu dùng lời nói mà không đủ thì có nói suốt ngày cũng chỉ quanh quẩn nói về vật, (làm sao mà hiểu về Đạo đƣợc). Cái cảnh giới tối cao của Đạo ( ) ngôn ngữ và trầm tƣ đều không thể chở nó đƣợc. Không nói gì cả, cũng không trầm tƣ, đó là cái mức tối cao của nghị luận. Nghĩa là đừng nói cũng đừng suy nghĩ gì cả: Trí Bắc du 1 dùng một ngụ ngôn: Trí đi chơi phƣơng Bắc, gặp Vô Vi Vị (tƣợng trƣng ngƣời không làm không nói) hỏi: Muốn hiểu Đạo thì phải suy nghĩ những gì, ra sao? Vô Vi Vị không đáp. Trí trở về phƣơng Nam, gặp Cuồng Khuất (tƣợng trƣng ngƣời hơi hiểu Đạo) cũng hỏi câu đó; Cuồng Khuất vừa định đáp thì quên mất mình muốn nói gì. Sau cùng Trí yết kiến Hoàng Đế, lại hỏi câu đó. Hoàng Đế đáp: Đừng suy nghĩ gì cả thì mới biết đƣợc Đạo. Nhƣng Hoàng Đế lại nhận rằng Vô Vi Vị, mới thật là đạt Đạo, vì không nói gì hết, Cuồng Khuất mới tựa nhƣ đạt Đạo vì còn định nói, còn chính mình (Hoàng Đế) thì chƣa gần đƣợc Đạo, vì đã nói về Đạo. Hoàng Đế kết: Vì ngƣời biết thì không nói mà kẻ nói thì không biết. (Tác giả bài này có thể thuộc phái Lão vì ở đoạn dƣới dẫn nhiều câu trong Đạo Đức kinh, nhƣng

82 riêng về đoạn trên, đã diễn đúng ý của Trang). Trang đã chỉ trích thói tranh luận của các chƣ tử đƣơng thời, đặc biệt là Khổng và Mặc, với bọn nguỵ biện Huệ Thi và Công Tôn Long. Ông có lí: tranh biện không thuyết phục đƣợc đối phƣơng khi hai bên khăng khăng giữ ý kiến của mình. Trong trƣờnh hợp đó, dùng trọng tài nào cũng vô ích. Các cuộc hội nghị ở Liên Hiệp quốc về vấn đề hoà bình của thế giới, chứng minh lời của ông: Tất cả chỉ là những đàm thoại giữa ngƣời điếc. Tuy nhiên họ cứ đấu khẩu với nhau, nhƣ vậy vẫn còn hơn là đấu súng. Vì chủ trƣơng dùng trực giác chứ không suy luận, nên phái Lão, Liệt. Trang không cống hiến gì nhiều cho Tri thức luận của Trung Hoa, không bằng Khổng, Mặc và Danh gia. Nhƣ vậy có lợi hay có hại cho dân tộc Trung Hoa, cái đó tuỳ quan niệm của từng ngƣời. CHÍNH TRỊ LUẬN Phần chính trị luận chiếm trọn chƣơng VII (Ứng đế vƣơng) và dăm ba đoạn trong vài chƣơng khác. Tuy nhiên, cũng nhƣ Lão và Liệt, Trang chỉ đƣa ra ít nguyên tắc, không đi vào chi tiết (cách tổ chức xã hội, trách nhiệm của vua, quan, giáo dục, kinh tế, võ bị ) nhƣ Khổng phái, vì chủ trƣơng của ông rất giản dị: vô vi, trái hẳn với chủ trƣơng của Khổng, Mặc, Pháp. Ta còn nhớ vua Sở muốn giao chức tƣớng quốc cho ông, ông từ chối. Chắc ông đã gai mắt khi thấy bọn sĩ đƣơng thời bôn ba từ Tống qua Tề, từ Tần qua Sở để mong đƣợc các vua chƣ hầu thu dụng, chê họ là tham danh lợi, bị ngoại vật chi phối mà đánh mất cái thiên chân. Cho nên ông khen Hứa Do đã trả lời nhƣ sau khi vua Nghiêu kính cẩn xin giao thiên hạ cho : Nhà vua trị nƣớc mà nƣớc bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ƣ? Danh là khách của cái thực, tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu liêu (một loài chim nhỏ), làm ổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con yểnthử (con mạch tapir)uống nƣớc sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu (I.2). Trong bài VII.3, Trang tử còn cho Ngƣời-không-tên nổi giận khi Thiên căn (một tên tƣởng tƣợng) hỏi cách trị thiên hạ. - Cút đi! Quân thô lỗ! Hỏi gì mà thấy ghét! Ta giao du với tạo vật, chán rồi thì cƣỡi con chim phiếu

83 điểu để bay ra ngoài vũ trụ và tiêu dao ở chỗ hƣ vô tịch mịch, trong cõi khoáng đãng, sao anh lại đem cái việc trị thiên hạ ra làm bận lòng ta! Thiên Căn gặn hỏi nữa. Ngƣời-không-tên đáp: - Anh rán tập cho lòng anh điềm đạm, thần khí anh điềm tĩnh, cứ thuận theo tính tự nhiên của vật, đừng có một chút tƣ ý, nhƣ vậy thiên hạ sẽ thái bình. Ngƣời-không-tên đó chính là Trang. Ông muốn tiêu dao, không chịu cảnh bó buộc, luồn cúi ở triều đình, nhƣng ông cũng chỉ cách trị thiên hạ cho các vua chúa đƣơng thời vì ông cho rằng chủ trƣơng hữu vi của họ hỏng bét. Điềm tĩnh, cứ thuận theo tính tự nhiên của vật, đừng có tƣ ý, hàng chữ đó tóm tắt đƣợc hết tƣ tƣởng chính trị của ông. Tƣ tƣởng đó, ông chịu ảnh hƣởng của Lão và của Liệt. Lão là ngƣời đầu tiên đƣa ra chính sách vô vi. Trong Đạo Đức kinh chúng ta thấy hai chữ vô vi đƣợc lập đi lập lại trên chục lần:. Theo thái độ vô vi thì không việc gì là không tốt đẹp (Vô vi tắc vô bất trị - chƣơng 3).. Thánh nhân theo thói vô vi mà xử sự (Thánh nhân xử vô vi chi sự - chƣơng 2).. Đạo thƣờng vô vi mà không gì là không làm (Đạo thƣờng vô vi nhi vô bất vi chƣơng 37).. Dân sở dĩ khó trị là vì ngƣời cầm quyền theo thái độ hữu vi (Dân chi nan trị, dĩ kì thƣợng chi hữu vi chƣơng 75).. Ta vô vi mà dân tự cải hoá (Ngã vô vi nhi dân tự hoá chƣơng 57). vân vân Còn Liệt tử thì dùng một ngụ ngôn: Hoàng Đế trị dân mƣời năm, đƣợc dân chúng tôn thờ; trị dân thêm mƣời năm nữa thì nƣớc lại muốn loạn, chính ông cũng hoá mê loạn. Ông bèn bỏ việc nƣớc, bỏ hết cơ mƣu, trai tâm ba tháng, một hôm nằm mộng thấy lại chơi nƣớc Hoa Tƣ Thị, nƣớc đó không có vua, tự nhiên mà trị, dân không có thị dục, tự nhiên mà sống ; tỉnh dậy ông giác ngộ, theo đạo vô

84 vi, giữ ngôi thêm hai mƣơi tám năm nữa, thiên hạ thật bình trị. Quan niệm vô vi của Trang tử cũng không có gì khác. Nhà cầm quyền phải sửa mình cho ngay để cảm hoá dân, thuận theo tính của dân, chứ không dùng pháp độ. Con chim biết bay cao để tránh cái lƣới và mũi tên; con chuột đồng biết đào hang sâu ở dƣới cái gò thờ thần để tránh cái hoạ bị hun khói, bị đào hang. Lẽ nào ngƣời không khôn bằng hai con vật ấy? (VII.2). Nghĩa là dân do thiên tính ngày nay ta gọi là bản năng biết tránh cái hại, tìm cái lợi cho mình, không cần giáo hoá họ - không giáo hoá, chỉ cảm hoá họ thôi, - đó cũng là một cách giáo hoá, giáo hoá mà không dùng lời: bất ngôn chi giáo. Nếu lại dùng pháp độ, bắt họ vào khuôn vào phép theo ý riêng, thành kiến của mình thì tất thất bại, nhƣ đào kinh trong biển, bắt muỗi đội núi thôi. Chẳng những không có kết quả mà còn có hại cho dân nữa, nhƣ vua Nam Hải vả vua Bắc Hải đục thêm lỗ cho vua Trung Ƣơng mà hoá ra giết vua Trung Ƣơng (bài VII.7). Giúp cho thiên nhiên (trợ thiên) tức là làm hại thiên nhiên (hại thiên). Ý này đƣợc diễn lại trong bài 2 chƣơng VIII (ngoại thiên): chân vịt tuy ngắn, nối cho dài ra thì vịt sẽ đau; chân hạc tuy dài, cắt ngắn lại thì hạc sẽ khổ. Trời sinh ra sao thì cứ để nhƣ vậy là thuận thiên. Vậy phải để cho dân hoàn toàn tự do, có tự do sống theo bản năng của họ: đói thì kiếm ăn, no rồi thì vỗ bụng đi chơi, nhƣ vậy dân mới thảnh thơi tự tại, mới tiêu dao, mới thoả mãn hƣởng hết tuổi trời. Muốn đƣợc tự do, phải có bình đẳng. Trong vũ trụ không có vật nào quí, vật nào tiện thì trong xã hội cũng không có ngƣời sang kẻ hèn, không có quân tử, tiểu nhân nhƣ Khổng giáo phân biệt: quân tử thì trị dân, tiểu nhân thì bị trị. Tôi không hiểu Trang có chủ trƣơng quân thần tịnh canh (vua tôi đều cày cấy) nhƣ Hứa Hành, một triết gia đồng thời với ông bị Mạnh tử mạt sát kịch liệt trong Đằng Văn công, thƣợng không. Đối với các dân tộc khác, cũng phải coi họ bình đẳng với mình và để họ tự do, không đƣợc viện một lẽ gì mà xâm lăng họ. Trang tử diễn ý đó bằng một trọng ngôn bài II.9: Xƣa vua Nghiêu hỏi ông Thuấn: - Tôi muốn đánh các nƣớc Tông, Khoái và Tƣ Ngao, nhƣng mỗi khi lâm triều, tôi thấy lòng không yên. Tại sao vậy? Ông Thuấn đáp:

85 - Vua ba nƣớc đó ở chỗ hoang vu đầy lau sậy. Lòng nhà vua không yên là vì đâu ƣ? Xƣa mƣời mặt trời cùng xuất hiện, chiếu sáng vạn vật. Đạo đức há chẳng chiếu sáng hơn mặt trời ƣ? Theo tôi câu cuối đó, nguyên văn là: nhi huống đức chi tiến hồ nhật giả hồ, có vẻ lạc lỏng, không liên lạc gì với câu trên: Muốn để câu cuối đó thì câu trên cần viết: Mặt trời chiếu sáng vạn vật là đủ rồi, thêm mƣời và cùng xuất hiện để làm chi? Tôi đoán ông Thuấn tức Trang chỉ muốn nói: Cứ để yên ba ông vua đó, xƣa mƣời mặt trời cùng chiếu sáng vạn vật thì nay tại sao lại không thể có bốn ông vua (ba ông vua đó và vua Nghiêu) cùng cai trị thiên hạ. Không dùng pháp độ thì tất không dùng lễ tín (nó là thứ keo câu thúc ngƣời ta khiến ngƣời ta mất hết tự do), không dùng đức huệ (nó là thứ để tiếp dẫn, để thu phục ngƣời khác), không dùng nhân nghĩa. Lão tử cho rằng Đại Đạo bị bỏ, rồi mới có nhân nghĩa (chƣơng 18) nên ông chủ trƣơng tuyệt nhân khí nghĩa (chƣơng 19) để trở về Đạo. Trang không bàn nhiều về điểm đó, chỉ hé cho ta thấy một chút thôi. Bài VII.1 ông bảo: Vua Hữu Ngu còn dùng lòng nhân để kết nhân tâm chứ chƣa thoát ra khỏi sự vật và trong bài VI.6, ông cho Ý Nhi tử lại thăm Hứa Do. Hứa Do hỏi: - Vua Nghiêu dạy anh điều gì? Ý Nhi tử đáp: - Vua Nghiêu khuyên tôi trau giồi nhân nghĩa, biện biệt thị phi. Hứa Do bảo: - Vậy thì anh tới đây làm gì nữa? Vua Nghiêu đã đem nhân nghĩa xâm vào mặt anh, dùng thị phi cắt mũi anh, thì làm sao anh còn đạt đƣợc cảnh giới tiêu dao, thuận ứng mọi sự biến hoá đƣợc nữa? Trang chỉ có hai lần đó là chê nhân nghĩa và trách nhẹ vua Thuấn và vua Nghiêu, các chỗ khác ông rất ôn hoà với các ông thánh của đạo Nho; trọng Khổng tử - nếu không thì ít nhất cũng coi Khổng là một nhân vật quan trọng đƣợc thiên hạ tin, nên đem tƣ tƣởng của mình đặt vào miệng Khổng tử để lời của mình thêm giá trị (nhƣ các bài V.1, VI.1 71 [17] ; có chỗ Trang còn đề cao Nghiêu, Thuấn nữa: Những ngƣời thụ mệnh ở trời chỉ duy có Nghiêu, Thuấn là giữ đƣợc chính khí, nên đứng đầu

86 mọi vật (V.1). Liệt tử cũng có thái độ nhƣ Trang, còn Lão tử thì không phục Nghiêu, Thuấn, nhƣng cũng không hề gọi đích danh hai ông ấy ra chỉ trích. Ông ấy chỉ bảo phải tuyệt thánh thôi. Chữ thánh đó phải hiểu là thánh của đạo Nho (còn thánh của đạo Lão thì Lão, Liệt, Trang đều trọng, dĩ nhiên). Tới đời sau, trong Ngoại và Tạp thiên chúng ta mới nghe thấy những lời mạt sát kịch liệt Nghiêu, Thuấn cho họ là giúp kẻ cƣớp, có tội với xã hội (coi các chƣơng Mã đề, Khƣ khiếp). Sau cùng vô vi còn có nghĩa là khí trí : Thánh nhân không mƣu tính cái gì, đâu cần tới trí tuệ? (V.5). Trí xảo càng đáng ghét hơn nữa: Nó giết chết thiên tính (VII.7); ngay nhƣ công nghệ cũng đáng khinh nhƣ thƣơng mại, không chế tạo cái gì thì đâu cần đến thƣơng mại? (V.5). Trang không nói ra, nhƣng ta phải hiểu ngầm rằng trong xã hội lí tƣởng của Trang chỉ có nông nghiệp là cần thiết: Dân phải ăn cho no rồi mới vỗ bụng đi chơi đƣợc; còn về mặc thì chẳng phải nuôi tẳm, ƣơm tơ, dệt lụa cho mất công (cái đó thuộc về công nghệ rồi), có thể dùng vỏ cây nhƣ loài ngƣời nguyên thuỷ; và chỗ ở thì đã có hang đá và cành lá trong rừng. Xã hội lí tƣởng đó chắc không khác xã hội Lão tử tả trong chƣơng 80 là bao nhiêu. 72 [18] Theo Trang, vô vi là một chính sách cực tốt, gồm đƣợc các kế hoạch ; làm cho công việc hoá giản dị, hƣớng dẫn trí tuệ (VII.6), mà kết quả thần diệu. Bài VII.4, ông khen công của bậc minh vƣơng vô vi nhi trị : Minh vƣơng vị thiên hạ thì công trùm thiên hạ mà cơ hồ không phải là công của mình (ý nghĩa nhƣ câu: Vô vi nhi vô bất vi); vạn vật đều đƣợc cảm hoá mà không thấy là nhờ đức của mình; công đức ấy có đấy mà không ai chỉ ra đƣợc, vạn vật đều thoả mãn. Hành động của thánh nhân thần diệu không ai đoán đƣợc; họ đồng hoá với sự hƣ vô. Cho nên mới bảo rằng: Bậc chí nhân thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lƣu danh (I.1). Câu này đại ý cũng nhƣ câu: Vi nhi bất thị, công thành nhi phất cƣ (làm mà không trông, thành công mà không cho là công của mình), của Lão tử (chƣơng 2). Quên mình là cứ điềm tĩnh, cứ thuận tính tự nhiên của vật đừng có một chút tƣ ý (VII.3), nhất là đừng phân biệt mình và ngƣời. Không lập công vì họ không có chủ ý lập công, cứ thuận thiên nhiên, tuy

87 hành động mà không phải là hành động, tuy vô bất vi mà chỉ là vô vi, cho nên làm cho vạn vật thoả mãn mà không cho là công của họ. Họ không lƣu danh vì không ai thấy cái công của họ, nên không biết họ, đời sau không nhắc tới họ. Họ đồng hoá với Đạo rồi. Đó, thánh nhân của Lão, Trang nhƣ vậy, khác xa thánh nhân của Khổng, Mạnh. NHÂN SINH QUAN Lí tƣởng của Trang tử Một số học giả nhƣ Phùng Hữu Lan cho Trang tử chịu ảnh hƣởng của Dƣơng tử. Điều đó có lí. Trong tất cả các triết gia Tiên tần, tôi chỉ thấy Dƣơng và Trang là đặt vấn đề hạnh phúc của con ngƣời. Trong bài Nên hƣởng đời (VII.2) mà tôi đã trích dịch trong cuốn Liệt tử và Dương tử, trang Dƣơng bảo đời ngƣời ngắn ngủi, trừ những lúc bé nhỏ, già nua, ốm đau, buồn khổ, chỉ còn khoảng mƣời năm có thể sống ung dung vui vẻ đƣợc nếu không phải lo lắng việc này việc khác. Đã vậy mà xã hội lại còn dùng cách thƣởng phạt khuyên ngăn, dùng danh vọng và pháp luật để cấm đoán thành thử con ngƣời không đƣợc thoả thuê phóng túng hƣởng lạc một lúc nào cả. Ngƣời thời thái cổ biết rằng đời sống chỉ là tạm, chẳng bao lâu rồi chết, cho nên hành động theo lòng mình, không trái những thị hiếu tự nhiên ( ) theo bản tính của họ, không làm trái với xu hướng của vạn vật ( ). Danh tiếng hơn hay kém, tuổi thọ nhiều hay ít họ không quan tâm tới. Những chữ tôi cho in ngã là những ý chúng ta thấy lại trong học thuyết của Trang, Sống ung dung vui vẻ, thoả thuê, không để cho xã hội bó buộc mình, theo bản tính của mình và thuận theo tính của vạn vật, cứ sống hết tuổi trời, không quan tâm tới sinh tử, đó là quan niệm tiêu dao, thảnh thơi tự tại của Trang và Trang không phải là vô cớ đã đặt ngay lên đầu tác phẩm của mình. Muốn tiêu dao thì phải: - Thuận thiên : Trời cho mình làm con chim bằng tung cánh bay đƣợc hàng vạn dặm, thì mình cứ đập nƣớc cho tung toé mà lên cao tới trời xanh; nhƣng nếu trời cho mình là con chim cút chỉ lên cao đƣợc vài nhẫn thì cứ bay liệng trong đám cỏ bồng cỏ cảo, cũng sƣớng nhƣ con chim bằng vậy, ƣớc ao đƣợc nhƣ nó làm chi? 73 [19] Trời cho mình thọ trăm năm thì cứ hƣởng trọn trăm năm, đừng than

88 thở làm sao không đƣợc nhƣ ông Bành Tổ sống bảy trăm năm, vì có tinh thần không tự tại thì dẫu có thọ đƣợc nhƣ ông Bành Tổ, cũng vẫn chƣa thoả mãn, sẽ ganh tị với con rùa thần sống mấy ngàn năm hoặc cây xuân sống mấy vạn năm. Trời cho mình có tài mà gặp thời, đƣợc giàu sang tột bậc thì cứ hƣởng cảnh giàu sang; có tài mà không gặp thời thì bện dép sống trong căn nhà lá cũng có cái vui riêng của cuộc đời bình dị, tự do. Thuận thiên còn có nghĩa là tiếp vật theo bản tính của mọi vật, theo luật thiên nhiên. Nhƣ tên bếp của vua Văn Huệ mổ bò biết cơ cấu thiên nhiên của con bò, chỉ lách lƣỡi dao vào những chỗ kẽ trong thân thể nó, không đụng tới kinh lạc, gân, bắp thịt của nó, ( ) chầm chậm đƣa lƣỡi dao thật nhẹ tay, (nhƣ vậy) khớp xƣơng rời ra dễ dàng nhƣ bùn rơi xuống đất. (III.2). Chủ trƣơng thuận thiên là chủ trƣơng của Khổng Mạnh, Lão Trang, có thể nói là xu hƣớng của dân tộc Trung Hoa nữa, trái hẳn với chủ trƣơng chế thiên của Ki tô giáo và các dân tộc phƣơng Tây, vì trong triết học Trung Hoa cho tới đời Thanh chỉ có một mình Tuân tử là muốn chế thiên nhƣng học thuyết của ông chỉ thịnh từ cuối Chiến Quốc tới Tần Hán, rồi sau không đƣợc nhắc tới. Thuận thiên thì đời ngƣời ung dung thƣ thái, xã hội ổn định nhƣng kinh tế, kĩ nghệ không phát đạt; chế thiên thì con ngƣời hoá có tinh thần chiến đấu, nhƣng ham lợi, xã hội không ổn định, nhƣng kinh tế, khoa học, kĩ nghệ phát đạt. Trong hai ba thế kỉ nay phƣơng Tây nhờ chế thiên mà làm chủ thế giới, bây giờ đã lên đƣợc cung trăng, nhƣng khi họ lên đƣợc cung trăng là lúc họ thấy hậu quả tai hại của sự chế thiên (do sự phát triển hỗn độn của kĩ nghệ mà thế giới đông dân quá, đất đai không đủ nuôi, không khí, nƣớc sông, nƣớc biển, mặt đất bị nhiễm độc tới mức theo một số nhà khoa học hai chục năm nữa loài ngƣời không sống đƣợc nữa 74 [20] và họ hô hào trở lại triết lí phƣơng Đông, đặc biệt là của Lão Trang: Tiết dục để bớt hƣởng thụ (do đó sản xuất ít đi) bớt sinh con đẻ cái đi, phải tuân theo luật thiên nhiên trong mọi công việc khoa học và kĩ nghệ 75 [21]. - Bất đãi: không chờ đợi, tức không tuỳ thuộc một cái gì. Phải nhƣ Vinh tử nƣớc Tống, coi thuờng danh lợi, vinh nhục: Dù đƣợc cả nƣớc khen, ông cũng không mừng, bị cả nƣớc chê ông cũng không buồn, vì ông không để cho ngoại vật làm chủ mình; nhƣng nhƣ vậy chƣa đủ vì ông chƣa biết thích nghi với vật. Thích nghi với vật nhƣ Liệt tử: Cƣỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng khoan khoái, cũng vẫn chƣa đủ, vì Liệt vẫn còn phải tuỳ thuộc gió.

89 Chỉ khi nào làm chủ đƣợc (ta nên hiểu là đạt đƣợc) cái chính đạo của trời đất, chế ngự đƣợc lục khí (ta nên hiểu là hoà đồng với lục khí, chứ không phải chế ngự nhƣ phƣơng Tây: chế ngự thiên nhiên) thì con ngƣời mới thật tiêu dao. Đây là điểm huyền bí trong triết học của Trang. Ông cho rằng ngƣời nào đạt đƣợc mức đó thì không có vật gì làm hại đƣợc nữa: Nƣớc có dâng lên tới trời, họ cũng không bị chết đuối; trời có đại hạn tới nỗi kim thạch chảy ra, cháy cả rừng núi, đồng ruộng, họ cũng không thấy nóng (I.3). Bậc chí nhân (đạt Đạo) là thần rồi. Đồng cỏ có cháy cũng không làm cho họ thấy nóng, sông rạch đóng băng cũng không làm họ thấy lạnh, sét đánh đổ núi, gió làm dậy sóng cũng khiến cho họ lo sợ. Họ chế ngự gió mây, cƣỡi mặt trời mặt trăng mà đi chơi ngoài bốn bể (II.10). Tƣ tƣởng hoà đồng với vạn vật có từ thời Dƣơng tử (coi Liệt tử VII.5 trang 280 bộ Liệt tử và Dương tử của nhà Lá Bối); nhƣng tƣ tƣởng hoà đồng để rồi hoá đồng với vạn vật thì tôi chỉ thấy ở Liệt tử và Trang tử. Liệt tử có bốn bài ngụ ngôn diễn ý hoà đồng với vạn vật thì vạn vật không hại mình đƣợc, cả khi vô lửa, vô nƣớc, mà còn giúp mình bay đƣợc nữa, và mình sẽ trƣờng sinh bất tử (Liệt tử - trang 44). Chúng ta không biết chắc đƣợc Trang có tin những phép thần thông đó không, nhƣng lập luận của ông không có chỗ nào bẻ đƣợc: Đã hoà đồng và hoá đồng với vạn vật, với lửa và nƣớc; thì đồng thể với lửa và nƣớc, lửa và nƣớc hại làm sao đƣợc nữa; đồng thể với gió thì tất bay đƣợc nhƣ gió; sau cùng hoá đồng với Đạo thì tất cũng trƣờng sinh bất tử với Đạo. Ngoại thiên đƣa ra hai lối giảng nữa. Bài Đạt sinh 2, Quan Doãn bảo: Sinh vật khác nhau ở đâu? 76 [22] Chỉ là nhờ không có hình sắc mà thôi. Nhƣng vật nào không có hình sắc thì đạt đƣợc cảnh giới không biến hoá. Đạt đƣợc cùng cực của cảnh giới ấy thì không còn bị các vật khác khống chế nữa. Nhƣ vậy là đạt đƣợc cái trung độ, cái cƣơng kỉ vô thuỷ vô chung mà tiêu dao ở cảnh giới sơ thuỷ của vạn vật, hợp nhất với bản tính, hàm dƣỡng nguyên khí, trở về với cái Đức nguyên thuỷ mà cảm thông với tự nhiên. Một ngƣời nhƣ vậy bảo toàn đƣợc thiên tính, tinh thần không suy tổn, ngoại vật làm sao xâm nhập mà làm hại đƣợc?

90 Ý đó hơi giống ý của Trang. Tác giả bài Thu Thuỷ 1 không rõ có chịu ảnh hƣởng của Khổng giáo không, cho rằng hạng chí đức vô lửa mà không nóng, xuống nƣớc mà không chìm, cầm thú không làm hại đƣợc, chỉ vì họ xét rõ an và nguy, bình tĩnh trƣớc hoạ và phúc, thận trọng tiến lui, thế thôi. Ta cũng không biết Trang có tu luyện để đạt cảnh giới đó không, ta chỉ thấy bài IV.1, có nói đến sự tâm trai (tập trung tinh thần, không nghe bằng tai mà nghe bằng tâm, không nghe bằng tâm mà nghe bằng khí), nhƣng bài này nhiều ngƣời ngờ rằng không phải của Trang; rồi trong bài VI.7, có nói cách tu của Nhan Hồi (dĩ nhiên là tƣởng tƣợng) đạt đƣợc tới mức toạ vong (ngồi mà quên hết thảy: quên nhân nghĩa, quên lễ nhạc, sau cùng cởi bỏ thân thể, trừ tuyệt thông minh, hợp nhất với đại Đạo); cả hai bài đó đều chẳng giúp ta hiểu đƣợc gì. Duy có bài VI.2 là tả sơ sơ các giai đoạn tu luyện. Nhữ Vũ bảo Nam Bá Tử Quì: Đây là kinh nghiệm của tôi. Sau ba ngày, tôi coi thiên hạ nhƣ hƣ không. Đã coi thiên hạ nhƣ hƣ không rồi, tôi lại tập bảy ngày nữa, lúc đó coi vạn vật nhƣ hƣ không. Tiếp tục chín ngày nữa thì tôi coi sinh tử là hƣ không. Rồi tôi bỗng nhiên giác ngộ nhƣ thấy cảnh bình minh. Có cảm giác đó rồi mới thấy vạn vật chỉ là một. (Tới đây ta có thể hiểu đƣợc, nhƣng rồi:) Thấy vạn vật chỉ là một rồi, sau mới vƣợt đƣợc cổ kim; vƣợt cổ kim rồi sau đó mới vô đƣợc cõi không có sống có chết. Cách tu luyện đó có vẻ có hiệu quả hơn cách trong Liệt tử nhiều. Bài II.3, Liệt tử cho hay rằng, Liệt tử hồi học Lão Thƣơng sau ba năm đầu lòng không dám cân nhắc phải trái, miệng không đám nói đến lợi hại, lúc đó mới đƣợc thầy liếc mắt nhìn; lại hai năm nữa, lòng lại cân nhắc phải trái, miệng lại nói đến lợi hại, lúc đó mới đƣợc thầy ban cho một nụ cƣời; lại hai năm nữa là bảy năm, không thấy gì là phải trái, lợi hại nữa, lúc đó mới đƣợc phép cùng ngồi một chiếu với thầy, lại hai năm nữa là chín năm mới giải thoát đƣợc ý nghĩ trong lòng với lời nói ngoài miệng, đã không phân biệt đƣợc cái phải trái lợi hại của ta ở đâu, mà cũng không phân biệt đƣợc cái phải trái lợi hại của ngƣời ở đâu, cũng không phân biệt đƣợc thầy ta là thầy, bạn ta là bạn nữa, nghĩa là hết phân biệt nội và ngoại (mình và vật). Dĩ nhiên, ta không nên so sánh số ngày số năm trong hai bài, toàn là những số tƣợng trƣng; nhƣng ta cũng thấy rằng Liệt chƣa đắc Đạo nhƣ Nhữ Vũ: Liệt mới hết phân biệt nội, ngoại; Nhữ Vũ đã vƣợt

91 đƣợc cổ kim mà vô đƣợc cõi không có sống chết, tức hợp nhất với Đạo. Đƣợc nhƣ Nhữ Vũ thì gọi là thần nhân (bài I.3) hay chí nhân (bài II.10) hay thánh nhân (bài VI.2). Còn chân nhân thì bài VI.1 đã tả kỉ lƣởng nhƣ sau: Chân nhân thời cổ không ham sống, không sợ chết, sinh ra không thấy làm vui, chết đi không thấy làm buồn, hốt nhiên tới rồi hốt nhiên đi ( ) cũng không cầu đƣợc chết, vui vẻ tiếp nhận cái gì tới, rồi khi mất cái đó thì cho là nó trở về với tự nhiên. Nhƣ vậy là không đem cái tâm của mình làm tổn thƣơng Đạo, không dùng sức ngƣời giúp sức trời ( ) vui hay giận đều vô tâm, tự nhiên nhƣ bốn mùa chuyển vần, thích nghi với vạn vật mà không ai biết đƣợc dấu vết. Chân nhân thời cổ có vẻ uy nghi mà không kiêu căng, khiêm tốn mà độc lập; nhân cách khác ngƣời mà không cố chấp; chí khí hơn ngƣời mà lòng thì hƣ tĩnh, không thích khoe khoang; lâng lâng nhƣ cực kì vui vẻ, bất đắc dĩ mới xử sự; nét mặt hoà nhã nên ai cũng muốn đƣợc thân cận; khoan dung đại độ nên ai cũng muốn qui phụ; tự do nên không ai áp chế đƣợc; trầm mặc nhƣ ở sau một cánh cửa đóng; vô tâm với thế sự nhƣ ngƣời quên mất ngôn ngữ. Một ngƣời nhƣ vậy coi hình pháp là thân thể, lễ nghi là cặp cánh, trí tuệ là thủ đoạn để ứng phó, đạo đức là thuận thiên tính. Coi hình pháp là thân thể mình, nên khoan hồng khi trừng trị; coi lễ nghi là cặp cánh của mình, nên làm việc theo thế tục mà thành công; dùng trí tuệ để ứng phó, nên chỉ hành động khi bất đắc dĩ; coi đạo đức là thuận thiên tính nên dễ dàng đạt đƣợc mục đích ( ) không khó nhọc mà đƣợc mọi ngƣời coi là rất hoạt động. Hạng chân nhân đó không khác hạng quân tử hay thánh nhân của Khổng giáo là bao, không có gì là thần thông nhƣ hạng thần nhân, thánh nhân vào nƣớc không chìm, vào lửa không cháy, biết bay và bất tử; mà cũng thấp hơn hạng chí đức (đức rất cao) trong chƣơng V: Đức sung phù nữa. Hạng chí đức, tâm nhƣ tấm gƣơng sáng, bụi không đóng vào đƣợc (V.2), nhƣ làn nƣớc phẳng lặng, có thể làm tiêu chuẩn đƣợc (V.5), trút bỏ đƣợc hết thế tình, không dùng đến trí tuệ, lễ tin, ân huệ, cũng không chế tạo, sản xuất một cái gì (V.5), tuy có hình thể con ngƣời mà không có tình cảm con ngƣời, tuy nhỏ xíu vì vẫn thuộc về loài ngƣời nhƣng lại vĩ đại nhƣ trời vì đồng thể với trời (V.5). Xét những đoạn tôi vừa dẫn ở trên thì ta có thể sắp: cao nhất là thần nhân hay chí nhân, rồi tới chí đức, sau cùng tới chân nhân. Nhƣng tôi ngờ rằng Trang tử không phân biệt nhƣ vậy, ông dùng nhiều

92 danh từ quá nên khó mà chính xác. Chú thích: 77[1]Coi Tiền Mục, trong Trang tử toàn tiên, trang 1. 78[2]Lời đó nhƣ sau: Minh vƣơng trị thiên hạ thì công tràn thiên hạ mà cơ hồ không phãi là công của mình; vạn vật đều đƣợc cảm hoá mà không thấy là nhờ đức của mình, công đức ấy có đấy mà không ai chỉ ra đƣợc, vạn vật đều thoả mãn. Hành động của thánh nhân thần diệu, không ai đoán được, họ đồng hoá với sự hư vô. Câu cuối tôi cho in ngã có màu sắc của Liệt tử. 79[3]Còn vài ba cách hiểu khác nữa mà ở đây tôi không muốn chép lại, sợ rƣờm. 80[4]Tôi không hiểu tại sao bài đó quên Dƣơng tử và Liệt tử. 81[5]Bài 1.3 trong Liệt tử cũng có câu: Trời sinh ra che vạn vật thì không thể gây hình chở vạn vật; đất gây hình và chở vạn vật thì không thể giáo hoá vạn vật 82[6]So sánh với câu: vạn vật không vật nào dùng vào đủ mọi việc đƣợc cũng trong bài 1.3 kể trên. 83[7]Trong ebook này, các chữ đó có màu xám (Gray 50%). [Goldfish]. 84[8] Trong sách in sai là: Ngƣời gia ân cho vạn vật mà không phải là vì nhân. Tôi đã sửa lại cho đúng với câu tƣơng ứng trong bài VI.6 (nguyên văn là: Trạch cập vạn thế nhi bất vi nhân). [Goldfish] 85[9]Ý này Nội thiên, Trí Bắc du 5 diễn thêm: Chết chỉ là trút cái túi (cung) tự nhiên, bỏ cái bao

93 (kiếm) tự nhiên của trời mà phân vân tiêu tán, hồn phách rời đi, thể xác tan rã, cái đó gọi là đại qui (cuộc trở về quan trọng). 86[10]Thế kỉ thứ IX, một học giả Ả Rập, Othman Amral-Jahif, đƣa ra thuyết này: Đời sống từ khoáng vật tới thực vật, rồi tới sinh vật, sau cùng tới ngƣời. [Xem thêm chú thích trong bài Chí lạc 7 Goldfish] 87[11] Không rõ thời đó ngƣời Trung Hoa đã biết xứ Tây Tạng chƣa. Xứ đó toàn đá, lớp đất rất nông không đủ để chôn ngƣời, mà rừng lại ít, không đủ gỗ để thiêu, cho nên phải cắt thịt ngƣời chết, liệng cho diều hâu ăn. 88[12] Tôi đoán đoạn này thiếu mấy chữ (chữ nghiêng): Có con chim bằng lƣng rộng không biết mấy ngàn dặm, tung cánh bay thì cánh nó nhƣ đám mây mây trên trời ; có con chim cút lên cao độ vài nhẫn rồi xuống, bay liệng trongđám cỏ bồng cỏ cảo. [Goldfish] 89[13] Trong bản dịch Nội thiên, chẳng hạn chƣơng VII các bài 2, 3, chúng tôi dùng những chữ bản tính, tính tự nhiên là dịch theo ý, chứ Trang không dùng chữ tính. 90[14] Phác tố: phác thực, chân tình (BT). 91[15] Tức Cởi bỏ thân thể, trừ tuyệt thông minh, rời bỏ trí tuệ, hợp nhất với Đại đạo (trang 227). Nguyên văn: 離形, 去知, 同於大通. Ở đây sách in nhầm thành: li hình, khứ trí, đồng ƣ, Đại không. [Goldfish]. 92[16] Tranh biện: trong phần dịch in là tranh luận. [Goldfish]. 93[17] Bài này Trang bảo: Khen vua Nghiêu, chê vua Kiệt thì sao bằng coi Nghiêu và Kiệt cũng nhƣ nhau. Ông chỉ muốn khuyên ta quên thiện ác, chứ không bảo Nghiêu cũng ác nhƣ Kiệt. 94[18] Coi Đại cương triết học Trung Quốc II (Cảo Thơm 1966) (cùng tác giả) 95[19] Thu thủy 2 diễn thêm ý này: Con quì (có một chân) ƣớc ao đƣợc nhƣ con rằn (không có chân) mà đi đƣợc; con rắn bảo đó là bản tính tự nhiên, không thể thay đổi đƣợc, nhƣng lại ƣớc ao đƣợc nhƣ gió không có hình thể mà thổi rất mau đƣợc; gió cho rằng mình còn bị ngƣời khống chế, tuy nhiên vẫn vui vẻ vì hơn cả ngƣời lẫn vạn vật ở chỗ làm đổ gãy đƣợc cây lớn, thổi bay đƣợc nóc nhà.

94 96[20] Coi Những vấn đề của thời đại của (Mặt đất 1974) 97[21] Coi La terre en danger của L.K. Cadwell (bản Pháp dịch Tendances actuelles Editions internationales Paris 1973 trang [22]Trong phần dịch, câu này chép nhƣ sau: Làm sao có vật này hơn vật khác đƣợc? [Goldfish] Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương IV (b) Dƣỡng sinh Ngoài cách tu dƣỡng để đạt Đạo mà hợp nhất với Đạo, Trang còn chỉ ta cách dƣỡng sinh để vui hƣởng hết tuổi trời; đây là một phần độc đáo trong học thuyết của ông, ai cũng có thể áp dụng đƣợc. Chƣơng Dƣỡng sinh chủ tuy ngắn mà giá trị cũng gần hai chƣơng Tiêu dao du và Tề vật luận. Chƣơng đó đƣợc chƣơng Đạt sinh (XIX) ở phần Ngoại thiên bổ túc, nhƣng vì tôi đã cho Ngoại thiên không phải do Trang viết, nên dƣới đây chỉ xin dẫn những lời trong Dƣỡng sinh chủ thôi. Chƣơng mở đầu bằng bốn chữ Đời ngƣời có hạn, làm ta nhớ đến mấy chữ: Thọ nhiều lắm là trăm tuổi của Dƣơng tử trong bài Liệt tử VII.2. Trang tử cũng quí sinh nhƣ Dƣơng tử; vì quí sinh nên phải dƣỡng sinh. - Qui tắc đầu tiên của dƣỡng sinh là thuận thiên. Một phần lớn triết học của Trang dựng trên hai chữ thuận thiên đó. Ở trên tôi đã dẫn bài III.2 kể cách mổ bò của ngƣời bếp vua Văn Huệ. Ngƣời đó hiểu cơ cấu thiên nhiên của con bò, tránh những gân, xƣơng, chỉ lách lƣỡi dao vào những kẽ, nhờ vậy mà không tốn sức, không mòn dao. Cách đó là cách tiếp vật mà cũng là cách dƣỡng sinh, vì cơ thể của ta cũng là vật. Ta phải hiểu cơ cấu của nó, hiểu các bộ phận cần những gì, hoạt động ra sao để điều khiển nó cho hợp với tự nhiên, chứ không mù quáng chống đối nó. Chẳng hạn bị nóng, hoặc khi đi tả nhiều lần, khát nƣớc thì cứ uống; khi không thèm ăn thì cứ nhịn ăn, khi làm việc mệt mỏi thì phải

95 tịnh dƣỡng, đừng cố sức làm tới kiệt quệ. Khi đau ốm thì tốt nhất là nghỉ ngơi, ăn ít, để cơ thể tự chống với bệnh, thuốc chỉ giúp cơ thể thôi, không nên dùng nhiều. Bài học đó của Trang thời nào cũng nên nhắc lại, nhất là thời nay ngƣời ta bắt thể xác và tinh thần làm việc nhiều quá, dùng thuốc cũng nhiều quá. Thuận thiên cũng có nghĩa là sống gần thiên nhiên, ăn những thức ăn thiên nhiên, đừng làm trái thiên nhiên: chúng ta ngày nay sống chen chúc trong các thành phố thiếu không khí và nƣớc trong sạch, ăn những thực phẩm bón bằng phân hoá học, phun bằng những thuốc sát trùng, cũng trái với thiên nhiên nữa. Âu, Mĩ, hiện đã thấy cái hại của văn minh cơ giới làm cho không khí, nƣớc, đất đều nhiễm độc và một mặt lập những cơ quan nghiên cứu cách giảm những cái độc đó đi, một mặt khuyến khích mọi ngƣời sống gần thiên nhiên, ăn những thực phẩm thiên nhiên. Thuận thiên còn có nghĩa thứ ba nữa là an thời xử thuận để cho rầu, lo, nghĩ, giận ghét không xâm nhập tâm hồn, làm thƣơng tổn tính tình, nhƣ vậy mới thảnh thơi tiêu dao đƣợc. Lo nghĩ làm gì khi ta không biết đƣợc hoạ ở đâu, phúc ở đâu, có khi phúc đó mà là hoạ, hoạ đó mà là phúc, nhƣ nàng Lệ Cơ trong bài II.11, hoặc truyện Tái Ông thất mã trong Hoài Nam tử. Vả lại: tử sinh, đắc thất, cùng đạt, giàu nghèo, hiền ngu, chê khen, đói khát, nóng lạnh, đó là những biến hoá của sự vật, sự chuyển vận của luật trời nhƣ ngày rồi đến đêm, không ai biết gốc ở đâu. Ai đạt đƣợc lẽ ấy, thì tâm thần không bị hỗn loạn, ngày đêm giữ đƣợc cái khí thuần hoà, ung dung, vui vẻ nhƣ khí xuân mà thích ứng với mọi sự biến hoá. (V.5). Những việc xảy ra mà ta không biết nguyên do ở đâu thì bảo đó là số mạng. Trang tử rất tin ở số mạng: nghèo là do số mạng (bài VI.8, Tử Tang than: Tôi tới nỗi cực khổ nhƣ vầy là do số mạng chăng?), mà làm điều bậy, bị xử tội chặt mất một chân, nhƣ viên hữu sƣ trong bài III.3, cũng là do số mạng nữa: số mạng đã xui khiến cho viên hữu sƣ đó làm bậy; vậy con ngƣời không có chút gì là ý chí tự do cả, không chịu một trách nhiệm, (cũng nhƣ chẳng có một chút công gì) với xã hội cả. Thuyết đó cũng hơi quá, nhƣng vẫn hợp với cách lập luận của Trang: ông cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, cho vạn vật biến hoá hoài, để cuối cùng lại qui căn, hợp nhất với Đạo. Vậy con ngƣời hoàn toàn bị Đạo chi phối, đâu có ý chí tự do đƣợc nữa; ông có tu dƣỡng thành chân nhân hay thánh nhân, mà chúng ta có nghe lời khuyên dƣỡng sinh của ông để hƣởng hết tuổi trời, cũng là do sự biến hoá của Đạo cả. Về điểm đó học thuyết của Trang quả là tiêu cực. Ở đoạn trên tôi đã trình bày quan niệm tề sinh của Trang; chết cũng nhƣ sống chỉ là những sự biến

96 hoá, nhƣ ngọn lửa từ thanh củi này truyền qua thanh củi khác, hoặc nhƣ ở căn nhà này đổi sang căn nhà khác, không phân biệt đƣợc đâu là sinh, đâu là tử, vì đối với giai đoạn trƣớc là tử, mà đối với giai đoạn sau là sinh. Ở đây tôi chỉ sinh dẫn thêm bài III.5: Lão Đam chết, Tần Dật là bạn, lại điếu, chỉ khóc ba tiếng rồi ra, môn sinh của Lão chê nhƣ vậy là vô tình, Tần Dật bảo Lão sinh ra là ứng với thời, chết đi là thuận với lẽ trời. Hiểu lẽ đó thì không bị vui buồn làm cho động trong lòng nữa, là đƣợc trời giải phóng cho. - Qui tắc thứ nhì để là bỏ hết dục vọng, ngay cả lòng ham học hỏi hoặc làm điều thiện cũng vậy. Bài III.1, Trang tử viết: Đời ngƣời có hạn mà tri thức thì vô cùng. Đem cái có hạn mà chạy theo cái vô cùng thì tinh thần phải mệt mỏi; đã mệt mỏi mà vẫn không ngừng thì sẽ chết mất. Làm điều thiện thì bị luỵ vì danh tiếng, làm điều ác thì chịu khổ vì hình phạt. Chỉ ngƣời nào giữ cái đạo trung là bảo toàn đƣợc thân, mệnh, mà phụng dƣỡng đƣợc cha mẹ, sống đƣợc trọn tuổi trời. Cái danh ông không còn muốn bị luỵ vì nó, huống hồ là cái lợi. Ông khen Hứa Do đã không chịu nhận ngôi do vua Nghiêu truyền cho, và ông cũng đã theo Hứa Do, không nhận chức tƣớng quốc do vua Sở giao phó. Không ham danh lợi để sống đƣợc an nhàn. Trong chƣơng Đại tôn sƣ có hai chỗ chép câu này mà chẳng riêng môn đồ Lão, Trang, ngay môn đồ Khổng Mạnh thời sau cũng thuộc lòng: Đại khốn 99 [1] tải ngã dĩ hình, lao ngã dĩ sinh, dật ngã dĩ lao, tức ngã dĩ tử, cố thiện ngô sinh giả, nãi sở dĩ thiện ngô tử dã (bài V.1 và V.3): Vũ trụ cho ta cái hình hài, cho ta sống để ta lao khổ, cho ta già để ta an nhàn, cho ta chết để ta nghỉ ngơi; vậy coi sống là cái phúc thì cũng phải coi chết là cái phúc. Nếu chỉ chú ý tới bốn chữ lao ngã dĩ sinh thì có thể hiểu lầm rằng ông cho sống là cực khổ, mà muốn mau chết. Không, ông chủ trƣơng tề sinh tử, chung kì thiên niên thì đâu lại muốn chết. Câu đó cũng diễn cái ý: sống chết ngang nhau; và gián tiếp cho ta thấy ông không muốn lao khổ mà muốn đƣợc an nhàn. An nhàn quí thật, nhƣng tự do còn quí hơn: con trĩ ở trong chằm tuy phải khó nhọc kiếm thức ăn (cứ mƣời bƣớc lại mổ, trăm bƣớc lại uống) mà không chịu bị nhốt để ngƣời ta nuôi vì nhƣ vậy tuy đƣợc an nhàn nhƣng mất tự do.

97 Trong số các vấn đề Trang tử nêu ra, vấn đề dƣỡng sinh đƣợc ngƣời sau khai triển kĩ hơn cả. Chƣơng Đạt sinh ở Ngoại thiên bổ túc chƣơng Dƣỡng sinh chủ trong Nội thiên và giá trị hai chƣơng ngang nhau. Dƣới đây tôi tóm tắt những ý trong chƣơng Đạt sinh. Bài 1 tác giả khuyên ta đừng quan tâm tới những cái không tuỳ thuộc ta, nhƣ vận mạng (có kẻ săn sóc thân thể rất kĩ mà vẫn chết yểu) và thế tục, để khỏi lao tổn thể xác và tinh thần. Bài 4 bảo phải khinh ngoại vật để tâm hồn khỏi mê loạn: Đánh bạc mà ăn thua bằng viên ngói thì ai đánh cũng cao hết; nếu ăn thua bằng cái móc dây lƣng thì con bạc đã ngại ngại rồi; nếu ăn thua bằng vàng thì con bạc sẽ mê loạn. Tài cao thấp của con bạc trƣớc sau vẫn vậy, chỉ vì trọng ngoại vật, sinh ra xúc động mà hoá vụng. Vậy ta phải thản nhiên, coi đắc thất nhƣ nhau. Bài 6 nhắc ta đừng ham phú quí, danh lợi. (Hai bài Sơn mộc 4 và 5, cũng xét cái hại của sự ham danh lợi; nổi danh nhất là bài Sơn Mộc 8, tác giả dùng một ngụ ngôn (con ve đƣơng hƣởng bóng mát mà không ngờ con bọ ngựa núp sau lá rình nó; con bọ ngựa rình con ve mà không ngờ con chim khách muốn mổ nó) để diễn ý vật nào cũng vì cái lợi, cái hình hài mà quên cái chân thân). Bài 2 đƣa ra thí dụ ngƣời say rƣợu mà té xe thì không bị thƣơng nặng tới chết, là vì giữ đƣợc cái khí thuần hoà, không lo sợ. Kẻ nhờ rƣợu giữ cái thần mà còn nhƣ vậy, huống hồ là ngƣời tự nhiên vô tâm. Nếu lại hoá hợp với tự nhiên thì không vật gì làm hại nổi, (ý này đúng là ý Trang) nhƣ ngƣời lội nƣớc trong bài 9. Bài 8 cũng khuyên ta đừng lo sợ, lo sợ thì sinh bệnh, nhƣ Tề Hoàn Công thấy một hồn quỉ mà đau, và khi Cáo Ngao vô thăm bảo hễ thấy con quỉ đó thì sẽ thành bá vƣơng, Hoàn Công mừng rỡ, hết bệnh liền. Bài 8, phải tập cho bình tĩnh, không xúc động nhƣ con gà đá. Bài 5 tóm tắt đƣợc phép dƣỡng sinh: phải vừa tu dƣỡng nột tâm, vừa săn sóc ngoại hình, đừng quá trọng cái này mà khinh cái kia, nghĩa là phải giữ mức trung.

98 Muốn vậy thì nên điều độ trong việc ăn uống, chăn gối, và đừng làm quá sức (bài 11). Xử thế Phép xử thế của Trang rất đặc sắc và ảnh hƣởng rất lớn đến thời sau, nhất là trong những thời loạn cho nên có ngƣời đã nhận thấy rằng trong các thời loạn nhƣ thời Lục Triều, thời Nam Tống mới có nhiều ngƣời nghiên cứu Trang. Mà các môn đệ của Trang thời Chiến Quốc một thời cực loạn cũng thích tƣ tƣởng xử thế của Trang, nên phát huy thêm trong các chƣơng Đạt sinh, Sơn mộc ở Ngoại thiên. Học thuyết của Trang rất có hệ thống và những qui tắc xử thế chỉ là qui kết vũ trụ luận của ông. Chúng ta còn nhớ bài II.3 ông bảo: Vật nào cũng là vật khác mà cũng là chính nó. Phân biệt vật và mình thì không thấy đƣợc lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy đƣợc. Không phân biệt ngƣời và ta, tức là hƣ kỉ hay vô kỉ, đó là qui tắc đầu trong phép xử thế. Coi ngƣời nào cũng bình đẳng, và để cho mọi ngƣời đƣợc tự do, nhƣ vậy không xích mích với ai cả, không làm thiệt hại cho ai cả, và mọi ngƣời sẽ vui vẻ với mình, nhƣ ngƣời nƣớc Vệ tên là Đà trong bài V.4. Ai cũng gọi hắn là thằng quỉ Đà vì hắn xấu nhƣ quỉ. Vậy mà: Ngƣời đàn ông nào ở chung với hắn, hễ xa hắn là nhớ. Thiếu nữ nào đã trông thấy hắn rồi thì về thƣa với cha mẹ thà làm vợ bé hắn còn hơn là vợ cả một ngƣời nào khác. Vua Ai Công nƣớc Lỗ nghe ngƣời ta đồn nhƣ vậy, triệu hắn tới xem, quả thực hắn xấu phát sợ. Hắn ở với vua, chƣa đầy một tháng vua đã để ý đến hắn, chƣa đầy một năm thì tin hắn, sau giao cho hắn chức tƣớng quốc. Bí quyết của hắn là không xƣớng xuất điều gì, chỉ phụ hoạ thôi, nghĩa là chỉ khen ngƣời chứ không chê ai, nên hắn đƣợc lòng ngƣời. Hắn đã bỏ đƣợc tật chủ quan, không nghĩ tới mình nữa, không phân biệt ngƣời và mình, không phân biệt thị phi, cho nên không tranh luận với ai cả, không chống đối với ai cả, giữ đƣợc cái chốt của ai Đạo (Đạo xu) và có thái độ lƣỡng hành (coi Tác động của Đạo ở trên). Bài Sơn mộc 2 diễn thêm cái ý hƣ kỉ và đƣa ra một thí dụ hay: Một chiếc đò đƣơng qua sông bị một chiếc thuyền không ngƣời lái đụng phải, ngƣời lái đò bụng dạ hẹp hòi tới mấy cũng không giận. Trái

99 lại nếu thuyền có ngƣời lái thì chủ đò đã chửi rủa ầm ĩ rồi. Ngƣời hƣ tâm mà xử sự thế, cũng nhƣ chiếc thuyền không ngƣời đó, không bị ai ghét, nên sống ở đời mà không bị hại. Bài Sơn mộc 9 còn chỉ một cách nữa khỏi bị thiên hạ ghét, là có đức tốt hay làm điều thiện thì đừng khoe khoang. Không khoe khoang tức là nhũn, mà hình thức cao của sự nhũn nhặn là hồn nhiên, vô tâm, không nhận thấy mình khác ngƣời, hơn ngƣời. - Qui tắc thứ nhì để xử thế cũng là thuận thiên, tức thiên tính của mỗi ngƣời, hoà hợp với ngƣời. Tôi không dẫn những thí dụ trong IV.1 và 2 (về cách can gián vua, và cách đi sứ) vì tôi ngờ những bài đó không phải của Trang; chỉ xin dẫn bài IV.3 về cách dạy ngƣời. Nhan Hạp đƣợc vời làm sƣ phó cho thái tử cho thái tử của Vệ Linh Công, một thanh niên tàn bạo, ngại nếu ngăn cản nó thì nguy cho tánh mạng mình, mà không ngăn cản nó thì không làm tròn nhiệm vụ sƣ phó, nên lại vấn kế Cừ Bá Ngọc. Cừ Bá Ngọc khuyên phải nhã nhặn, thân mật: Học trò ông còn là một đứa con nít thì ông cũng làm ra vẻ con nít với nó; nó hành động không có phép tắc, ông cũng làm bộ không giữ phép tắc với nó; nó phóng đãng, ông cũng làm bộ phóng đãng với nó; nhƣ vậy ông lần lần sửa đổi đƣợc nó. Nghĩa là phải theo thiên tính của nó mà uốn nắn mỗi ngày một chút, chứ nếu cƣơng quyết, nóng nảy, xúc phạm nó thì sẽ nhƣ con bọ ngựa đƣa càng lên mà mong cản đƣợc xe. Rồi Cừ Bá Ngọc kể cách nuôi cọp cho Nhan Hạp nghe: Ngƣời ta không dám cho cọp ăn một con vật còn sống hoặc ăn trọn một con vật chết, sợ nhƣ vậy sẽ kích thích bản tính hung dữ hiếu sát của nó. Phải cho nó ăn đúng giờ, tuỳ theo nó vui vẻ hay hung dữ mà thuần phục nó. Hổ không cùng một loài với ngƣời, nhƣng biết thuận theo tính tình nó thì nó cũng tỏ vẻ làm vui lòng ngƣời nuôi nó. Nó vồ ngƣời nuôi nó chỉ vì ngƣời này làm trái tính nó. Ngoại thiên có ba bài diễn thêm ý thuận nhân : Bài Đạt sinh 13 khuyên ta đừng xem điều cao xa giảng cho hạng ngƣời tầm thƣờng, nhƣ vậy không khác gì dùng xe ngựa để chở một con chuột nhỏ; hoặc nổi trống mà tấu nhạc cho một con chim nghe, làm cho nó thêm hoảng. Bài Chí lạc 5 kể truyện vua Lỗ bắt đƣợc một con chim biển, đặt tiệc mừng nó, làm lễ thái lao đãi nó, tấu nhạc cho nó nghe. Con chim dớn dát, âu sầu, không ăn uống gì cả, ba ngày sau chết. Đó là lấy

100 cách phụng dƣỡng ngƣời mà nuôi chim. Muốn nuôi chim thì phải theo nhu cầu củng sở thích của chim, nghĩa là phải thuận theo chim. Bài Sơn mộc 3 chỉ cách làm sao cho dân vui vẻ làm theo ý nhà cầm quyền. Bắc Cung Xa đƣợc Vệ Linh Công giao cho việc thu thuế để đúc chuông, bèn sai dựng một đàn tế ở ngoài cửa thành rồi để cho mặc cho dân tụ họp lại, ai ƣơng ngạnh không đóng thuế cũng đƣợc, ai mềm mỏng đóng thuế cũng đƣợc, tuỳ theo sức mỗi ngƣời, nên dân không thấy khó chịu chút nào, và kết quả thật bất ngờ; ba tháng sau trên đàn đã thấy treo cả chuông trên chuông dƣới. Trong Nội thiên có tới bốn năm ngụ ngôn diễn ý đó, đủ biết Trang tử cho qui tắc này quan trọng ra sao. Bài I.5 mà tôi đã dẫn ở trên, bảo cây xƣ to lớn mà không bị đốn vì gỗ nó vô dụng; mà con li tinh (một loại cầy) có tài rình mồi nên chết vì bẫy, vì lƣới. Rồi liên tiếp bốn bài: 4, 5, 6, 7 trong Nhân gian thế, ông trở lại vấn đề đó nữa. Bài 4 ông dùng cây lịch cao nhƣ núi, tàn lá che đƣợc cả ngàn con bò, vòng thân nó có cả ngàn trƣợng, có tới chục cành khoét làm thuyền đƣợc mà cũng không ai thèm đốn vì không dùng vào việc gì cả. Chính nhờ vô dụng nên nó mới đƣợc thọ nhƣ vậy. Còn cây tra, cây lê, cây quất, cây bƣởi khi có trái chín là bị tàn phá, cành lớn bị bẻ gãy, cành nhỏ bị vặt trụi. Bài 5, bài 6 cũng lấy loài cây làm thí dụ. Bài 7 kể truyện một ngƣời hình thù kì quái: cằm thòng xuống tới dƣới bụng, vai nhô lên khỏi đỉnh đầu, xƣơng sống đƣa lên trời; ngũ tạng nằm lộn ngƣợc lên phía trên, hai đùi đƣa lên tới ngang sƣờn; khi có lệnh trƣng binh, hắn khoanh tay mà đi thong dong trong đám đông, khi có lệnh bắt xâu, hắn đƣợc miễn vì tàn tật. Điều đó, các bạn sắp tới tuổi quân dịch 100 [2] thời này đã hiểu quá rõ rồi. Bài 9, ông kết luận: Ai cũng biết chỗ dùng đƣợc của vật hữu dụng, mà không biết chỗ dùng đƣợc của cái vô dụng. Chỗ dùng đƣợc đó là giúp cho ta đƣợc sống yên ổn nhƣ con ngƣời kì quái trong bài 7.

101 Tuy nhiên, ở cuối bài 4, Trang cũng hé cho ta thấy rằng vô dụng chƣa nhất định là đƣợc yên ổn, và cây lịch trong bài đó phải tạm gởi thân vào chổ thần (vì mọc trên nền xã, nơi tế thổ thần) để khỏi bị chê là vô dụng, nếu không thì cũng bị đốn rồi. Rốt cuộc, hữu dụng đã không yên mà vô dụng cũng chƣa chắc đƣợc yên, vậy phải ra sao? Trong Nội thiên, không thấy ông đáp câu đó. Trong Ngoại thiên, bài 1 chƣơng Sơn mộc, chúng ta thấy cách giải: Bài đó kể chuyện Trang tử đi trong núi thấy một cây lớn gỗ không dùng vào đƣợc việc gì nên ngƣời thợ rừng không muốn đốn, nhờ vậy cây đó đƣợc hƣởng hết tuổi trời. Ra khỏi núi, Trang tử ghé thăm một ngƣời bạn cũ. Ông ta mừng rỡ, sai giết ngỗng đãi và bảo ngƣời nhà giết con ngỗng không biết kêu, còn con biết kêu thì để nuôi. Môn đệ Trang tử hỏi thầy: cây trong núi nhờ vô dụng mà đƣợc sống, con ngỗng vì vô dụng mà bị giết. Thế thì nên ở vào cảnh nào. Trang tử đáp: Thầy ở giữa hữu dụng và vô dụng, nhƣng ở vào trung gian nhƣ vậy chỉ mới gần Đạo chứ chƣa phải là Đạo, cho nên chƣa tránh khỏi luỵ Muốn khỏi luỵ thì chỉ nên tiêu dao ở cảnh giới Đạo Đức thôi. Tiêu dao ở cảnh giới Đạo Đức là hoá hợp với Đạo, cùng biến hoá với thời, không cố chấp theo một thái độ nào, sai khiến vật mà không bị vật sai khiến (vật vật nhi bất vật ƣ vật). Sau cùng, chúng ta cũng nên biết dùng vật của Trang rất sáng suốt. Cây xƣ trong bài I.5, tuy gỗ không dùng đƣợc việc gì, nhƣng nếu biết trồng nó ở trong một cánh đồng mênh mông thì nó cũng rất có ích cho những ngƣời nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh nó hoặc thảnh thơi ngủ dƣới bóng mát của nó. Có lần Huệ tử phàn nàn với Trang rằng có một trái bầu rất lớn, chứa đƣợc tới năm chục đấu, để nguyên mà chứa nƣớc thì nó không đủ cứng để chịu đƣợc, khiêng đi sẽ bể; xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa đƣợc bao nhiêu. Trang tử bảo sao không nghĩ cách dùng nó làm trái nổi để qua sông, hồ? Vậy thì, thực ra không có vật nào là hoàn toàn vô dụng cả. Đó cũng là một chứng cứ nữa rằng không vật nào quí, không vật nào tiện.

102 Chú thích: 101[1]Đại khối, 大塊, tác giả dịch là vũ trụ ; ở đây sách in sai thành Đại khốn. [Goldfish]. 102[2]Bây giờ gọi là đi nghĩa vụ quân sự, bị gọi đi lính (BT). Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: KẾT - Trang tử chịu ảnh hƣởng của Dƣơng tử, Lão tử, Liệt tử nhƣng có điểm khác với ba nhà đó. Nhân sinh quan của Trang giống của Dƣơng, nhƣng Dƣơng vị ngã, Trang vô ngã, coi mình và vạn vật là một. Về vũ trụ luận, tri thức luận và chính trị luận, Trang mƣợn tƣ tƣởng của Lão, nhƣng khi tiếp xúc với ngƣời khác, Lão trọng đức khiêm nhu, Trang chủ trƣơng thuận thiên tính. Trang theo Liệt ở hai điểm tề vật và hoà đồng với vạn vật, nhƣng Liệt quí hƣ mà Trang quí tự do. Cả bốn nhà đều là ẩn sĩ, nhƣng Dƣơng là một nhà hƣởng thụ, Lão là một nhà tƣ tƣởng lớn, Liệt có vẻ một nhà tu hành 103 [1], Trang là một nghệ sĩ. Ba chƣơng Tiêu dao du, Tề vật luận, Dưỡng sinh chủ là phần cống hiến quan trọng của Trang cả trong triết học sử lẫn văn học sử Trung Quốc. - Học thuyết của Trang có tiêu cực không? Có mà không. Khi ông chủ trƣơng bỏ nhân nghĩa, lễ nghi, trí tuệ, nhất là ông tin số mạng tới mức phủ nhận ý chí tự do của con ngƣời thì ông quả là tiêu cực. Nhƣng khi ông khuyên ta tu luyện để khỏi bị luỵ vì ngoại vật, khuyên ta tự chủ trong cách dƣỡng

103 sinh, xử thế, thì ông lại tích cực. - Có phản tiến hoá không? Chúng ta cho tiến hoá là từ xã hội du mục chuyển qua xã hội nông nghiệp, rồi xã hội kĩ nghệ, hậu kĩ nghệ, và chúng ta có lí: lái một chiếc xe hơi vƣợt một trăm cây số một giờ nhất định là tiến bộ hơn nằm trong cái cáng bắt hai ngƣời đồng loại của ta khiêng, mồ hôi nhễ nhại dƣới ánh nắng để tiến đƣợc bốn cây số một giờ. Nhƣng chúng ta cũng không thể bảo là Trang tử vô lí khi ông cho tiến bộ là sống đời bình dị, tự do, hợp với thiên nhiên, coi mọi ngƣời bình đẳng với mình, hơn nữa hoà đồng với họ, không đả kích, không đâm chém nhau, không ức hiếp lẫn nhau, bóc lột nhau. - Trang muốn cứu cái tệ của một xã hội loạn lạc, tàn bạo, bất quân nên có thái độ cực đoan. Thuyết thiên nhiên hoàn hảo rồi, con ngƣời cứ thuận thiên nhiên, đừng nên sửa đổi thiên nhiên, tất nhiên là không luôn luôn đúng; mà tƣ tƣởng chính trị của ông (bỏ pháp luật, lễ nghi, bỏ trí xảo, công nghệ, thƣơng mại) cũng không thực hiện đƣợc chúng ta không thể ngƣợc dòng lịch sử mà trở về xã hội nguyên thuỷ. Trang cũng nhƣ Lão, không muốn làm chính trị, một phần vì muốn đƣợc tự do, tiêu dao, một phần cũng vì ông nghĩ rằng tƣ tƣởng của ông không thể nào áp dụng đƣợc dù có gặp một ông vua hoàn toàn tin ông nữa, nhƣ Đằng Văn Công tin Mạnh tử. - Sự cống hiến của Trang về nhân sinh quan đáng kể hơn cả; nhƣng ngay cả phần này, tƣ tƣởng của ông chỉ kì đặc, có khi thâm thuý chứ thực ra không phong phú, so với Tuân tử chẳng hạn thì kém xa. Vì Trang chủ trƣơng vô vi và vô ngôn, nên có gì đâu mà nói nhiều. - Tuy nhiên địa vị của ông rất lớn trong lịch sử tƣ tƣởng Trung Quốc, ngang với Mạnh tử, hơn Tuân tử, hơn cả Mặc tử nữa. Nhờ ông một phần lớn mà tƣ tƣởng của Lão tử mới đƣợc phổ biến mạnh: chỉ giới trí thức mới quí những cách ngôn trong Đạo Đức kinh, còn giới bình dân thì ai cũng biết ít nhiều những ngụ ngôn của Trang tử. Do đó tên ông gắn liền với tên của Lão tử và cả hai có công làm cho dân tộc Trung Hoa bớt thực tế, yêu thiên nhiên hơn, khoan dung, khoáng đạt hơn, yêu tự do và bình đẳng. Không một triết gia nào kể cả Lão tử đề cao tự do và bình đẳng một cách sâu sắc và nghệ thuật của Trang trong hai bài bất hủ Tiêu dao du và Tề vật luận; vì vậy mà nhiều nhà thích Trang hơn Lão và thơ văn cùng hội hoạ của Trung Hoa từ đời Lục triều trở đi, nhất là dƣới đời Tống đều mang dấu vết của Trang ngang với Lão. Không có Lão, Trang, chỉ có Khổng, Mạnh thì dân tộc Trung Hoa không khác dân tộc La Mã thời thƣợng cổ bao nhiêu. Thực vậy, chúng ta không thấy làm lạ rằng, sau một thế kĩ phát triển hỗn độn về kĩ nghệ, ngày nay

104 các dân tộc thừa hƣởng văn minh Hi La, muốn tìm hiểu Lão, Trang: chẳng những bọn híp-pi thích đọc Đạo Đức kinh mà ngay một số nhà khoa học của họ nhƣ Victor C. Ferkiss trong cuốn Technological Man (Victor C. Ferkiss 1969), Lynton K. Caldwell trong cuốn In defense of Earth (India University Press 1972) cũng đề nghị trở về đời sống thiên nhiên nhƣ Lão Trang nữa. Chú thích: 104[1]Tôi đoán nhƣ vậy vì căn cứ vào đời Liệt tử, và vào đoạn cuối bài VII.5: Liệt tử ba năm không ra khỏi cửa... không quan tâm tới việc đời, tự rèn luyện để khôi phục tính chân phác... giữ đƣợc sự hƣ tĩnh cho tới hết đời. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: PHẦN II NỘI THIÊN CHÚNG TÔI DỊCH RA SAO Trƣớc khi vào phần dịch, tôi xin có ít điều thƣa trƣớc: - Ngoại thiên và Tạp thiên có nhiều bài tƣ tƣởng nông cạn, bút pháp tầm thƣờng, nhƣng tôi cũng dịch hết, vì nghĩ rằng Trang tử là một tác phẩm quan trọng, nên có bản dịch trọn bộ để độc giả thấy rõ nó ra sao rồi mới nhận định đúng về nó đƣợc; nếu chỉ căn cứ vào một số bài hay thì không sao tránh đƣợc lầm lẫn.

105 Tuy nhiên, có hai đoạn trong bài XXIII.3 và 4, mỗi đoạn độ mƣời hàng, đọc kĩ năm bản tôi có trong tay (coi chƣơng III) tôi vẫn không hiểu tác giả muốn nói gì, nên tôi dịch không nổi, phải bỏ. - Trƣớc khi dịch, tôi chia mỗi chƣơng thành nhiều bài (hoặc đoạn) cho dễ kiếm. Nhƣng tôi không đặt tên cho mỗi bài nhƣ tôi đã làm trong bộ Liệt tử và Dương tử, vì số bài quá nhiều, trên dƣới ba trăm, mà nhiều bài rất khó đặt tên cho gọn và diễn đƣợc hết ý. - Khi dịch, tôi không theo lời chú giải của riêng một bản nào. Nếu có nhiều cách chú giải khác nhau thì tôi sẽ lựa một và nếu cần, sẽ chép thêm nguyên văn phiên âm (chứ không có chữ Hán vì công việc ấn loát lúc này khó khăn và tốn kém) 105 [1] với một hoặc hai cách giảng mà tôi đã bỏ, không theo. - Tôi lựa theo những qui tắc dƣới đây: * Cách hiểu nào tôi cho là hữu lí hơn cả. Ví dụ câu đầu bài XXVII.1. nguyên văn là: Ngụ ngôn thập cửu, trọng ngôn thập thất, chi ngôn nhật xuất, hoà dĩ thiên nghê. Liou Kia hway dịch là ngụ ngôn chứa chín phần mƣời chân lí, còn chi ngôn thì xuất hiện mỗi ngày, theo luật tự nhiên. Tôi không hiểu tại sao ngụ ngôn lại đúng hơn trọng ngôn (mà Liou Kia hway dịch là paroles de poids). Mà nhƣ vậy thì chi ngôn (paroles de circonstance) chứa bao nhiêu phần chân lí, sao không thấy nói. Theo phép làm văn, nhƣ vậy không ổn; đã so sánh thì phải so sánh cả ba. Tôi đã theo cách hiểu của Vƣơng Phu Chi: Ngụ ngôn chiếm chín phần mƣời, trọng ngôn chiếm bảy phần mƣời trong chín phần mƣời đó một phần còn lại là chi ngôn, vì trong bộ Trang tử, tôi thấy ngụ ngôn (gồm cả trọng ngôn) chiếm đại đa số, có thể tới 8, 9 phần 10 thật. * có khi tôi lựa một cách giảng ra sao để cho đoạn văn khỏi mất liên lạc với đoạn sau, nhƣ tôi đã trình bày trong chƣơng III về đoạn Dã mã dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ, tức tƣơng xuy dã ở đầu chƣơng Tiêu dao du (I.1). Một thí dụ nữa: bài XI.1, tôi đã theo ý tôi mà dịch câu phi Đức dã nhi khả trƣờng cửu dã giả, thiên hạ vô chi là Không giữ cái Đức mà sống lâu đƣợc, là điều không hề thấy để chuyển xuống đoạn

106 dƣới. * có khi có hai cách dịch đều chấp nhận đƣợc, tôi lựa cách nào mà tôi cho là có ý nghĩa sâu sắc hơn, nhƣ câu cuối bài XI.5, nguyên văn là: Đổ hữu giả, tích chi quân tử, đổ vô giả, thiên địa chi hữu. Hoàng Cẩm Hoành dịch là Bậc quân tử thời xƣa nhận rằng vật tồn tại; còn bạn của trời đất thì nhận rằng không có vật nào tồn tại. Tôi tiếp theo ý ở câu trên câu đó Cái gì đã đại đồng thì vô kỉ không có cái ta riêng, đã vô kỉ thì làm gì còn tồn tại (riêng) nữa. Mà theo Liou Kia hway dịch là: Những ngƣời mà ta thấy còn tồn tại (riêng) đó chỉ là bậc quân tử thời xƣa, những ngƣời ta không thấy tồn tại (riêng) nữa (nghĩa là vô danh), đó mới là bạn của trời đất (tức hạng trở về bản căn, đạt Đạo, hoà đồng với vũ trụ rồi). * sau cùng có trƣờng hợp nghĩa rất tối, ba nhà hiểu ba cách, cách nào cũng đƣợc thì tôi lựa cách dễ nhất, chứ chẳng vì một lí do gì khác, nhƣ câu Phù sung nhất thƣợng khả, viết dũ quí, đạo cơ hĩ ở cuối chƣơng XXXIII (Thiên hạ). Trƣớc chúng tôi đã có hai bản Tuyển dịch 106 [2] Trang tử. Sau chúng tôi chắc sẽ còn nhiều ngƣời dịch nữa, mà bản dịch nào cũng sẽ có nhiều chỗ không giống các bản khác. Trang tử không nhƣ Mạnh tử, chỉ có thể hiểu đƣợc một cách, trừ vài ba chữ không quan trọng. Tôi mong độc giả hiểu cho lẽ đó mà coi bản của chúng tôi may mắn lắm là có giá trị ngang các bản khác thôi. Những chữ viết tắt trong phần dịch: V.P.C. --- Vƣơng Phu Chi (Thuyền Sơn) D.N.L. --- Diệp Ngọc Lân H.C.H. --- Hoàng Cẩm Hoành L.K.h Liou Kia hway

107 Chú thích: 107[1]Trong sách tôi chỉ thấy có ba chữ Hán trong câu sau: Về tên tự [của Trang tử], có sách bảo là Tử Hƣu, có sách chép là Tử Mộc (Hƣu 休 và Mộc 木 viết hơi giống nhau), trong Mạnh tử lại gọi là Tử Mạc (Mạc 莫 và Mộc đọc hơi giống nhau). (trang 15). [Goldfish]. 108[2] Một của Nhƣợng Tống, một của Nguyễn Duy Cần [Goldfish] Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương I THẢNH THƠI TỰ TẠI (Tiêu dao du) 1 Biển Bắc có con cá gọi là cá côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim bằng 109 [1], lƣng rộng không biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó nhƣ đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời. Tề Hài là sách 110 [2] ghi những chuyện quái dị. Sách đó bảo khi con chim bằng dời xuống biển Nam, nó đập nƣớc tung tóe lên ba ngàn dặm rồi nƣơng gió lốc cuốn lên cao chin vạn dặm. Nó xuống biển Nam vào tháng 6, lúc gió nổi lên. 111 [3] (Ở dƣới nó là) Hơi nƣớc bốc lên coi tựa nhƣ những con ngựa hoang và bụi cát, cùng hơi thở các sinh vật. (Mà ở trên nó) màu thanh thiên kia phải là bản sắc của trời không hay là vì trời xa thăm

108 thẳm mà ta nhìn thấy nhƣ vậy? Vì từ trên cao nhìn xuống thì cũng thấy một màu đó. 112 [4] Nƣớc không sâu thì không chở đƣợc thuyền lớn. Đổ một chén nƣớc xuống một chỗ lõm ở trƣớc sân thì thả một cọng cỏ xuống làm thuyền đƣợc; nếu thả cái chén đó xuống thì chén chạm đất, không nổi đƣợc, vì nƣớc nông mà thuyền lớn. Lớp không khí mà không dày thì không đỡ đƣợc những cánh chim lớn. Cho nên con chim bằng phải bay lên cao chin vạn dặm để có lớp không khí dày đỡ nó ở dƣới, rồi lƣng nó mới đội trời xanh, không hề bị cản trở, mà bay xuống biển Nam đƣợc. Con ve sầu và con chim cƣu 113 [5] cƣời con chim bằng rằng: Chúng tao bay vù lên cây du, cây phƣơng 114 [6], có lúc bay không tới mà rớt xuống đất. Hà tất phải bay cao chín vạn dặm để xuống phƣơng Nam? Ngƣời nào muốn tới một chỗ gần ở ngoài thành thì chỉ cần mang theo lƣơng thực cho đủ ba bữa, mà khi về bụng hãy còn no 115 [7]. Kẻ nào muốn đi một trăm dặm thì phải chuẩn bị lƣơng thực để nghỉ đêm 116 [8] ; muốn đi một ngàn dặm thì phải chuẩn bị lƣơng thực cho ba tháng. Hai con vật nhỏ kia (tức con ve sầu và con chim cƣu) biết đâu lẽ đó. Trí lực nhỏ không thể so sánh với trí lực lớn; cuộc đời ngắn không thể so sánh đƣợc với cuộc đời dài. Làm sao biết đƣợc điều ấy? Nhƣ cây nấm chỉ sống một buổi sáng thì không biết đƣợc trọn một ngày 117 [9], con huệ cô (một loại ve sầu, sinh mùa xuân thì mùa hè chết, sinh mùa hè thì mùa thu chết), không biết đƣợc trọn một năm; đó là những loài cuộc đời ngắn ngủi. Ở miền Nam nƣớc Sở, có một con rùa thiêng 118 [10], mùa xuân của nó dài năm trăm năm; mùa thu dài năm trăm năm; đời thƣợng cổ có một cây xuân lớn, mà mùa xuân dài tới tám ngàn năm, mùa thu dài cũng tám ngàn năm, đó là những loài cuộc đời lâu dài. Ông Bành Tổ (chỉ sống bảy trăm năm) mà ngày nay hễ nói tới thọ, ai cũng cho ông bậc nhất, chẳng đáng buồn ƣ? 119 [11] Trong cuộc đàm thoại giữa ông Thang và ông Cách 120 [12] cũng có một đoạn nhƣ vầy: Ở phƣơng

109 Bắc hoang dã có một cái biển gọi là Ao trời, trong biển có một con cá chiều ngang rộng mấy ngàn dặm, không biết chiều dài là bao nhiêu, gọi là cá côn; có một con chim gọi là chim bằng, lƣng lớn nhƣ núi Thái Sơn, cánh nhƣ đám mây rủ ở trên trời, nó nƣơng ngọn gió lốc, xoắn nhƣ sừng cừu, bay lên cao chín vạn dặm, vƣợt lên khỏi các đám mây, lƣng đội trời xanh mà bay về biển Nam. Một con chim cút ở trong cái đầm nhỏ cƣời nó: Con đó bay đi đâu vậy? Tôi lên cao độ vài nhẫn 121 [13] rồi xuống, bay liệng trong đám cỏ bồng cỏ cảo, cho bay nhƣ vậy là đủ rồi. Con đó bay đi đâu vậy kìa?. 122 [14] Lớn với nhỏ khác nhau nhƣ vậy đó. Có ngƣời tài trí đủ để làm một chức quan, có ngƣời hạnh làm gƣơng đƣợc cho một làng, có ngƣời đức đáng làm vua mà đƣợc cả nƣớc phục 123 [15], nhƣng dù thuộc hạng nào thì cũng đều tự đắc nhƣ con chim cút kia vậy. Ông Vinh tử nƣớc Tống 124 [16] cƣời họ. Dù cả nƣớc khen ông, ông cũng không mừng, cả nƣớc chê ông, ông cũng không buồn, vì ông biết phân biệt nội và ngoại 125 [17], vinh và nhục. Ngƣời nhƣ ông thật hiếm ở đời, nhƣng ông chỉ biết tự thủ (tự giữ mình) thôi, chứ chƣa tự thích nghi với vật mà thành bậc đại 126 [18]. Ông Liệt tử 127 [19] cƣỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mƣời lăm ngày rồi về. Có phúc lớn nhƣ ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhƣng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì (tức đợi cho gió nổi lên). Đến nhƣ hạng ngƣời làm chủ đƣợc cái chính đạo của trời đất, chế ngự đƣợc lục khí 128 [20] để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu? Cho nên ngƣời ta bảo Bậc chí nhân (có đức tuyệt cao) thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lƣu danh

110 129 [21]. 2 Vua Nghiêu muốn nhƣờng ngôi cho Hứa Do 130 [22], bảo: - Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, đuốc làm sao còn sáng đƣợc nữa mà không tắt đi? Mƣa đã đổ mà còn tƣới ruộng làm gì cho phí sức? Phu tử 131 [23] mà lên ngôi thì nƣớc sẽ trị; tôi còn giữ hƣ vị này (nhƣ ngƣời đại diện cho ngƣời chết trong tang lễ), tự lấy làm xấu hổ. T ôi xin giao thiên hạ cho phu tử. Hứa Do đáp: - Nhà vua trị nƣớc, mà nƣớc đƣợc bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ƣ? Danh là khách của cái thực 132 [24], tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu liêu (một loài chim nhỏ), làm tổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con yểnthử 133 [25] uống nƣớc sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu. Nếu ngƣời bếp mà không biết nấu nƣớng thì ngƣời đại diện cho ngƣời chết 134 [26] và ngƣời chủ tế cũng không bỏ chức vụ của mình mà thay ngƣời bếp đƣợc. 3 Kiên Ngô hỏi Liên Thúc: - Tôi thấy Tiếp Dƣ 135 [27] nói những lời khoa đại và không xác thực, đi mà không trở về 136 [28], tôi sợ rằng những lời đó không biết đâu là cùng nhƣ dải Ngân hà, quái đản, bất cận nhân tình. Liên Thúc hỏi:

111 - Ông ấy nói gì? - Trên núi Cô Dạ xa xôi, có thần nhân ở, da họ trong trắng nhƣ băng tuyết, họ đẹp đẽ, mềm mại nhƣ gái trinh. Họ không ăn ngũ cốc, chỉ hít gió uống sƣơng mà sống; họ cƣỡi mây và rồng bay mà đi chơi khắp ngoài cõi bốn bể. Họ định thần mà làm cho vạn vật không bị bệnh tật, mùa màng năm nào cũng trúng. Tôi cho là nói bậy, không tin. Liên Thúc bảo: - Đúng vậy! Kẻ đui không thấy đƣợc những màu sắc, đƣờng nét đẹp đẽ, kẻ điếc không nghe đƣợc tiếng chuông, tiếng trống. Nào phải chỉ hình hài mới đui điếc, trí tuệ cũng đui điếc nữa. Lời đó là nói về anh đấy. Những thần nhân đó có đức cao nên hòa đồng đƣợc với vạn vật. Ngƣời đời có cầu họ trị nƣớc, họ cũng không thèm chịu khó nhọc về việc cõi tục này. Không có vật gì có thể làm hại họ đƣợc; nƣớc có dâng lên tới trời, họ cũng không bị chết đuối; trời có đại hạn tới nỗi kim thạch chảy ra, cháy cả rừng núi, đồng ruộng, họ cũng không thấy nóng. Dùng những trần cấu, cặn bã của họ có thể tạo thành những ngƣời nhƣ Nghiêu, Thuấn. Họ đâu có chịu lo những việc trần tục của chúng ta. Một ngƣời nƣớc Tống đem mũ lễ qua nƣớc Việt bán. Nhƣng ngƣời nƣớc Việt cắt tóc, xâm mình, đâu có dùng những mũ ấy. Vua Nghiêu trị dân, bình định hải nội rồi, bèn lên núi Cô Dạ ra mắt bốn hiền nhân [là Hứa Do, Niết Khuyết, Vƣơng Nghê, Bị Y]. Khi trở về tới phía Bắc sông Phần 137 [29], ông không biết gì nữa, quên mất thiên hạ của ông 138 [30]. 4 Huệ tử 139 [31] bảo Trang tử:

112 - Vua Ngụy cho tôi một hột giống bầu lớn, tôi đem trồng đƣợc những trái chứa đƣợc năm thạch 140 [32]. Dùng cả một trái để chứa nƣớc thì nó không đủ cứng để chịu đƣợc, khiêng đi sẽ bể; nếu xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa đƣợc bao nhiêu. Thành thử tuy nó lớn mà vô dụng, cho nên tôi đã đập bỏ. Trang tử bảo: - Vậy là ông vụng sử dụng những vật lớn rồi. Một ngƣời nƣớc Tống chế đƣợc một thứ thuốc bôi ngón tay cho khỏi nứt nẻ. Gia đình ngƣời đó đời đời làm công việc đập lụa. Một ngƣời lạ hay tin, lại trả một trăm đồng tiền vàng để mua phƣơng thuốc. Ngƣời đó họp cả họ lại, bảo: Chúng ta đời đời đập lụa, chỉ kiếm đƣợc vài đồng tiền vàng. Bây giờ chỉ trong một buổi có thể thu đƣợc một trăm đồng. Nên bán cho họ đi. Ngƣời lạ kia đƣợc phƣơng thuốc rồi, lại thuyết vua Ngô. Lúc đó nƣớc Việt đang gây chiến với Ngô, vua Ngô bèn phong ngƣời đó làm tƣớng. Mùa đông, hai bên thủy chiến với nhau, Việt đại bại 141 [33] phải cắt đất 142 [34] cho Ngô, vua Ngô đem đất đó phong cho ông ta. Cùng dùng một thứ thuốc mà ngƣời thì đƣợc phong đất, kẻ vẫn phải đập lụa, chỉ vì cách dùng khác nhau. Nay ông có trái bầu chứa đƣợc năm thạch, sao không nghĩ cách dùng nó làm một trái nổi để qua sông, hở? Phàn nàn rằng xẻ ra thì nó nông quá, không chứa gì đƣợc, chính là vì lòng của ông không thông đạt 143 [35] đấy. 5 Huệ tử bảo Trang tử: - Có một cây lớn gọi là cây xƣ 144 [36]. Thân nó nổi u, chỗ lồi chỗ lõm, không dùng dây mực của thợ mộc mà vạch đƣờng đƣợc; cành nhỏ của nó cong queo không dùng cái qui 145 [37] và thƣớc vuông để xẻ đƣợc. Nó mọc ở ngay bên đƣờng mà không một ngƣời thợ mộc nào thèm ngó tới. Thuyết của ông cũng vậy, rộng lớn mà không dùng đƣợc, nên không ai theo.

113 Trang tử đáp: - Ông có thấy con li tinh 146 [38] không? Nó nép mình để rình mồi, nó nhảy qua đông qua tây, chẳng kể cao thấp, nhƣng có ngày nó cũng chết vì bẫy, vì lƣới. Còn con thai ngƣu 147 [39] thân lớn nhƣ đám mây trên trời mà không bắt nổi một con chuột. Ông có một cây lớn mà lo rằng nó vô dụng. Sao không trồng nó ở chỗ hƣ vô tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông, để những kẻ nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh thảnh thơi ngủ dƣới bóng mát của nó? Nó không sợ bị búa rìu đốn, hoặc bị ngoại vật làm hại. Nó không dùng đƣợc vào việc gì, thì tai họa làm sao mà đến? 148 [40] NHẬN ĐỊNH Lão tử và Trang tử là hai triết gia làm tốn giấy mực cho đời sau nhiều nhất: mỗi nhà ít gì cũng được cả trăm người khác chú giải. Một phần là vì triết thuyết của họ rất sâu sắc, ảnh hưởng tới tư tưởng và đời sống Trung Hoa. Nhưng nguyên nhân chính là văn của họ cô động quá, hàm súc quá, có thể hiểu được nhiều cách, nhiều chỗ không ai biết chắc được họ muốn nói gì, đành phải suy đoán. Hai bộ Đạo Đức kinh và Trang tử (Nam Hoa kinh) so với hai bộ Luận ngữ và Mạnh tử về phương diện sáng sủa thực khác nhau xa quá: một bên mù mờ bao nhiêu, một bên sáng sủa bấy nhiêu. Tóm tắt ý chính trong chương này Diệp Ngọc Lân dẫn lời của Vương Tiên Khiêm (tức Vương Ích Ngô, một triết gia đời Thanh), cho tiêu dao tự tại là siêu thoát ra ngoài thế vật, theo lý thiên nhiên. Ý đó giống ý của Quách Tượng (học giả đời Tấn, tự là Tử Huyền, cùng với Hướng Tú là những người đầu tiên chú giải Trang tử) trong câu này: Vật tuy lớn nhỏ khác nhau ( ) nhưng mỗi loài cứ theo thiên tính của mình, làm theo khả năng của mình thì là tiêu dao. Theo lý thiên nhiên hay theo thiên tính thì cũng vậy. Nhưng theo Hoàng Cẩm Hoành lại bác ý của Quách Tượng, cho tiêu dao là vô vi, vì Hoàng căn cứ vào câu Bậc chí nhân thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lưu danh ở cuối bài 1. (Chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh).

114 Vương Phu Chi (tức Vương Thuyền Sơn, một triết gia danh tiếng đời nhà Thanh) cũng cho rằng phải theo thiên tính của mình (như con chim cưu chỉ bay lên ngọn cây, có khi còn không tới, mà không vì vậy ganh tị với con chim bằng, bay cao được tới chín vạn dặm), nhưng lại chú trọng tới điều kiện này là không phải tùy thuộc cái gì (vô sở đãi) thì mới thực thảnh thơi. Con chim bằng phải tùy thuộc lớp không khí dầy ở dưới nó; Liệt tử cưỡi gió mà bay thật nhẹ nhàng, khoan khoái, nhưng vẫn phải tùy gió nổi lên mới bay được, như vậy chưa thực là tiêu dao. Hễ còn tùy thuộc một cái gì thì chưa được hoàn toàn tự do, làm sao mà thảnh thơi được? Liou Kia hway chắc cũng nghĩ như Vương Phu Chi nên dịch Tiêu dao du là liberté naturelle (sự tự do thiên nhiên). Như vậy chúng ta đã có ba điều kiện của sự tiêu dao tự tại rồi: - Phải thuận thiên tính. - Không tuỳ thuộc một cái gì (phải được hoàn toàn tự do). - Vô vi (không lập công, không cầu danh, quên mình đi, tức siêu thoát ra ngoài thế vật để khỏi tuỳ thuộc thế vật); như Hứa Do trong bài 2 là đã tiêu dao; vua Nghiêu trong bài đó chưa tiêu dao, nhưng trong bài 3, khi ở núi Cô Dạ về, chịu ảnh hưởng của bốn vị thần nhân mà quên mất thiên hạ của mình, lúc đó mới được tiêu dao. Quan niệm vô vi này Trang đã mượn của Lão mà còn tiến xa hơn Lão nữa. Theo tôi còn thêm một điều kiện nữa. - Muốn được tuyệt đối tiêu dao thì phải hoà đồng với vạn vật, như các thần nhân trên núi Cô Dạ (bài 3), lúc đó sẽ chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên (bài 1), nước lửa đều không làm hại mình được (bài 3). Tôi ngờ rằng Trang tử ở đây đã chịu ảnh hưởng của Liệt tử. Bốn điều kiện kể trên là ý chính trong chương này. Ngoài ra còn vài ý phụ nữa như là vô tài thì toàn mệnh được, như cây xư (bài 5), tiểu trí không hiểu được đại trí, như con ve sầu, con chim cưu, con cút cười con chim bằng (bài 1), khéo dùng vật thì không vật nào là vô dụng (bài 4,5); mà chỉ hạng đại trí mới biết dùng những vật tầm thường vào những việc lớn (bài 4). Chú thích:

115 149[1] Có sách chú giải cá côn là cá voi, chim bằng là chim phƣợng. Lại có sách bảo cá côn là một loại cá nhỏ và khen Trang Tử có một bút pháp độc đáo, dùng những vật nhỏ để trỏ những vật cực lớn để chỉ sự vô thƣờng của cái lớn và cái nhỏ. 150[2] Giản Văn Đế bảo Tề Hải là tên sách. Tƣ Mã Bƣu bảo là tên ngƣời. Hiểu cách nào cũng đƣợc vì tên đó không có thật. 151[3] Có sách giảng là: Nó xuống biển Nam, nghỉ ở đó sáu tháng. 152[4] Đoạn này thật tối nghĩa, mỗi nhà giải thích mỗi khác. L.K.h. bảo Trang Tử muốn tả những vật mà chim bằng trông thấy khi nó bay lên. VPC bảo Trang Tử muốn nói: Sở dĩ chim bằng bay cao đƣợc vì có hơi nƣớc, bụi cát, hơi thở của các sinh vật đỡ nó ở dƣới, và một lớp không khí dầy ở trên và dƣới. Hiểu nhƣ Vƣơng thì đoạn này có liên lạc với đoạn sau hơn. Vì Vậy tôi theo Vƣơng và thêm mấy chữ trong dấu ( ). 153[5] Một loài bồ câu Có Tự điển Hán Việt dịch là con tu hú. 154[6]Sách in nhầm là cây phƣợng. Chữ Hán là 枋 (phƣơng): cây phƣơng (dùng làm thuốc nhuộm). [Goldfish] 155[7]Nghĩa là mang theo lƣơng thực cho một ngày, sáng đi tối về. 156[8]Nghĩa là mang theo lƣơng thực cho hai ngày, mỗi dặm già nửa cây số ngày nay. 157[9]Có sách giảng là một tháng. 158[10] Minh linh: có sách giải thích là một loại cây. 159[11] Ý nói: Ngƣời ta cho kiếp ngƣời trăm năm là ngắn, muốn đƣợc nhƣ ông Bành Tổ, nhƣng tuổi thọ của Bành Tổ còn thua xa con rùa thiêng, cây xuân, giá có đƣợc nhƣ ông thì vẫn chƣa thoả mãn 160[12] Thang là ông vua diệt vua Kiệt mà chấm dứt nhà Hạ, mở đầu nhà Thƣơng. Cách là một đại phu nhà Hạ, nổi tiếng là hiền. Chữ cức là gai ở đây đọc là cách. [Chữ Hán là 棘 Goldfish].

116 161[13]Mỗi nhẫn là tám thƣớc thời đó, mỗi thƣớc khoảng một gang tay. 162[14]Đoạn này có chép trong bộ Liệt Tử (coi bản dịch của tôi, trg. 177) nhƣng hơi khác. 163[15]Nguyên văn là trƣng [trong sách in nhầm là trung. Trưng chữ Hán là 徴 - Goldfish]nghĩa là chứng tỏ tài đức của mình đáng cho dân tín nhiệm, đáng đƣợc dân coi là vua. 164[16]Một hiền triết nƣớc Tống thời đó. Chƣơng Thiên Hạ ở cuối cuốn này gọi là Tống Kiên, trong bộ Mạnh tử gọi là Tống Khanh, trong bộ Tuân tử gọi là Tống tử. 165[17]Nội là chân giá trị của mình, ngoại là lời khen hay chê của ngƣời. 166[18]Nguyên văn: hữu vị thụ dã, mỗi sách giảng mỗi khác. Liou Kia hway giảng là không lập đƣợc thuyết gì làm cơ sở cho đức tự thủ. 167[19]Coi bộ Liệt tử của tôi Lá Bối xuất bản. 168[20]Lục khí là âm dƣơng, gió mƣa, ánh sáng và bóng tối. 169[21]Vì họ ảnh hƣởng tới mọi ngƣời mà không ai thấy, không ai ngờ là nhờ họ. 170[22] Hứa Do: là một ẩn sĩ thời cổ, tự là Vũ Trọng, tƣơng truyền vua Nghiêu nhƣờng ngôi cho ông, ông không nhận, trốn vào núi ở. 171[23] Vua Nghiêu trọng Hứa Do nhƣ bậc thầy mình nên gọi là phu tử. 172[24] Nghĩa là danh chỉ là hƣ. 173[25] Yến có nghĩa là tiềm phục, nép. Có sách bảo yển thử là một con vật hình giống con bò; Liou Kia hway dịch là con tapir (con mạch). 174[26] Nguyên văn là thi, ngƣời đại diện ngƣời chết trong tang lễ để con cái khi tế thấy nhƣ cha mẹ còn ngồi đó; do đó mà sau trỏ cái thây. 175[27] Tiếp Dƣ: (có nghĩa là ngƣời đi sau xe) tƣơng truyền là một ẩn sĩ nƣớc Sở, đồng thời với Khổng tử, cày ruộng lấy mà ăn, làm bộ điên khùng, nên cũng gọi là Sở cuồng (ngƣời cuồng nƣớc Sở). Họ Lục, tên Thông. Vua Sở nghe tiếng ông, sai sứ giả tặng ông một trăm dật vàng mời ông giúp

117 nƣớc, ông cƣời mà không nhận. Sau hai ông bà bỏ nhà đi đâu không biết. 176[28] Nguyên văn: vãng nhi bất phản, các sách tôi có đều không giảng. Tôi đoán nghĩa là: cứ nói phứa đi, không nghĩ lại. Nếu hiểu là bỏ nhà đi đâu không biết thì mấy chữ đó lạc lõng, chơ vơ. 177[29] Sông Phần nay ở tỉnh Sơn Tây. 178[30] Vì bị bốn hiền nhân đó cảm hóa, không muốn trị dân theo chính sách hữu vi của mình nữa, mà chỉ muốn vô vi. 179[31] Tức Huệ Thi, sinh khoảng -370, mất khoảng -330, có thể lớn hơn Trang tử độ mƣơi tuổi, học theo phái Mặc tử, làm tƣớng quốc nƣớc Lƣơng, học rộng, chơi thân với Trang tử, đƣợc Trang tử rất trọng. 180[32] Một thạch bằng một trăm thƣng, khoảng mƣời đấu. 181[33] Vì thủy quân Việt không có thuốc đó, tay nứt nẻ cả, không chiến đấu đƣợc. 182[34] Sách in nhầm là cắt đứt - [Goldfish]. 183[35] Nguyên văn: hữu bồng chi tâm. Liou Kia hway dịch là esprit léger, nhẹ dạ, không biết suy tính. 184[36] Một thứ cây lớn mà gỗ xấu, không dùng đƣợc. 185[37] Cái compa. 186[38] Có sách cho là hai con vật: con mèo rừng và con chồn (hoặc con chó sói); Liou Kia hway dịch là con belette, một loài cầy. 187[39] Liou Kia hway dịch là con yack, một loại trâu ở Trung Á. 188[40] Vƣơng Phu Chi, Diệp Ngọc Lân và Hoàng Cẩm Hoành đều hiểu nhƣ vậy, riêng Liou Kia hway dịch là: thì sao lại làm cho ông lo nghĩ? (nguyên văn: an sở khốn khổ tai?). Trang Tử và Nam Hoa Kinh

118 Giới thiệu và chú dịch: Chương II MỌI VẬT NGANG NHAU (Tề vật luận) 1 Nam Quách Tử Kì 189 [1] ngồi tựa cái bàn con, ngƣớc mắt lên trời, thở dài, nhƣ ngƣời mất hồn. Nhan Thành Tử Du 190 [2] đứng hầu một bên, hỏi: - Sao thầy tới nỗi nhƣ vậy? Hình hài nhƣ một cây khô mà tinh thần thì nhƣ tro tàn? Ngƣời tựa vào bàn lúc này với ngƣời tựa vào bàn lúc nãy, không phải là cùng một ngƣời sao? Tử Kì đáp: - Anh Yển, anh hỏi nhƣ vậy là phải? Thầy đã tự quên thầy, anh biết không? Anh đã đƣợc nghe tiếng sáo của ngƣời mà chƣa đƣợc nghe tiếng sáo của đất; hoặc đã đƣợc nghe tiếng sáo của đất mà chƣa đƣợc nghe tiếng sáo của trời (thiên lại). - Xin thầy giảng cho con thế nào là nghĩa làm sao? - Đất thở thì thành gió. Gió không thổi thì thôi, đã thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét lên. Anh có nghe gió hú bao giờ chƣa? Trên rừng núi cao ghê gớm có những cây lớn chu vi đƣợc cả trăm gang tay 191 [3], thân cây có hang có lỗ, nhƣ lỗ mũi, lỗ tai hoặc miệng ngƣời; lại có những lỗ (vuông) nhƣ lỗ đục trong các đà ngang, hoặc lỗ mắt cáo; có lỗ nhƣ miệng cối, nhƣ ao sâu, nhƣ vũng cạn. Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau, có khi nhƣ tiếng nƣớc chảy ào ào, có khi nhƣ tiếng tên bay vút vút; có khi nhƣ tiếng thú gầm, nhƣ tiếng thở nhẹ; có khi nhƣ tiếng ngƣời mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi nhƣ tiếng chim ríu rít, nhƣ tiếng ngƣời đi trƣớc hô, ngƣời đi sau đáp. Gió hiu hiu thổi thì nghe du dƣơng; gió lớn nổi lên thì nghe ào ào. Gió lớn ngừng rồi, các hang lỗ lại im

119 lặng, mà anh có thấy cành lá lúc đó chỉ hơi lay động không? 192 [4] Tử Du thƣa: - Vậy tiếng sáo của đất (tức âm nhạc của đất) là do các hang lỗ cả, cũng nhƣ tiếng sáo của ngƣời là do các ống trúc. Thế còn tiếng sáo của trời, xin thầy giảng cho con. Tử Kỳ đáp: - Tiếng sáo của trời gồm những thanh âm biến hóa cả vạn cách mà mỗi thanh âm chỉ tự nó phát ra mà thôi. Nhƣng ai khiến cho các thanh âm đó tự nhiên phát ra nhƣ vậy? 193 [5] 2 Đại trí thì bao quát, tiểu trí thì phân biệt những cái nhỏ nhặt; lời nói sâu sắc thì sáng rõ, lời nói thô thiển thì rƣờm, tế toái. Khi ngủ thì tinh thần hôn mê, khi tỉnh dậy thì thân thể cử động. Tiếp xúc với ngƣời khác thì tự nhiên dụng tâm mƣu mô. Do đó mà sinh ra do dự, giả dối, ẩn ý. Hơi lo sợ thì sinh ra xao xuyến, ƣu tƣ; quá lo sợ thì sinh ra trì độn, mất hồn. Khi ta hành động thì nhắm ngƣời khác nhƣ bắn con mồi, rồi thì bất động để nhận định thắng lợi của mình. Do đó khí lực mỗi ngày suy đi nhƣ sinh vật vào mùa thu, mùa đông; chìm đắm trong thói xấu, ngột ngạt, càng già càng tệ; hậu quả là tinh thần nhƣ chết lần, không sao lấy lại đƣợc sinh khí nữa. Mừng giận, vui buồn, lo lắng, ân hận, phản phúc, sợ sệt, phóng túng, biếng nhác, khinh cuồng, ngạo mạn, tất cả những cái đó tự chúng phát sinh ra nhƣ âm nhạc phát từ một ống rỗng (ống sáo) hoặc nhƣ nấm từ hơi đất (ẩm ƣớt) mà ra. Ngày, đêm nối tiếp nhau, ai biết đƣợc từ đâu mà có? Hỡi ơi, hỡi ơi;

120 bao giờ chúng ta mới hiểu đƣợc lẽ sinh hoá trong vũ trụ? Không có cái không phải là ta thì không có ta. Nhƣng không có ta thì không thể hiện đƣợc sự biến hoá của tự nhiên. Nhƣ vậy ta với tự nhiên thật mật thiết với nhau. Nhƣng không ai biết đƣợc chủ thể của vũ trụ là gì. 194 [6] Ví thử có một chủ tể thực đi thì chúng ta cũng không thấy có dấu hiệu, vết tích gì của nó. Thấy tác động mà không thấy hình thể của nó. Chẳng hạn thân thể con ngƣời gồm một trăm cái xƣơng, chín cái lỗ 195 [7] và sáu bộ phận ở trong (lục tạng 196 [8] ). Chúng ta quí cái nào? Hay quí hết? Hay quí vài cái? Chúng đều phục dịch ta? Chúng đều bị động hết? Cái gì làm chủ tể chi phối chúng? Chúng chi phối và phục vụ lẫn nhau? Nếu có một cái thực là chủ tể chúng thì dù ta hiểu biết hay không hiểu biết nó, cũng không làm tăng hay giảm cái chân thực của nó. Khi ta đã nhận đƣợc cái hình hài của ta rồi thì ta giữ nó cho tới khi chết. Nó với những vật khác đâm nhau, mài cọ vào nhau, cùng bôn tẩu nhƣ những con ngựa, mà không có gì làm cho ngừng đƣợc. Buồn thay! Suốt đời khó nhọc mà không thành công gì cả; tân khổ, mệt mỏi mà không biết để đi tới đâu. Đáng thƣơng thay! Nhƣ vậy mà bảo là sống, thử hỏi có ích gì không? Hình hài mà biến hoá thì tinh thần cũng biến hoá. Đó chẳng phải là điều rất thƣơng tâm ƣ? Ngƣời đời mê muội nhƣ vậy ƣ? Chỉ riêng tôi mê muội, còn ngƣời khác không mê muội chăng? Để cho thành kiến của mình làm thay mình, sai khiến mình, nhƣ vậy thì ai cũng có thầy hết, còn cần gì nhận ngƣời khác làm thầy nữa? Vì tinh thần của mình làm thầy mình, cho nên ngƣời ngu cũng có thầy rồi. Kẻ nào muốn vƣợt thành kiến của mình để phân biệt thị phi thì cũng không khác gì bảo rằng hôm nay đi qua nƣớc Việt mà đã tới đó từ hôm qua rồi, nghĩa là coi cái không có là có. Về điểm đó, thần minh nhƣ ông Vũ 197 [9] cũng không thể biết đƣợc. Tôi làm sao mà biết đƣợc? 3 Nói không phải chỉ là phát hơi ra thành tiếng. Nó là để diễn một cái gì. Nhƣng cái ý muốn diễn ấy không hoàn toàn do lời nói định đƣợc [nghĩa là lời không sao diễn hết đƣợc ý], vậy thì có lời nói

121 không [nghĩa là lời nói có ý nghĩa không], hay không có lời nói [nghĩa là lời nói vô nghĩa, chỉ nhƣ hơi phát từ miệng ra thôi]. Lời nói khác với tiếng chim con chíp chíp, nhƣng vì lời nói không hẳn diễn đƣợc ý nghĩa, nhƣ vậy thì rốt cuộc có phân biệt đƣợc hai cái đó không? Đạo bị cái gì che lấp tới nỗi phải phân biệt chân với nguỵ? Lời nói bị cái gì che lấp tới nỗi phải phân biệt phải với trái? Khi nào thì đạo không còn, khi nào thì lời không chấp nhận đƣợc? Đạo bị thành kiến nhỏ nhen che lấp; lời nói bị sự hoa mĩ phù phiếm che lấp. Do đó mà phái Nho, phái Mặc tranh luận với nhau. Cái gì phái này cho là phải thì phái kia cho là trái; cái gì phái này cho là trái thì phái kia cho là phải. Muốn thấy điểm phải trong chỗ họ cho là trái, thấy điểm trái trong chỗ họ cho là phải, [nghĩa là muốn thấy phái nào cũng có lí một phần, mà không phái nào hoàn toàn có lí], thì không gì bằng dùng trực giác [đừng lí luận, tranh biện]. 198 [10] Vật nào cũng là vật khác mà cũng là chính nó. Phân biệt vật và mình thì không thấy đƣợc lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy đƣợc. Cho nên mới bảo cái kia là tự cái này mà ra, mà cái này cũng tự cái kia mà có. Chẳng hạn ngƣời ta phân biệt sống và chết, sự thực sống cũng là chết, chết cũng là sống. Cái có thể đƣợc cũng là không thể đƣợc, cái không thể đƣợc cũng là cái có thể đƣợc. Xác nhận cũng là phủ nhận, phủ nhận cũng là xác nhận. Thánh nhân không chấp nhất nên mới rực rỡ ở trên trời. Mình là ngƣời khác, ngƣời khác cũng là mình. Ngƣời kia có quan niệm của họ về thị, phi. Mình cũng có quan niệm của mình về thị, phi. Có sự khu biệt thực nào giữa mình và ngƣời kia không? Mình và ngƣời đừng chống đối nhau nữa, cái chốt [tức cái cốt yếu] của Đạo ở đó. Cái chốt đó ở trung tâm cho nên ứng với các biến hoá vô cùng. Cái thị (phải) biến hoá vô cùng, mà cái phi (không phải) cũng biến hoá vô cùng. Cho nên mới bảo: Không gì bằng dùng trực giác. Muốn dùng cái ý niệm độc lập, tuyệt đối để chứng rằng những biểu hiện của ý đó trong sự vật không phải là ý niệm độc lập, tuyệt đối, thì sao bằng dùng cái phi ý niệm 199 [11] để chứng rằng những ý niệm biểu hiện trong sự vật không phải là ý độc lập, tuyệt đối. Muốn chứng rằng con ngựa trắng không phải con ngựa thì sao bằng dùng ý niệm phi mã (không phải con ngựa) để chứng rằng ngựa trắng không phải là ngựa 200 [12]. Sự thực vũ trụ chỉ là một ý niệm, mà mọi vật chỉ là một con ngựa 201 [13].

122 4 Có đi rồi mới thành đƣờng; có đặt tên rồi mới phân biệt vật này vật khác. Làm sao bảo một vật là nó nhƣ vậy? Vì nó nhƣ vậy nên bảo nó nhƣ vậy. Làm sao bảo một vật không phải nhƣ vậy 202 [14]? Vì nó không nhƣ vậy nên bảo nó không nhƣ vậy. Làm sao bảo một vật là có thể. Bảo một vật là có thể vì nó có thể. Làm sao bảo một vật là không có thể. Bảo một vật là không có thể là vì nó không có thể. Vật nào cũng có cái nhƣ vậy của nó, vật nào cũng có cái có thể của nó 203 [15]. Cho nên một cọng cỏ nhỏ với một cây cột lớn, một ngƣời đàn bà xấu với nàng Tây Thi, với tất cả các cái bậy bạ, dối trá, quái dị đều hợp nhất ở trong Đạo hết. Cái nhất đó phân chia ra thành vạn vật, phân chia ra rồi thì không còn cái trƣớc nữa mà cái này sẽ mất đi. [nghĩa là có sinh thì có diệt, có diệt thì có sinh]. Nhƣng không vật nào có sinh thành, có huỷ diệt vì rốt cuộc lại hợp nhất ở trong Đạo. Chỉ có hạng đạt Đạo mới hiểu đƣợc sự hợp nhất đó mà bỏ thành kiến đi để theo lẽ trung dung (bình thƣờng). Trung dung thì thực hành đƣợc, thực hành đƣợc thì thông [có kết quả, không tắt nghẽn], thông thì đƣợc việc 204 [16] [thành công]. Đƣợc việc là gần tới Đạo [vì phải hiểu Đạo rồi mới đƣợc việc]. Phải xác nhận sự kiện. Thực hiện mà không hiểu tại sao, đó là Đạo 205 [17]. 5 Cứ cố chấp tin vào một điều thôi mà không biết rằng điều ấy cũng y hệt các điều khác, nhƣ vậy là có tinh thần sáng ba. Câu chuyện sáng ba nhƣ vầy: Xƣa có một ông già nuôi khỉ, bảo chúng: Tao cho chúng bây sáng ba [trái lật 206 [18] ], chiều bốn [trái]. Chúng bây chịu không?. Chúng đều bất bình. Ông già bèn bảo: Thế thì sáng bốn [trái], chiều ba. Chịu không?. Chúng đều mừng. Sự thực có gì thay đổi đâu mà lần trƣớc chúng nổi giận, lần sau mừng. Ông già đó đã khéo thuận theo bản tính của loài khỉ.

123 Cho nên thánh nhân dung hoà, coi thị phi là một, mà theo luật quân bình tự nhiên. Nhƣ vậy gọi là lƣỡng hành 207 [19]. 6 Cổ nhân có ngƣời tri thức đạt đƣợc tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi vũ trụ chƣa có vật: đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt đƣợc, không thể thêm gì đƣợc nữa. Hạng ngƣời thấp hơn cho rằng thời sơ khởi đã có cái gì đó, nhƣng cái đó không nhất định 208 [20]. Hạng thấp hơn cho rằng cái đó đã nhất định nhƣng bảo không có thị phi (phải trái, xấu tốt). Từ khi có quan niện thị phi, ý niệm về Đạo mới suy. Ý niệm về Đạo suy rồi mới có lòng tự ái (lòng yêu ích kỉ). Thật ra có gì là thành và bại không? Hay là không có? Nhƣ trƣờng hợp Chiêu Văn 209 [21] chơi đàn cầm, chứng là có thành và bại; Chiêu Văn không chơi đàn cầm thì không chứng đƣợc là có thành có bại. Chiêu Văn chơi đàn cầm, Sƣ Khoáng 210 [22] gõ nhịp; Huệ tử dựa một cây ngô đồng [mà biện thuyết]; ba bậc đó tài trí cực cao, giữ đƣợc danh tiếng cho hết đời. Sở thích của họ khác với của mọi ngƣời. Họ đều muốn cho ngƣời khác hiểu cái mà ngƣời ta không hiểu nổi, nên Huệ Thi mới làm hỏng đời ông bằng thuyết kiên bạch (cứng và trắng) 211 [23], mà con Chiêu Văn muốn nối nghiệp cha đến nỗi suốt đời không thành công. Nếu nhƣ vậy [tức xét riêng từng ngƣời một] mà gọi là thành công thì bất tài nhƣ tôi cũng thành công. Nếu nhƣ vậy không gọi là thành công đƣợc [tức xét chung cả mọi ngƣời, mà không phải ai cũng giỏi, thành công nhƣ ba nhà đó đƣợc], thì tôi và ngƣời khác, chẳng ai thành công cả 212 [24]. Thánh nhân chê cái thói làm cho ngƣời đời mê loạn, nghi ngờ, nên bỏ hết thành kiến, theo lẽ trung dung tầm thƣờng thôi, nhƣ vậy là dùng đến trực giác 213 [25]. 7

124 Nay có ngƣời đƣa ra một phán đoán. Không biết nó có giống với những phán đoán của ngƣời khác hay không. Giống hay không thì chúng cũng là một loại với nhau cả, vậy có khác gì nhau đâu 214 [26]. Tôi xin đƣa ra một thí dụ. Một ngƣời bảo rằng vũ trụ có khởi thuỷ; một ngƣời khác bảo không có khởi thuỷ, một ngƣời nữa bác thuyết ngƣời thứ nhì dùng để bảo vủ trụ không có khởi thuỷ. Nói cách khác: một ngƣời bảo mới đầu vũ trụ có cái gì đó (hữu) 215 [27], một ngƣời khác bảo mới đầu vũ trụ không có cái gì đó (vô); một ngƣời nữa bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có cái gì đó; lại một ngƣời thứ tƣ khác nữa bác cái thuyết ngƣời thứ ba dùng để bác cái thuyết mới đầu vũ trụ không có gì cả. Khi thì có (hữu), khi thì không (vô). Mà không biết cái có, cái không đó có thực là có, có thực là không không. Tôi mới đƣa ra một ý kiến, nhƣng nó có thực là ý kiến hay là không có ý kiến gì cả. Trên đời không có gì lớn bằng đầu chiếc lông mùa thu 216 [28], mà núi Thái Sơn 217 [29] thì nhỏ. Không ai thọ bằng đứa trẻ chết yểu, mà không ai yểu bằng ông Bành Tổ. Trời đất cùng sinh ra với tôi; vạn vật và tôi hợp nhất, chỉ là một. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao còn nói về nó đƣợc nữa 218 [30]. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao lại không nói về nó đƣợc 219 [31]. Cái nhất đó thêm cái ta nói về nó, thế là hai cái rồi; hai cái đó với cái nhất (nguyên thuỷ) thành ra ba. Cứ nhƣ vậy mà tính tiếp thì ngƣời giỏi tính cũng đành chịu 220 [32] ; huống hồ là ngƣời thƣờng. Nhƣ vậy là từ không (vô) tới có (hữu) đã có ba ý khác nhau rồi; huống hồ từ có tới có, sẽ có cơ man nào là ý. Đừng suy luận gì hết [nghĩa là quên ngôn ngữ, ý tƣởng đi] thì thấy đƣợc đạo. 8 Đạo không có giới hạn, mà ngôn ngữ thì không chắc chắn 221 [33]. Do ngôn ngữ mới có những sự phân biệt này nọ. Chẳng hạn chúng ta phân biệt bên phải bên trái, thứ tự và sai đẳng 222 [34], phân

125 và biện 223 [35], cạnh và tranh 224 [36] : đó là tám loại biểu hiện. Mà cái gì ở ngoài vũ trụ thì thánh nhân không cho là có, không nói tới; cái gì ở trong vũ trụ thì thánh nhân nói tới mà không phê bình. Bộ sử Xuân Thu và chuyện chép về các tiên vƣơng, thánh nhân đem ra bàn mà không tranh biện. Sau mỗi cái phân biệt có một cái gì không phân biệt đƣợc; sau mỗi cái biện luận có một cái gì không biện luận đƣợc. Tại sao vậy? Vì thánh nhân thấu triệt đƣợc toàn diện, còn ngƣời thƣờng chấp nhất cãi nhau để thắng ngƣời khác. Cho nên bảo: Hễ biện luận là chỉ thấy đƣợc phiến diện. Đại Đạo không có tên, đại biện luận thì không nói; đại nhân (nhân từ) thì không yêu riêng ai; đại liêm khiết thì không có hình tích; đại dũng thì không hung hăng. Cái Đạo mà minh thị ra rồi thì không phải là Đạo; biện mà phải dùng lời nói thì không đạt đƣợc chân lí; nhân (từ) mà cố định 225 [37] thì không hoàn toàn là nhân; liêm khiết mà phô trƣơng thì không đƣợc ngƣời ta tin; dũng mà tranh đấu (hoặc tới tàn bạo) thì không thành công. Nhƣ vậy là năm cái đó vốn hồn nhiên, viên thông mà hoá ra có cạnh góc. Biết rằng có những điều mình không thể biết đƣợc, đó là đạt đƣợc cực điểm của trí. Ngƣời nào biết biện luận mà không dùng lời, biết rằng Đạo thì không có tên, là có đƣợc cái kho của trời (thiên phủ), đổ vô mà không bao giờ đầy, múc ra mà không bao giờ cạn, mà không biết tại sao. Nhƣ vậy gọi là che ánh sáng đi [đừng cho nó chiếu ra ngoài, mà ở trong sẽ sáng hơn]. 9 Xƣa vua Nghiêu hỏi ông Thuấn: - Tôi muốn đánh các nƣớc Tông, Khoái và Tƣ Ngao 226 [38], nhƣng mỗi khi lâm triều, tôi thấy lòng không yên. Tại sao vậy? - Vua ba nƣớc đó ở chỗ hoang vu đầy lau sậy. Lòng nhà vua không yên là vì đâu ƣ? Xƣa mƣời mặt

126 trời cùng xuất hiện, chiếu sáng vạn vật. Đạo đức há chẳng chiếu sáng hơn mặt trời ƣ 227 [39]? 10 Niết Khuyết hỏi (môn đệ là) Vƣơng Nghê 228 [40] : - Anh có biết một chân lí tuyệt đối không? [nghĩa là đƣợc mọi vật chấp nhận]. Vƣơng Nghê đáp: - Làm sao con biết đƣợc? - Anh có biết rằng anh không biết chân lí đó không? 229 [41] - Làm sao con biết đƣợc? - Vậy ra vạn vật không biết gì cả sao? Vƣơng Nghê đáp: - Làm sao con biết đƣợc? Nhƣng con thử rán đƣa ra ý kiến của con. Làm sao ngƣời ta có thể biết đƣợc cái mà con bảo là biết lại không phải là không biết ; mà cái con bảo là không biết lại không phải là biết? Chẳng hạn một ngƣời nằm chỗ ẩm thấp (trong bùn) mà đau lƣng tê liệt nửa ngƣời, nhƣng một con lƣơn thì có sao không? Một ngƣời ngồi trên ngọn cây thì run rẩy sợ sệt, nhƣng con khỉ có vậy không? Chỗ ở của ngƣời và hai con vật ấy, chỗ nào là lí tƣởng (chính xứ)? Ngƣời ta ăn thịt dê, bò, chó, lợn; hƣơu nai ăn cỏ; rết thích ăn rắn con; cú mèo và quạ thích ăn chuột. Khẩu vị của bốn loài đó, khẩu vị nào là lí tƣởng (chính vị)? Khỉ đực sống với vƣợn cái; nai đực sống với hƣơu cái; lƣơn sống

127 chung với cá; nàng Mao Tƣờng và nàng Lệ Cơ 230 [42] đƣợc mọi ngƣời khen là đẹp, vậy mà thấy họ tới thì cá lặn sâu, chim bay cao, hƣơu nai chạy dài. Cái đẹp theo bốn loài đó, cái đẹp nào là lí tƣởng (chính sắc)? Theo con thì phân biệt nhân, nghĩa, thiện, ác chỉ là rối mù thôi. Làm sao mà phân biệt đƣợc? Niết Khuyết lại hỏi: - Anh không biết đƣợc lợi hại, nhƣng bậc chí nhân [đức tuyệt cao] có biết lợi hại không? - Thƣa, bậc chí nhân là thần rồi. Đồng cỏ có cháy cũng không làm cho họ thấy nóng, sông rạch đóng băng cũng không làm cho họ thấy lạnh, sét đánh đổ núi, gió làm dậy sóng cũng không khiến cho họ sợ. Họ chế ngự gió mây, cƣỡi mặt trời mặt trăng mà đi chơi ngoài bốn bể, không quan tâm tới sống, chết, huống hồ là tới lợi hại? 11 Cồ Thƣớc tử hỏi Trƣờng Ngô tử 231 [43] : - Tôi nghe Khổng tử 232 [44] bảo: Thánh nhân không dự vào việc đời, không mƣu đồ cái lợi, tránh né cái hại, đƣợc ngƣời ta vời cũng không mừng, không theo thói đời 233 [45]. Thánh nhân không nói tức là nói đấy, mà nói tức là không nói đấy. Nhờ vậy mà siêu thoát ra ra ngoài cõi trần tục. Thầy chúng ta cho đó là những lời vu khoát mơ hồ. Nhƣng tôi cho là những lời phát hiện đƣợc cái đạo kì diệu. Còn anh, anh nghĩ sao? Trƣờng Ngô tử đáp: - Ngay Hoàng Đế 234 [46] cũng hoang mang về điều đó, thì làm sao mà [Khổng] Khâu biết đƣợc? Tính anh vội vàng quá. Mới thấy cái trứng anh đã muốn nghe gà gáy sáng rồi, mới thấy viên đạn đã muốn có thịt chim hào 235 [47] quay rồi. Để tôi giảng bậy chơi, mà anh cũng nghe bậy chơi nhé.

128 Có phải là thánh nhân theo mặt trời mặt trăng, ôm vũ trụ, hợp nhất với vạn vật, bỏ hết cả mọi sự hỗn độn, u ám, coi các sự tôn ti, quí tiện là một không? Ngƣời phàm lao khổ vì sự thị phi, tranh luận, thì thánh nhân thì có vẻ nhƣ ngu muội vô tri, đạt đƣợc cái thuần khiết của cái nhất 236 [48] nó bao quát mọi biến hoá của mọi thời và mọi vật. Làm sao tôi biết đƣợc ham sống không phải là một thái độ lầm lẫn? Làm sao tôi biết đƣợc kẻ sợ chết không giống nhƣ một em nhỏ lạc lối, quên mất đƣờng về nhà? Nàng Lệ Cơ là con gái viên quan giữ biên giới ở đất Ngải. Khi vua Hiến Tông nƣớc Tấn đón nàng về cung, nàng khóc tới uớt đẫm vạt áo, nhƣng về tới hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm cao lƣơng mĩ vị, nàng hối hận giọt lệ ngày xƣa. Vậy làm sao tôi biết đƣợc khi chết rồi, ngƣời ta lại không ân hận rằng trƣớc kia ham sống? Có ngƣời nằm mộng thấy đƣợc uống rƣợu ăn tiệc, tỉnh dậy tiếc mà khóc; lại có ngƣời nằm mộng thấy mình khóc rồi thức vậy vui nhƣ đi săn. Mà hai hạng ngƣời đó trong khi nằm mộng không biết rằng mình nằm mộng, đôi khi nằm mộng thấy rằng mình nằm mộng, tới khi tỉnh mới biết rằng mình nằm mộng. Và chỉ khi nào đại giác (tỉnh lớn) mới biết rằng đã qua một đại mộng (giấc mộng lớn). Bọn ngu tự cho mình là tỉnh khi coi vua là quí, còn kẻ chăn trâu là hèn. Thật là cố chấp! Khổng Khâu với anh đều là nằm mộng hết. Mà tôi bảo anh là nằm mộng, thì chính tôi cũng nằm mộng nữa. Những lời đó ngƣời thƣờng cho là quái dị, nhƣng một vạn năm về sau sẽ có một đại thánh nhân hiểu đƣợc. Thời gian đó không dài gì chỉ nhƣ từ sáng tới chiều thôi. 12 Giả sử tôi tranh biện với anh mà anh thắng tôi thì có nhất định là anh phải, tôi trái không? Nếu tôi thắng anh thì có nhất định là tôi phải, anh trái không? Trong chúng ta có một ngƣời phải, một ngƣời trái? 237 [49] Hay cả hai chúng ta đều phải cả hoặc đều trái cả? Anh và tôi làm sao biết đƣợc điều đó? Mà một ngƣời thứ ba nào khác thì cũng hồ đồ không biết đƣợc, lựa ai sáng suốt làm trọng tài đây? Hỏi một ngƣời cùng một ý kiến với anh, thì ngƣời đó do lẽ cùng ý kiến với anh, làm sao có thể phê phán đƣợc? Nếu là một ngƣời cùng ý kiến với tôi thì ngƣời này do lẽ cùng ý kiến với tôi, làm sao có thể phê phán đƣợc? Nếu là một ngƣời ý kiến khác cả tôi lẫn anh, hoặc giống cả tôi lẫn anh thì

129 cũng làm sao phán đoán đƣợc? Vậy anh, tôi và ngƣời thứ ba đó đều không quyết đƣợc ai phải, ai trái. Có nên đợi một ngƣời thứ tƣ nữa không? 13 Thế nào là hoà hợp với thiên nghê 238 [50] (phán đoán hợp với lí tự nhiên, chứ không phải theo tiêu chuẩn vốn dĩ thiên lệch của loài ngƣời). Hoà hợp với thiên nghê là [chấp nhận ý kiến của ngƣời, và] bảo không phải cũng là phải 239 [51]. Nếu cái gì phải mà quả thực là phải thì nó khác hẳn với cái gì không phải rồi, nhƣ vậy không còn phải tranh biện nữa. Nếu cái gì nhƣ vậy quả thực là nhƣ vậy thì nó khác hẳn cái gì không nhƣ vậy rồi, trong trƣờng hợp đó, cũng không còn phải tranh biện nữa. Một chuyển động và một thanh âm tuỳ thuộc nhau mà cơ hồ nhƣ không tuỳ thuộc nhau 240 [52]. Phán đoán mà hoà hợp với thiên nghê là biết tuỳ theo hoàn cảnh thay đổi, nhƣ vậy thì đạt đƣợc tới vô cực, sống đƣợc trọn đời. Quên tuổi mình, quên thị phi đi, ngao du ở chỗ vô cảnh giới (hƣ vô) và gởi mình trong cõi đó. 14 Cái bóng của cái bóng 241 [53] hỏi cái bóng: - Lúc nãy anh đi, bây giờ anh ngừng. Lúc nãy anh ngồi, bây giờ anh đứng. Tại sao anh không có thái độ độc lập vậy? Cái bóng đáp: - Tôi sở dĩ nhƣ vậy là vì tuỳ thuộc một cái gì. Cái gì đó lại tuỳ thuộc một cái gì khác. Tôi tuỳ thuộc một cái gì thì cũng nhƣ con rắn tuỳ thuộc vẩy 242 [54] của nó, con ve tuỳ thuộc cánh của nó. Làm sao tôi hiểu đƣợc cái gì làm cho tôi lúc thì thế này, lúc thì thế khác?

130 15 Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hoá bƣớm vui vẻ bay lƣợn, mà không biết mình là Chu. Rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hoá bƣớm hay là bƣớm mộng thấy hoá Chu. Trang Chu với bƣớm tất có chỗ khác nhau. Cái đó là gọi là vật hoá 243 [55]. NHẬN ĐỊNH Chương này là chương quan trọng nhất, chứa nhiều tư tưởng độc đáo nhất trong bộ sách. Trang tử trình bày vũ trụ quan của ông để rút ra một luật thiên nhiên: luật vạn vật tuyệt đối bình đẳng, không có quí tiện, không có thị phi, và một phép xử thế: không tranh luận, để cứu một cái tệ đương thời, là triết gia nào cũng đả đảo các triết gia khác, tự cho mình mới thực nắm được chân lí. Trong bài 6, Trang tử bảo: Cổ nhân, người nào trí tuệ đạt tới tuyệt đỉnh, cho rằng vũ trụ mới đầu không có gì cả. Bài 2, ông lại bảo: Không ai biết chủ tể của vũ trụ là gì. Ví thử có một chủ thể đi thì chúng ta cũng không thấy cái dấu hiệu, vết tích gì của nó. Thấy tác dụng mà không thấy hình thể của nó. Chủ trương đó thật rõ ràng: ông không chấp nhận có một vật hữu hình sinh ra vạn vật. Không có một Thượng đế như Nho gia và Mặc gia quan niệm. Mới đầu chỉ có một cái gì đó, có lẽ là luật thiên nhiên, mà ông gọi là Đạo. Đạo siêu thời gian, vô hình sắc, mà biến hoá vô cùng (bài 3). Như khi gió thổi, cả vạn hang, lỗ đều vang động lên, phát ra những tiếng khác nhau, có khi như tiếng nước chảy ào ào, có khi như tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít (bài 1), nhưng hết thảy những tiếng đó đều do đất thở (tức gió) mà phát ra cả. Đạo đó không có tên gọi (ý này cũng chính là ý của Lão tử trong Đạo Đức kinh: Đạo khả đạo phi thường đạo); khi Đạo mà đã minh thị ra rồi thì không phải là Đạo (bài 8). Vì Đạo gồm vạn vật, vạn vật hợp nhất vào Đạo (bài 4), chúng ta chỉ là một phần tử của Đạo, không thể biết được Đạo (một

131 phần tử làm sao biết được toàn thể), không thể chỉ rõ, giảng nó là cái gì. Cho rằng mình biết được Đạo, là nói bậy, nhận rằng mình không biết được nó, mới là sáng suốt. (Biết rằng có những điều mình không thể biết được, đó là đạt được cực điểm của trí bài 8). Vậy Trang cơ hồ chủ trương thuyết bất khả tri. Tuy không hiểu được Đạo, nhưng hạng đại trí, đạt Đạo, biết rằng vạn vật hợp nhất ở trong Đạo, nên không phân biệt vật này, vật khác, mình với vật: Vật nào cũng là vật khác mà cũng là chính nó. Phân biệt vật và mình thì không thấy được lẽ đó, hoà đồng với vật thì thấy được. Cho nên mới bảo cái kia là tự cái này mà ra, mà cái này cũng tự cái kia mà có ( ) Mình là người khác, người khác cũng là mình (bài 3). Ở đây ta thấy Trang tử vượt Mặc tử. Mặc tử bảo phải yêu mọi người như mình, nghĩa là còn phân biệt người và mình. Trang thì không: người là mình, mình là người. Yêu hay ghét không thành vấn đề nữa: cứ theo tự nhiên, thì cũng như yêu mọi người, mọi vật rồi. Tôi không muốn gọi thuyết của ông là siêu ái để so sánh với thuyết kiêm ái của Mặc, vì ông không chủ trương ái, nhưng tư tưởng của ông quả là cao hơn Mặc nữa. Mà cao hơn tức là khó thực hiện hơn. Đã cùng là những phần tử của Đạo cả, nên vạn vật ngang nhau. Thân thể con người gồm một trăm cái xương, chín cái lỗ và sáu tạng, có cái nào đáng quí hơn cái nào đâu? Chúng đều là bộ phận của thân thể, đều phục dịch cho ta. Một cái bị bệnh thì những cái khác cũng bị ảnh hưởng lây, mà thân thể của ta mất sự quân bình 244 [56]. Cho nên một cọng cỏ nhỏ với một cây cột lớn, một người đàn bà xấu với nàng Tây Thi, với tất cả các cái bậy bạ, dối trá, quái dị đều hợp nhất ở trong Đạo. Cái nhất đó phân chia ra thành vạn vật (bài 4). Vả lại cái gì cũng ở trong Đạo hết. So với một cái cực nhỏ thì đầu chiếc lông mùa thu là cực lớn; so với cái cực lớn thì núi Thái Sơn vẫn là nhỏ. Loài người ăn thịt dê thịt bò cho là ngon, mà loài dê loài bò lại cho lá cây, cỏ mới ngon; loài người cho Mao Tường, Lệ Cơ là đẹp, nhưng loài chim loài cá thấy hai nàng đó thì hoảng sợ mà trốn; vậy là không có chính vị, chính sắc, nghĩa là không có gì làm tiêu chuẩn bất di bất dịch cho khẩu vị, sắc đẹp cả, không có gì tuyệt đối cả.

132 Hơn nữa, mọi vật đều biến thiên, một việc lúc này cho là khổ, lúc khác lại cho là vui, lúc này cho là phải, lúc khác cho là trái. Nàng Lệ Cơ khi phải xa cha mẹ thì khóc mướt, nhưng về nhà chồng rồi, lại thấy sung sướng mà ân hận rằng trước kia đã khóc. Cho nên chỉ người phàm mới lao khổ vì thị phi, còn thánh nhân thì đạt được cái tinh khiết của cái nhất nó bao quát được mọi biến hoá của mọi thời và mọi vật. Cái nhất đó là Đạo (bài 11). Vì luật biến hoá đó mà sống cũng là chết, chết cũng là sống (bài 3), mộng cũng có thể là thực mà thực cũng có thể là mộng. Ai mà biết được Trang Chu mộng thấy mình hoá bướm hay bướm mộng thấy nó hoá Trang Chu (bài 15). Trong bài 11, Trường Ngô tử bảo bạn là Cồ Thước tử: đời chỉ là giấc mộng lớn; Khổng tử khi giảng đạo lí, là nằm mộng, Cồ Thước tử nhắc lại lời của Khổng tử cũng là nằm mộng, mà Trường Ngô tử khi bảo hai người trên là nằm mộng thì chính mình cũng là nằm mộng nốt nữa. Vậy là cơ hồ như Trang tử chủ trương tuyệt đối hoài nghi, tuyệt đối vô vi: đã không có gì là phải, là trái thì cũng chẳng cần phải làm gì cả? Đọc lại câu cuối bài 5, chúng ta thấy không hoàn toàn như vậy: Cho nên thánh nhân dung hoà, coi thị phi là một, mà theo luật tự nhiên. Như vậy gọi là lưỡng hành. Nghĩa là phải hay trái, tuỳ theo hoàn cảnh, mà mình phải thích nghi với hoàn cảnh. Bài 4 ông còn nói rõ hơn: Thánh nhân bỏ thành kiến đi để theo lẽ trung dung. Nhưng vậy là Trang cũng nhận có một thái độ phải, thái độ đó là vượt lên trên quan niệm thị phi của người đời, tuỳ hoàn cảnh mà tìm cái thị trong cái phi, cái phi trong cái thị. Có thể gọi thái độ đó là siêu thị phi, là dung hoà, gần gần như thuyết trung dung của Khổng tử. Đó là một điểm đặc biệt trong triết lí Trung Hoa: hai triết hệ lớn của họ, Khổng và Lão đều có tinh thần dung hoà; nhận rằng mọi thuyết, mọi vật có thể cùng hoạt động (tịnh hành) mà không trở ngại nhau: Xưa mười mặt trời cùng xuất hiện, chiếu sáng vạn vật. Sự chiếu sáng của đạo đức không hơn sự chiếu sáng của mặt trời ư? (bài 9).

133 Đồng qui nhi thù đồ là vậy. Khổng có thể dung hoà với Lão, mà Phật sau này có thể dung hoà cả với Khổng và Lão. Tuỳ hoàn cảnh, có thể xuất như Khổng hay xử như Lão, đó là thái độ của tất cả các nhà Nho như Đào Tiềm, Tô Đông Pha tới Chu Văn An, Nguyễn Khuyến Mà thái độ của dân chúng Trung Hoa cũng như Việt Nam là chấp nhận cả tam giáo: Khổng, Lão, Phật; tâm hồn chúng ta không ai là thuần tuý Khổng hay Lão hay Phật, ai cũng chịu ảnh hưởng của ba tôn giáo đó, chỉ khác là do bản tính, người thiên về đạo này hơn đạo khác; nhưng cả những người thiên về một đạo nào đó chẳng hạn Khổng giáo thì một tuổi nào đó hoặc gặp một hoàn cảnh nào đó, có thể thiên về một đạo khác hơn chẳng hạn Phật giáo. Từ vũ trụ quan kể trên, Trang tử rút ra cho chúng ta bài học này: đừng nên tranh biện. Chúng ta nhớ Trang tử sống cùng một thời với Mạnh tử. Thời đó là thời Chiến quốc, thời đại loạn, nhưng cũng là thời tư tưởng Trung Quốc phát triển rất mạnh, thời bách gia chư tử. Ngôn luận được hoàn toàn tự do, ai cũng muốn đưa ra một thuyết để cứu nguy cho thiên hạ, mà các vua chúa cũng muốn tìm hiểu tất cả các thuyết để xem có thể áp dụng được không, cho nên trọng đãi các triết gia, mời họ làm cố vấn, coi họ như thầy nữa, như Tề Tuyên vương, Lương Huệ vương, Đằng Văn công đối với Mạnh tử. (Chính Trang tử cũng được Sở Uy vương mời làm tướng quốc mà ông từ chối). Trong số các triết gia đó, có độ mươi nhà rất nổi danh như Mạnh tử, Tuân tử, Huệ tử, Công Tôn Long, Trâu Diễn (không kể Trang tử), nhưng ảnh hưởng lớn nhất, theo Mạnh tử, là học thuyết của Dương và Mặc: Học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch lan tràn thiên hạ khi bàn bạc, người nào không theo Dương thì theo Mặc. Những học phái đó đả kích nhau, khuynh loát nhau, cho nên càng nhiều càng loạn, từ vua chúa tới dân chúng đều hoang mang, không biết theo ai. Mạnh tử hăng hái nhất, tự cho mình cái sứ mạng bảo tồn, phát huy đạo của Khổng tử, muốn đánh đổ các thuyết khác, đặc biệt là thuyết vị ngã, vô quân của Dương Chu 245 [57] và thuyết kiêm ái, vô phụ của Mặc Địch 246 [58]. Trang tử cho rằng họ lầm lẫn hết, nên ông không đả riêng một nhà nào (có lẽ một phần vì vậy mà Mạnh tử không nhắc gì tới ông cả), chỉ cảnh cáo họ rằng biện luận chẳng những vô ích mà còn có

134 hại. Vì biện luận chỉ thấy được một khía cạnh thôi, Đạo không có giới hạn mà ngôn ngữ thì không chắc chắn. Đạo thì không phân biệt cái này cái kia, do ngôn ngữ mới có sự phân biệt. Nhưng sau mỗi cái phân biệt, có một cái gì không phân biệt được, sau mỗi cái biện luận, có một cái gì không biện luận được (bài 8). Người ta tranh biện chỉ mong thắng được người khác, nhưng không hiểu rằng không thể thắng ai bằng cách đó được. Hai bên đều đưa thiên kiến của mình ra mà không chịu nghe lí luận của người kia, y như một cuộc đàm thoại giữa kẻ điếc. Mà nếu một người nào làm cho người kia phải im tiếng thì cũng không nhất định là người đó phải, người kia trái; có phần chắc là người nào cũng có chỗ phải, chỗ trái. Nhờ một người thứ ba làm trọng tài thì lại càng vô ích nữa. Nếu người đó cùng ý kiến với người thứ nhất thì làm sao phê phán được người thứ nhì; cùng ý kiến với người thứ nhì thì làm sao phê phán được người thứ nhất; nếu khác ý kiến với cả hai thì càng không thể phê phán được ai phải, ai trái; mà nếu cùng ý kiến với cả hai người thì làm sao còn gọi là trọng tài được nữa? (bài 12). Hơn nữa, càng tranh biện, càng làm cho chân lí mờ tối đi, vì thành kiến của mỗi bên, Đạo bị thành kiến nhỏ nhen che lấp, lời nói bị sự hoa mĩ, phù phiếm che lấp. Do đó mà phái Nho, phái Mặc tranh biện với nhau. Cái gì phái này cho là phải thì phái kia cho là trái; cái gì phái này cho là trái thì phái kia cho là phải. Đừng chống đối nữa, đó là cái chốt của Đạo. Cái chốt đó ở trung tâm cho nên ứng với các biến hoá vô cùng (bài 3). Có thái độ không chống đối nhau thì mới hiểu được những cái phải, cái trái ở bên ngoài, cũng như từ cái trái thơm (moyeu) của một bánh xe đạt được tới vành bánh xe bằng những chiếc tăm tủa ra khắp phía. Và khi phán đoán phải biết tuỳ theo hoàn cảnh mà thay đổi, mới thấy được có điều xưa cho là phải, nay cho là trái, ở xứ này là phải, ở xứ khác là trái, trong cái phải có cái trái, trong cái trái có cái phải. Như vậy là hoà hợp với thiên nghê, cũng gọi là thiên quân, tức với cái lí tự nhiên, sự biến hoá tự nhiên của vạn vật. Thái độ vượt lên trên thị phi, thích nghi với hai cái đó, Trang tử gọi là lưỡng hành. Tư tưởng bình đẳng tuyệt đối trong chương này của Trang tử trái ngược hẳn với tư tưởng của Mạnh tử mà cũng khác tư tưởng của Hứa Hành, một triết gia đương thời.

135 Mạnh tử bảo: Bản chất của mọi vật là không đều nhau (Phù vật chi bất tề, vật chi tinh dã). Người thì có hạng quân tử tức hạng có tài đức lo việc trị dân, và hạng tiểu nhân tức hạng bình dân lo cấp dưỡng cho hạng trên. Vật thì có vật đáng giá gấp mười, gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn vật khác. Hứa Hành cho rằng vua không quí gì hơn dân, cũng bình đẳng với dân, cũng phải cày cấy lấy mà ăn, tự dệt chiếu, tự bện dép lấy mà dùng. Hai nhà đó đứng về phương diện xã hội, chính trị, còn Trang đứng về phương diện bản thể luận. Mạnh tử đả đảo kịch liệt thuyết của Hứa Hành (coi chương Đằng Văn Công thượng trong Mạnh tử) mà tuyệt nhiên không nhắc gì tới thuyết (tề vật) của Trang tử, có phần quá khích hơn Hứa Hành nữa. Điều đó làm cho tôi hơi ngạc nhiên. Mạnh tử không biết thuyết của Trang tử chăng? Hay mà biết mà cho rằng nó vu khoát, không thuộc về chính trị luận mà thuộc về vũ trụ luận, chẳng làm hại ai, nên chẳng cần phải đả? Chú thích: 247[1]Nghĩa là ông Tử Kì ở thành ngoài phía nam (cũng nhƣ ngoại ô phía nam). Trong bộ Trang Tử này còn có những tên: Nam Bá Tử Kì, Đông Quách Tử Kì. Toàn là những nhân vật tƣởng tƣợng. Chúng ta nên để ý: Trong Liệt Tử cũng có một nhân vật là Nam Quách Tử. 248[2]Là một môn sinh của Tử Kì. 249[3]Có sách dịch là mƣời trƣợng. Thời đó mỗi thƣớc bằng khoảng một gang tay. Một trăm gang cũng là mƣời trƣợng. 250[4]Câu này Liou Kia hway dịch khác: anh có thấy âm nhạc của đất chỉ giảm lần lần không? 251[5]Theo Vƣơng Phu Chi thì những thanh âm đó là tiếng nói của loài ngƣời.

136 252[6]Từ đây trở lên, ý nghĩa thật khó hiểu, tôi châm chƣớc hai bản dịch của Hoàng Cẩm Hoành, và của L.K.h. 253[7]Hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, lỗ đại tiện và lỗ tiểu tiện. 254[8]Thƣờng gọi là ngũ tạng: tâm, can, tì, phế, thận. Nhƣng thận đƣợc coi là hai bộ phận, nên cũng gọi là lục tạng. 255[9]Ông vua khởi nghiệp nhà Hạ. Mới đầu làm bề tôi vua Thuấn, nhờ có tài đức, có công trị lụt, nên vua Thuấn truyền ngôi cho. 256[10]Câu cuối này cũng mỗi nhà hiểu một khác, tôi theo L.K.h. 257[11]Cả bài này này rất khó hiểu, mỗi bản giảng một khác. Tôi châm chƣớc L.K.h. Phi ý niệm đây phải là Đạo? 258[12] Thuyết ngựa trắng không phải ngựa của nhà nguỵ biện Công Tôn Long. Ông ta bảo ngựa là tên gọi hình, trắng là tên gọi sắc, sắc không phải là hình cho nên ngựa trắng không phải là ngựa. 259[13] Trang tử theo nhất nguyên luận: vạn vật đều do Đạo mà ra, nhƣ vậy thì đều có chung cái lí của con ngựa. 260[14] Nguyên văn: bất nhiên. Có bản dịch là không phải. 261[15] Trang tử muốn bảo ta phải thích ứng với sự thực nó phức tạp và thay đổi. Ví dụ: sống cũng là chết, chết cũng là sống. 262[16] Nguyên văn: đắc = đƣợc. Có sách dịch là tự đắc; có sách dịch là hiểu đạo lí. Tôi theo L.K.h. 263[17] Trang tử muốn nói: cứ theo bản năng, trực giác mà làm thì gần đúng Đạo, đừng lí luận. 264[18] Nguyên văn chỉ có tam, tứ (ba, bốn), chứ không nói rõ ba, bốn cái gì. Các bản dịch thƣờng thêm trái lật: chataigne hoặc thăng một đơn vị đo lƣờng cho dễ hiểu. 265[19] Lƣỡng hành [chữ Hán là 兩行 - Goldfish]: V.P.C. giảng là: hai mối đều dùng đƣợc, miễn là biết thích nghi. L.K.h. giảng là hai thái độ, tuỳ theo hoàn cảnh.

137 266[20] Có sách dịch là: mới đầu có vật nhƣng không phân biệt vật này vật khác. 267[21] Một ngƣời giỏi đàn cầm thời đó. 268[22] Một nhạc sĩ thời cổ. 269[23] Thực ra thuyết này của Công Tôn Long, phân biệt cứng và trắng: một phiến đá hoặc cứng hoặc trắng, không thể vừa cứng vừa trắng (Coi Đại cương triết học Trung Quốc). Công Tôn Long thuộc phái nguỵ biện. 270[24] Cả đoạn này (từ Nhƣ trƣờng hợp Chiêu Văn chơi đàn cầm ), D.N.L. dịch khác mà rất lúng túng; H.C.H và L.K.h. dịch giống nhau, tôi theo họ nhƣng thú thật hiểu lờ mờ lắm. 271[25] Theo L.K.h. câu này Trang tử muốn khuyên ta đừng đòi làm gƣơng mẫu bắt ngƣời khác theo, cứ tìm hiểu họ để cải thiện họ thôi. 272[26] Theo L.K.h. Trang tử muốn bảo phán đoán nào cũng thuộc về ngôn ngữ [vậy cùng loại với nhau] mà ngôn ngữ thì không diễn nổi cái thực sự là thực (le réel vraiment réel, trái với cái thực mà là giả). 273[27] Tức có cái gì tạo ra vũ trụ. 274[28] Đầu thu, các loài vật mọc những chiếc lông con, đầu rất nhỏ. 275[29] Một trong năm núi lớn ở miền Đông Trung Hoa. 276[30] Vì nếu nói về nó, thì phải dùng ngôn ngữ, nhƣ vậy thì có thêm một cái nữa, mà vũ trụ không còn là một nữa. 277[31] Vì nếu vũ trụ hợp nhất, đã là một thì nó đã ở trong khu vực ngôn ngữ rồi: vì tiếng một thuộc về ngôn ngữ. 278[32] Vì cứ thêm một, thêm một hoài tới vô cùng, suốt đời cũng không xong. 279[33] Vì nói về nó thì phải dùng ngôn ngữ, nhƣ vậy là có thêm một cái nữa, mà vũ trụ không còn là một nữa.

138 280[34]Theo bác Vvn: Đẳng là thứ bậc; Sai đẳng hay sái đẳng là không đúng thứ tự, không đúng thứ bậc; phản nghĩa với (có) thứ tự, (có) thứ bậc. [Goldfish]. 281[35] Phân biệt và biện luận; có sách dịch là chia nhỏ và chia nhỏ ra nữa. 282[36] Dùng lời nói để thắng ngƣời thì gọi là cạnh; dùng sức mạnh thì gọi là tranh. 283[37] Nghĩa là không biến thông. 284[38] Ba nƣớc nhỏ ở biên giới Trung Hoa thời đó. 285[39] Ý nói các vật có thể cùng vận hành mà không hại gì cho nhau. Vậy thì nếu vua Nghiêu có đức, sao lại cần phải diệt ba ông vua biên giới kia đi. 286[40] Hai nhân vật này đều là hiền nhân đời vua Nghiêu. Vƣơng Nghê là học trò của Niết Khuyết. 287[41] Nguyên văn: Tử tri tử chi sở bất tri da? Có sách dịch là: Anh có biết tại sao anh không biết không? 288[42] Đều là những mĩ nhân thời cổ. 289[43] Hai nhân vật này có lẽ chỉ do Trang tử tƣởng tƣợng. 290[44] Nguyên văn chỉ viết: phu tử (nghĩa là thầy. Vì đoạn dƣới có chữ Khâu, tên của Khổng tử, nên các sách đều dịch là Khổng tử. 291[45] Có sách dịch là không câu nệ hình tích của đạo.. 292[46]Một trong ngũ đế thời cổ. Ông này thƣờng đƣợc các triết gia thời đó coi là bậc đại trí. 293[47] Mình dịch là chim vọ. L.K.h. dịch là con cút. 294[48] Tức cái Đạo. 295[49] Có sách dịch là: mỗi ngƣời trong chúng ta đều có chỗ phải, chỗ trái. 296[50] Nghê, nghĩa là chỗ chia rẽ đầu mối của một sự; đây phải hiểu là chỗ phân biệt phải và trái, tức là tiêu chuẩn để định phải trái.

139 297[51] Nghĩa là chấp nhận cái gì mình cho là không phải, nói cách khác là nhận rằng ngƣời khác tuy không đồng ý với mình nhƣng cũng có li. 298[52] Câu này nhƣ ở đâu lạc vào đây. Phải chăng Trang tử muốn đƣa ra một thí dụ tỏ rằng có những sự kiện tựa nhƣ phải mà không phải. Nguyên văn: hoá thanh chi tƣơng đãi, nhƣợc kì bất tƣơng đãi. D.N.L. và H.C.H. đều không dịch. 299[53] Nguyên văn là võng lƣỡng, tức cái bóng mờ mờ ở chung quang cái bóng thực. Cũng gọi là bán ảnh : pénombre. [Bản của Nguyễn Duy Cần chép là 罔兩 Vọng lượng (cái bóng lu) Goldfish] 300[54] Những vẩy ở dƣới bụng để cho rắn bò đƣợc. 301[55] Nghĩa là hình tƣợng của vật biến đổi. D.N.L. giảng là: hai vật hoà hợp làm một. 302[56] Thuyết này ảnh hƣởng tới y lí (Trung Hoa) hay y lí đã có trƣớc nó, chúng ta chƣa biết đƣợc. Nhƣng hiển nhiên Trung y (ta gọi là Đông y) cho rằng một cơ quan, chẳng hạn nhƣ gan đau thì ảnh hƣởng tới tim, tì vị Và muốn bổ gan thì phải bổ thận, phổi Cho nên Trung y trị toàn thể con ngƣời chứ không chỉ trị riêng từng bộ phận một. 303[57] Tức Dƣơng Tử ( ) (BT). 304[58] Tức Mặc Tử ( ) (BT). Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương III PHÉP DƢỠNG SINH (Dƣỡng sinh chủ) 1 Đời ngƣời thì có hạn mà tri thức thì vô cùng. Đem cái có hạn mà đuổi cái vô cùng thì tinh thần sẽ

140 mệt mỏi; đã mệt mỏi mà không ngừng nữa thì sẽ chết mất. Làm điều thiện thì bị luỵ vì danh tiếng, làm điều ác thì chịu khổ vì hình phạt. Chỉ ngƣời nào giữ đƣợc đạo trung 305 [1] là bảo toàn đƣợc thân, mệnh, mà phụng dƣỡng đƣợc cha mẹ, sống đƣợc trọn tuổi trời. 2 Một tên bếp 306 [2] của vua Văn Huệ 307 [3] mổ bò, hai tay hắn nắm con vật, đƣa vai ra thúc nó, rồi hai chân bấm vào đất, hai đầu gối ghì chặt nó. Hắn đƣa lƣỡi dao cắt xoẹt xoẹt, phát những âm thanh có tiết tấu y nhƣ khúc tang lâm và bản nhạc kinh thủ 308 [4]. Vua Văn Huệ khen: - Giỏi! Nghệ thuật của nhà ngƣơi sao mà cao tới mức đó đƣợc? Hắn đặt lƣỡi dao xuống đáp: - Thần nhờ thích cái Đạo, nên nghệ thuật mới tiến đƣợc. Hồi mới học nghề mổ bò, thần chỉ thấy con bò thôi. Ba năm sau, thần không thấy con bò nữa. Lúc này thần dùng tinh thần hơn là dùng mắt. Cảm quan ngƣng lại, chỉ còn tâm thần là hoạt động. Thần biết cơ cấu thiên nhiên của con bò, chỉ lách lƣỡi dao vào những chỗ kẽ trong thân thể nó, không đụng tới kinh lạc, gân, bắp thịt 309 [5] của nó, huống hồ là tới những xƣơng lớn. Một ngƣời đồ tể giỏi một năm mới làm cùn một con dao, vì chỉ cắt thịt mà thôi. Một đồ tể tầm thƣờng cứ mỗi tháng là cùn một con dao vì phải chặt vào xƣơng. Con dao này đây, thần dùng đã mƣời chín năm rồi, đã mổ mấy nghìn con bò mà lƣỡi còn bén nhƣ mới mài. Khớp xƣơng nào cũng có kẽ, mà lƣỡi dao thì mỏng. Biết đƣa những lƣỡi thật mỏng ấy vào những kẽ ấy thì thấy dễ dàng nhƣ đƣa vào chỗ không. Vì vậy, dùng mƣời chín năm rồi mà lƣỡi dao của thần vẫn bén nhƣ mới mài. Mỗi khi gặp một khớp xƣơng, thần thấy khó khăn, thần nín thở 310 [6], nhìn cho kĩ, chầm chậm đƣa lƣỡi dao thật nhẹ tay, khớp xƣơng rời ra dễ dàng nhƣ bùn rơi xuống đất. Rồi thần cầm dao, ngửng lên, nhìn bốn bên, khoan khoái, chùi dao 311 [7], đút nó vào vỏ.

141 Vua Văn Huệ bảo: - Lời tên bếp đó thật hay, nghe rồi ta hiểu đƣợc phép dƣỡng sinh. 3 Công Văn Hiên thấy viên hữu sƣ 312 [8], ngạc nhiên hỏi (kẻ tả hữu): - Ai đó? Sao hắn chỉ có một chân? Do trời hay do ngƣời đấy? - Do trời chứ không phải do ngƣời. Trời sinh ông ấy có một chân còn những ngƣời khác thì có hai chân. Vì vậy mà biết là do trời chứ không phải do ngƣời 313 [9]. 4 Con trĩ trong chằm, cứ mƣời bƣớc lại mổ [một thức ăn], trăm bƣớc lại uống, không chịu bị nhốt để ngƣời ta nuôi, vì đƣợc nuôi, tuy không phải khó nhọc, nhƣng không thích 314 [10]. 5 Lão Đam chết, Tần Dật lại điếu khóc ba tiếng rồi ra. Một môn sinh của Lão Đam hỏi: - Ông phải là bạn của thầy tôi không? - Phải. - Điếu nhƣ vậy coi đƣợc sao? Tần Dật đáp:

142 - Đƣợc chứ. Mới đầu ta tƣởng những ngƣời khóc toàn là ngƣời thân cả, bây giờ thấy là không phải 315 [11]. Khi tôi vô điếu, thấy có những ngƣời già khóc ông nhƣ khóc con, có những ngƣời trẻ khóc ông nhƣ khóc cha 316 [12]. Ông ấy cƣ xử với ngƣời khác, chắc không cầu họ khen mà họ vẫn khen, không cầu họ khóc mà họ vẫn khóc, nhƣ vậy là họ trốn đạo trời, trái chân tình, quên cái bản chân của ông ấy; cổ nhân bảo thế là bị hình phạt của trời. Thầy anh sinh ra là ứng với thời, rồi chết đi là thuận lẽ trời. Vui với thời, thuận đạo trời, thì không bị vui buồn làm dao động trong lòng. Ngƣời xƣa bảo nhƣ vậy là đƣợc Trời giải phóng cho. 6 Hết thanh củi này tới thanh củi khác, nhƣng lửa vẫn lan tới vô cùng 317 [13]. NHẬN ĐỊNH Muốn được thảnh thơi (tiêu dao) sống trọn tuổi trời (chung kì thiên niên) thì phải biết phép dưỡng sinh, mà phép dưỡng sinh là thuận lẽ trời. Việc đời vô cùng phức tạp, nhưng cứ theo tự nhiên mà thích ứng với nó, điều khiển nó thì không mệt sức, không thương tổn tinh thần (bài 2). Sống chết, tai nạn là lẽ tự nhiên, là mệnh trời, đừng buồn vì những cái đó (bài 5 và có lẽ cả bài 3). Đừng trọng vật chất mà trọng tinh thần, phải giữ tinh thần tự do, thư thái như con trĩ trong bài 4. Sau cùng phải giữ đạo trung, đừng làm quá sức mình. Quả là một bài học khôn, chủ trương của Trang khác hẳn của Mạnh tử, nhất là của Mặc tử.

143 Chú thích: 318 [1] Nguyên văn là duyên đốc, theo cái mạch đốc. Ngƣời Trung Hoa cho rằng cơ thể ngƣời ta có bảy tĩnh mạch chạy từ trên xuống dƣới. Mạch đốc ở giữa sáu mạch kia, chạy từ cổ, theo sống lƣng xuống. Vì vậy theo mạch đốc có nghĩa là giữ đạo trung, không thiên lệch, không thái quá. 319 [2] Nguyên văn: bào đinh. Chữ đinh ở đây không phải là tên ngƣời, mà là một tiếng chỉ chung hạng dân tầm thƣờng. 320 [3] Các sách đều chú giải rằng vua Văn Huệ ở đây là Lƣơng Huệ vƣơng. 321 [4] Tang lâm và Kinh thủ là tên những bản vũ nhạc thời cổ. 322 [5] Theo L.K.h nghĩa là lách theo những chỗ bắp thịt dính vào xƣơng. Có sách giảng là gân và đốt xƣơng. 323 [6] Nguyên văn: truật nhiên nghĩa là sợ sệt, ngại ngùng, phải cẩn thận lắm. 324 [7] Nguyên văn: thiên đao. V.P.C. giảng nhƣ vậy. 325 [8] Một chức quan. 326 [9] Viên hữu sƣ ấy bị chặt chân vì có tội, nhƣng đó là do mệnh trời bắt phải vậy, cho nên bảo là do trời. 327 [10] Nguyên văn: thần tuy vƣơng, bất thiện dã. L.K.h. dịch là: Vì vậy nó không ham cái hạnh phúc của một ông vua (?). 328 [11] Trọn đoạn này mỗi sách giảng một khác, mà không có cách nào xuôi cả. Riêng câu này tôi theo D.N.L. H.C.H. dịch là: mới đầu tôi tƣởng ông ấy là bậc chí nhân (nhƣ thánh nhân), nay biết là không phải. L.K.h. dịch là: Lúc nãy tôi cho ông ấy còn sống, bây giờ ông ấy không còn nữa. Nguyên văn: Thuỷ dã ngô dĩ vi kì nhân dã, nhi kim phi dã. 329 [12] (khóc) cha: bác Vvn cho rằng cụ đã dịch thoát ý, đúng ra là (khóc) mẹ; nguyên văn cả câu: tiểu giả khốc chi, nhƣ khốc kỳ mẫu 少者哭之, 如哭其母. Hay là sách in nhầm (khóc) mẹ thành (khóc) cha chăng?

144 330 [13] Bài này mỗi ngƣời hiểu mỗi khác. D.N.L. cho củi trỏ hình thể, ngọn lửa trỏ tinh thần, hình thể mất mà tinh thần không. L.K.h. hiểu là: lửa [do gió] mà lan rộng ra thì không sao dập đƣợc. Tôi cho rằng lửa ở đây trỏ sự sống. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương IV THẾ GIAN (Nhân gian thế) 1 Nhan Hồi hỏi Trọng Ni [tức Khổng tử] - Anh tính đi đâu? - Con đi qua nƣớc Vệ. - Để làm gì? - Con nghe nói vua Vệ [Vệ Trang Công] đƣơng tuổi tráng niên, hành vi độc đoán, coi thƣờng việc nƣớc, không thấy lỗi của mình, coi thƣờng mạng dân, ngƣời chết đầy đất, nhiều nhƣ cỏ khô trong đồng cháy, dân không biết đi đâu. Con đã từng nghe thầy bảo: Nƣớc nào đã bình trị thì mình nên bỏ mà đi, nƣớc nào loạn thì mình nên tìm tới. Nhƣ một thầy lang thấy bệnh nhân là trị 331 [1]. Con theo lời dạy của thầy mà mong lại cứu nƣớc Vệ đƣợc phần nào chăng? Trọng Ni bảo: - Lại đó để mà bị giết à? Đạo thì không nên tạp, tạp thì hoá phiền toái, phiền toái thì gây hỗn loạn,

145 hỗn loạn thì gây lo lắng, mà không thể cứu đƣợc. Hạng chí nhân 332 [2] thời xƣa giữ vững đạo mình rồi sau mới giúp ngƣời khác. Đạo của anh chƣa đƣợc vững mà sao sửa đƣợc hành vi tàn bạo của ngƣời khác [tức vua Vệ]. Lại thêm, anh biết tại sao đức sở dĩ bại hoại, còn mƣu trí do đâu mà ra không? Đức bại hoại do hiếu danh, mƣu trí phát ra do thích tranh đua. Hiếu danh gây ra sự khuynh loát lẫn nhau, mƣu trí tạo ra những phƣơng tiện để tranh dành. Hai cái đó đều là những khí cụ bất tƣờng; không làm cho hành vi con ngƣời đƣợc tận thiện 333 [3]. Đức cao và lòng chân thành không đủ để thắng đƣợc tính khí của ngƣời; danh tốt và tinh thần hiếu hoà vị tất đã cảm đƣợc lòng ngƣời; nếu anh cố lấy những lời nhân nghĩa, phải đạo mà thuyết con ngƣời tàn bạo ấy, thì tức là lấy cái xấu của họ để làm nổi bật cái tốt đẹp của mình, nhƣ vậy là bừa ngƣời ta nhƣ bừa cỏ. Bừa ngƣời ta thì bị ngƣời ta bừa lại, thầy ngại rằng anh sẽ bị hãm hại mất. Giả sử vua Vệ yêu ngƣời hiền mà ghét ngƣời ác, thì cũng đâu đặc biệt cần tới anh [vì nƣớc Vệ có nhiều bậc hiền tài rồi]. Anh không can gián thì thôi, nếu can gián thì vua Vệ sẽ nhân kẽ hở của anh mà đả anh 334 [4] ; anh mà chịu thua thì mắt anh sẽ hoa lên, nét mặt anh sẽ dịu xuống, miệng anh sẽ tìm cách bào chữa, thái độ anh sẽ phục tòng, anh sẽ thuận theo ý ông ta. Nhƣ vậy không khác gì dùng lửa để diệt lửa, dùng nƣớc để ngăn nƣớc, chỉ tăng thêm tội ác của ông ta. Còn nếu nhƣ anh nhất định một lòng can gián, mà không đƣợc ông ta nghe thì nhất định sẽ bị ông giết. Xƣa, vua Kiệt giết [hiền thần là] Quan Long Phùng; vua Trụ giết [chú là] Vƣơng tử Tỉ Can 335 [5]. Những bậc đó ở địa vị thấp làm trái ý vua để bênh vực dân chúng, bị vua hãm hại chính vì hiền đức của họ. Ham danh thì hậu quả nhƣ vậy đó. Xƣa vua Nghiêu đánh các nƣớc Tùng Chi 336 [6] và Tƣ Ngao; vua Vũ đánh nƣớc Hữu Hổ. Ba nƣớc đó bị tàn phá, dân chúng bị diệt, vua bị giết, vì vua của họ dùng binh lực để cƣớp bóc các nƣớc láng giềng mà làm giàu. Vừa hiếu danh vừa tham lợi thì hậu quả nhƣ vậy đó. Anh không biết điều đó ƣ? Dẫu bậc thánh nhân cũng không khắc phục đƣợc lòng ham danh và lợi, huống hồ là anh. Nhƣng có lẽ anh đã có kế hoạch nào đó rồi, thử nói cho thầy nghe nào.

146 Nhan Hồi đáp: - Con sẽ rán cung kinh mà khiêm nhƣờng; cƣơng quyết mà chuyên nhất, nhƣ vậy đƣợc không? - Không đƣợc, vì vua Vệ tự mãn mà tính tình bất thƣờng; không ai dám làm trái ý ông ta; ông ta áp đảo thiện ý của ngƣời khác để làm theo ý mình. Con ngƣời đó, những thói tốt hằng ngày có thể sửa tính đƣợc, mà còn không chịu theo thì làm sao thực hành đƣợc đức lớn? 337 [7] Ông ta tất sẽ cố chấp, không chịu sửa đổi. Nếu ông ta bề ngoài tán đồng anh, mà trong lòng không phản tỉnh 338 [8], thì anh dùng phƣơng pháp đó có ích lợi gì? - Nếu vậy thì con dùng cách trong thẳng mà ngoài cong 339 [9] của cổ nhân. Kẻ nào trong thẳng là môn đệ của trời; môn đệ của trời thì cho vua với mình cũng là con của trời. Là con trời thì đâu cần ngƣời khác phê phán ngôn luận của mình là phải hay trái. Thuận với tự nhiên nhƣ vậy thì giữ đƣợc thiên chân nhƣ đứa bé, nên ngƣời ta gọi là em bé, mà em bé là môn đệ của trời. Kẻ nào ngoài cong là môn đệ của ngƣời. Hai tay chấp lại, cầm cái hốt, quì xuống, cúi đầu, đó là bầy tôi giữ lễ với vua. Mọi ngƣời giữ lễ đó, làm sao con dám không giữ? Làm nhƣ mọi ngƣời thì không ai trách mình. Nhƣ vậy là môn đệ của ngƣời. Kẻ nào hành động nhƣ cổ nhân thì là môn đệ của cổ nhân; kẻ đó chỉ lập lại những lời của cổ nhân can ngăn vua, nhƣng đó là lời của cổ nhân chứ không phải lời của chính mình; cho nên dù có cƣơng trực thì cũng không có tội vì chỉ là theo cổ nhân thôi mà. Con tính làm nhƣ vậy, thầy nghĩ có nên không? Trọng Ni đáp: - Không. Biện pháp của anh nhiều quá mà không thông đạt. Anh chỉ tính làm sao cho khỏi bị tội, nhƣ vậy cảm hoá nhà vua sao đƣợc?

147 - Con hết cách rồi. Xin thầy chỉ cho con có biện pháp nào nữa không? - Anh trai giới đi rồi thầy sẽ chỉ cho. Làm theo thành kiến mà dễ thành công là trái với lẽ trời. 340 [10] - Nhà con nghèo, đã mấy tháng nay con không uống rƣợu, không ăn thịt, nhƣ vậy có thể gọi là trai giới đƣợc không? Trọng Ni bảo: - Đó là trai giới để tế lễ, không phải là trai giới của tâm (tâm trai). - Thƣa thầy, thế nào là trai giới của tâm? - Anh tập trung tinh thần, không nghe bằng tai mà nghe bằng tâm, không nghe bằng tâm mà nghe bằng cái khí. Tai chỉ nghe đƣợc thanh âm, tâm chỉ lãnh hội đƣợc hiện tƣợng, khí vốn hƣ cho nên dung nạp đƣợc vạn vật. Đạo ở chỗ hƣ không, cho nên bảo hƣ không là trai giới của tâm. - Con khi chƣa biết đƣợc sự trai giới của tâm thì chỉ cảm thấy có mình thôi, khi đã biết rồi thì không thấy có mình nữa 341 [11]. Nhƣ vậy có phải là hƣ không không? - Phải, sự kì diệu của chỗ trai giới của tâm là nhƣ vậy đó. Thầy bảo anh này: anh có vô nƣớc Vệ thì đừng nên động tâm vì danh lợi 342 [12]. Vua Vệ có nghe lời anh thì anh hãy nói, không nghe thì anh đừng nói. Đừng cho họ thấy kẽ hở của mình, công kích đƣợc mình, cứ hƣ tâm mà đợi khi nào không thể không nói đƣợc hãy nói, nhƣ vậy là gần đạt đƣợc Đạo. - Đi mà không chạm đất là điều khó hơn không để lại một vết chân nào trên đất 343 [13]. Giúp việc cho ngƣời thì dễ gian dối, giúp việc cho trời thì khó gian dối 344 [14]. Thầy nghe nói có cánh thì bay đƣợc, chƣa hề nghe nói không cánh mà bay đƣợc; nghe nói dùng trí tuệ thì đạt đƣợc tri thức,

148 không nghe nói không dùng trí tuệ mà đạt đƣợc tri thức 345 [15]. Từ cái hƣ không của tâm thần mà phát ra ánh sáng; cái phúc ở cả trong sự hƣ tĩnh của tâm thần. Tâm thần không hƣ tĩnh thì gọi là ngồi mà dong ruổi (toạ trì: thân thể ngồi yên mà tâm thần thì lang thang). Ngƣời nào có thể khiến cho tai, mắt thành những cảm quan hƣớng nội mà thông suốt, mà không dùng tâm trí, thì dù quỉ thần cũng phải qui phục, huống hồ là ngƣời? Đó là phép thích ứng với mọi biến hoá của vạn vật, cái nút, cái chốt của sự sáng suốt của ông Vũ, ông Thuấn, cái qui tắc xử sự xuất đời của Phục Hi, Kỉ Cừ 346 [16] huống hồ là bọn ngƣời thƣờng. 2 Viên đại phu nƣớc Sở họ Diệp [tên Chƣ Lƣơng], hiệu là Tử Cao, sắp phải đi sứ nƣớc Tề, lại hỏi Trọng Ni: - Vua Sở phó thác cho tôi một sứ mệnh quan trọng. Vua Tề đối với các sứ thần các nƣớc ngoài thƣờng tỏ ra rất cung kính, nhƣng rốt cuộc chẳng chịu giúp gì cả. Thuyết phục một ngƣời thƣờng đã là khó rồi, huống là một ông vua chƣ hầu. Tôi ngại quá. Thầy tƣớng bảo Chƣ Lƣơng tôi rằng: Việc bất luận là lớn nhỏ, ít có việc nào không gây tai hại 347 [17]. Nếu không thành công, thì nhất định là chịu sự trừng phạt của ngƣời trên; nếu thành công thì chịu cái hoạ của âm dƣơng [nghĩa là phải lo lắng, lao tổn tinh thần], bất luận là thành công hay không thành công mà không gây tai hại, thì chỉ bậc hiền đức mới đƣợc vậy. Tôi bình thƣờng ăn uống đạm bạc, không cầu món ngon, không cần phải giải nhiệt [vì không ăn những đồ bổ mà sinh nóng]. Vậy mà sáng đƣợc vua giao cho sứ mệnh thì buổi chiều tôi phải uống nƣớc đá [nƣớc đóng băng] vì lo lắng mà hoá ra nóng trong mình. Chƣa thi hành sứ mệnh mà âm dƣơng bất hoà nhƣ vậy, nếu sứ mệnh mà thất bại thì bị thêm hình phạt của vua nữa. Làm sao chịu nổi hai nỗi ƣu hoạn đó? Làm sao trọn đƣợc đạo bề tôi bây giờ? Thầy có điều gì khuyên tôi không? Trọng Ni đáp: - Trên đời có hai luật chính là mệnh trời và bổn phận. Con yêu cha mẹ, đó là mệnh trời vì đó là thiên

149 tính cố kết trong lòng đứa con. Bề tôi thờ vua, đó là bổn phận; bất luận thời nào, ở đâu, cũng bị sự thống trị của vua 348 [18] không sao tránh khỏi đƣợc, cho nên đó là một luật lớn. Con thờ cha mẹ thì phải thích ứng với mọi hoàn cảnh, nhƣ vậy là chí hiếu; bề tôi thờ vua phải chấp nhận mọi sự nguy hiểm, nhƣ vậy là tận trung. Ngƣời nào làm việc hết lòng thì vui hay buồn cũng không đổi lòng. Biết rằng sự thể không thay đổi đƣợc mà an mệnh chấp nhận nó, nhƣ vậy là chí đức [có đức tuyệt cao]. Phận làm tôi, con, thế nào cũng có những điều không đƣợc nhƣ ý, phải miễn cƣỡng làm tròn bổn phận mà quên mình đi, nhƣ vậy đâu còn tham sống sợ chết nữa? Ông cứ làm sứ mệnh đƣợc giao phó đi. Tôi đã đƣợc nghe điều này, xin kể lại: trong việc giao tế với nhau, nếu ở gần nhau thì do tiếp xúc hàng ngày mà tin nhau; nếu ở xa nhau thì chỉ căn cứ vào những lời trung thực của nhau. Những lời này do một ngƣời thứ ba truyền đạt. Truyền đạt những lời vui vẻ hoặc giận dữ của hai bên, là một công việc cực khó. Vì hai bên muốn làm vui lòng nhau thì họ tâng bốc nhau lên; nếu giận nhau thì họ không tiếc lời trách móc nhau. Cái gì quá mức tất không đúng sự thực, không làm cho ngƣời ta tin đƣợc. Ngƣời nào truyền đạt những lời gây lòng nghi ngờ thì tất gặp tai hoạ. Cho nên cách ngôn có câu: Truyền những lời bình thƣờng thôi, đừng truyền những lời quá lố, nhƣ vậy may ra bảo toàn đƣợc thân. Nhƣ ngƣời đấu võ, mới đầu nghiêm chỉnh lắm, rồi sau mới dùng ngón ngầm, rốt cuộc sẽ dùng cả trăm quỉ kế để hạ đối phƣơng. Ngƣời uống rƣợu mới đầu lễ độ rồi sau say sƣa, hỗn loạn, hoá ra phóng đãng. Mọi việc đều nhƣ vậy: mới đầu nhã nhặn, rồi sau thô tục, mới đầu là chuyện nhỏ, sau thành đại hoạ. Lời nói nhƣ sóng gió, mà việc truyền đạt thì có đắc có thất (lỡ lời). Sóng gió dễ nổi lên, sự đắc thất cũng bất thƣờng (nhƣ sóng gió) dễ sinh ra nguy hiểm. Sở dĩ ngƣời ta nổi giận vì những lời nói quá của ngƣời kia. Con thú bị dồn vào đƣờng cùng, sắp chết, nổi giận hoá ra hung dữ với ngƣời thợ săn; kẻ dƣới bị ngƣời trên đối xử hà khắc quá thì cũng bất giác nảy ra ý hãm hại ngƣời trên. Những ý nghĩ bất giác nhƣ vậy rồi sẽ đƣa tới đâu? Cho nên cách ngôn có câu: Đừng sửa đổi mệnh lệnh của vua. Đừng miễn cƣỡng làm quá để thành công. Cái gì vƣợt quá mức tức là quá độ 349 [19]. Sửa đổi mệnh lệnh, miễn cƣỡng làm quá thì sẽ hỏng việc. Cho nên giải pháp tốt nhất là phải thủng thẳng. Việc hỏng rồi khó sửa lại đƣợc. Vậy chẳng nên thận trọng ƣ?

150 Nên vƣợt ra ngoài sự vật mà tiêu dao tự tại, thuận theo lẽ tất nhiên để dƣỡng tâm, đó là đạt đƣợc Đạo. Ông không cần thêm ý kiến của ông, cứ làm theo lệnh của vua. Đó là một việc khó đấy 350 [20]. 3 Nhan Hạp (một ngƣời hiền nƣớc Lỗ) đƣợc vời làm sƣ phó cho thái tử của Vệ Linh Công, lại thỉnh giáo Cừ Bá Ngọc, bảo: - Có một ngƣời bản tính tàn bạo, hiếu sát, để cho nó làm theo ý nó thì tất hại cho nƣớc tôi. Nếu ngăn cản nó thì nguy hiểm cho tính mạng tôi. Trí tuệ của nó chỉ đủ để thấy ngƣời khác lầm lỗi mà không hiểu tại sao họ lầm lỗi 351 [21]. Đối với kẻ đó tôi phải làm sao bây giờ? Cừ Bá Ngọc đáp: - Câu hỏi của ông hay lắm. Ông nên cẩn thận, giữ gìn đừng lầm lỗi. Ngoài mặt nên nhã nhặn, thân mật, trong lòng nên hoà thuận. Nhƣ vậy vẫn có thể có tai hoạ đƣợc. Nhã nhặn, thân mật nhƣng đừng nhu nhƣợc [dung túng kẻ đó phạm tội]; lòng hoà thuận nhƣng đừng phô trƣơng. Ai nhã nhặn, thân mật tới nhu nhƣợc, bị (kẻ ác) đồng hoá thì sẽ sa đoạ. Ai khoa trƣơng sự hoà thuận là muốn cầu danh, mƣu mô hại ngƣời 352 [22]. Học trò ông còn là một đứa con nít thì ông cũng làm ra vẻ con nít nhƣ nó; nó hành động không có phép tắc, ông cũng làm bộ không giữ phép tắc với nó; nó phóng đãng, ông cũng làm bộ phóng đãng với nó; nhƣ vậy ông lần lần sửa đổi đƣợc nó. Ông có thấy con bọ ngựa đƣa càng lên định ngăn chiếc xe không? Nó không thấy việc đó không thể làm đƣợc vì nó quá tự cao tự đại. Ông phải coi chừng đấy. Phải thận trọng. Nếu ông khoe tài ông mà xúc phạm học trò ông thì ông gần nhƣ con bọ ngựa đó. Ông có biết ngƣời ta nuôi cọp ra sao không? Ngƣời ta không dám cho nó ăn một con vật còn sống hoặc ăn trọn một con vật chết, sợ nhƣ vậy sẽ kích thích bản tính hung dữ hiếu sát của nó.

151 Phải cho nó ăn đúng giờ, tuỳ theo nó vui vẻ hay hung dữ mà thuần phục nó. Hổ không cùng một loài với ngƣời, nhƣng biết thuận theo tính tình nó thì nó cũng tỏ vẻ làm vui lòng ngƣời nuôi nó. Nó vồ ngƣời nuôi nó chỉ vì ngƣời này làm trái tính nó. Một ngƣời yêu ngựa tới nỗi dùng sọt hứng phân nó, dùng vỏ sò lớn hứng nƣớc tiểu nó. Một hôm muỗi bu trên mình ngựa, ngƣời đó vô ý đập muỗi mạnh quá, ngựa kinh hoảng, cắn bể hàm thiếc, rồi làm nát đầu và ngực ngƣời nuôi. Bản ý ngƣời đó tốt mà bị hại nhƣ thế đấy. Vậy ông chẳng nên thận trọng ƣ? 4 Một ngƣời thợ mộc tên Thạch, qua nƣớc Tề, tới một chỗ tên là Khúc Viên, thấy trên nền xã (nơi tế thổ thần) có một cây lịch. Tàn lá nó che đƣợc cả ngàn con bò, vòng thân nó tới cả trăm vi 353 [23] ; nó cao nhƣ núi, lên khỏi mặt đất tám trƣợng rồi mới đâm cành. Có tới một chục cành lớn có thể khoét làm thuyền đƣợc. Ngƣời ta ùn ùn kéo nhau tới coi, nhƣng ngƣời thợ cả không thèm ngó, cứ tiếp tục đi. Ngƣời học trò tập nghề nhìn cây ấy một hồi lâu lại nói với thầy: Từ khi con theo thầy học nghề, chƣa bao giờ con thấy khúc gỗ lớn nhƣ vậy. Tại sao thầy không ngừng lại coi? Ngƣời thợ cả bảo: - Thôi, đừng nói nữa. Cây đó vô dụng. Dùng để đóng thuyền thì thuyền chìm; để đóng quan tài thì quan tài mau nát; để làm cánh cửa thì cánh cửa thấm nƣớc; để làm đồ dùng thì đồ dùng mau hƣ; để làm cột nhà thì cột nhà mau bị mối, mọt. Không dùng đƣợc việc gì cả. Chính vì nó vô dụng nên mới thọ đƣợc nhƣ vậy. Sau khi về nhà, ngƣời thợ cả nằm mê thấy cây của thổ thần đó hiện lên bảo: Tại sao chú cứ so sánh nhƣ vậy? Chú muốn ta giống với những cây hữu dụng ƣ? Khi cây tra 354 [24], cây lê, cây quất, cây bƣởi có trái chín thì chúng bị tàn phá, cành lớn bị bẻ gẫy, cành nhỏ bị vặt trụi. Vì chúng hữu dụng nên khốn khổ suốt đời và chết sớm. Thế là tự chúng gây sự tàn phá cho chúng. Những vật nào hữu dụng cũng đều nhƣ vậy cả. Đã từ lâu ta cầu đƣợc vô dụng, mấy lần suýt chết, nay mới đƣợc nhƣ sở

152 nguyện đấy. Sự vô dụng đó rất hữu ích đối với ta. Nếu ta dùng đƣợc vào việc gì thì làm sao sống lâu mà to lớn đƣợc nhƣ vầy? Chú và ta đều là sinh vật cả. Một sinh vật làm sao phán đoán đƣợc một sinh vật khác? 355 [25] Một ngƣời vô dụng sắp chết nhƣ chú làm sao biết đƣợc thế nào là một cây vô dụng? Ngƣời thợ cả tỉnh dậy, kể lại giấc mộng cho học trò nghe. Ngƣời này hỏi: - Cây đó đã cầu đƣợc vô dụng, thế thì tại sao lại làm cây tƣợng trƣng thổ thần? Ngƣời thợ cả đáp: - Im đi, đừng nói nữa. Nó tạm dựa vào thổ thần nhƣ vậy để những kẻ không hiểu nó khỏi chê nó là vô dụng. Nếu nó không tƣợng trƣng cho thổ thần thì bị ngƣời ta đốn rồi còn gì? Cách tự bảo toàn của nó thật khác thiên hạ; lấy thƣờng tình mà chê trách nó, chẳng là sai lầm quá ƣ? 5 Nam Bá Tử Kì tới đồi Thƣơng, thấy một cây lớn lạ lùng, tàn nó có thể che cả ngàn cỗ xe bốn ngựa. Ông ta tự hỏi: - Cây này là cây gì? Nó dùng đƣợc vào việc gì không? Từ dƣới nhìn lên, những cành nhỏ cong queo của nó không thể xẻ thành cái đòn, cái rƣờng nhà đƣợc. Ngó xuống, cái thân to lớn nứt nẻ, đầy mắt của nó không làm quan tài đƣợc. Liếm lá của nó thì miệng sẽ loét lỡ. Nó hôi thúi, chỉ ngửi thôi cũng hoá điên, mê sảng suốt ba ngày. Rồi Tử Kì tự kết luận: - Cây đó thật vô dụng cho nên mới lớn đƣợc nhƣ vậy. Bậc thần nhân cũng cầu đƣợc bất tài nhƣ cây đó. 6

153 Nƣớc Tống, ở một nơi tên là Kinh Thị, mọc nhiều cây thu, cây bách, cây dâu. Những cây mà thân vừa một chét tay, thì bị đốn làm cọc cho khỉ. Những cây vừa một ôm thì dùng làm rƣờng cột cho những nhà lớn. To hơn nữa thì khoét làm quan tài cho những thƣơng gia giàu có và các nhà sang trọng. Vì vậy mà những cây đó bị búa rìu đốn, không hƣởng hết tuổi thọ. Vì chúng hữu dụng nên mới bị hoạ. Thời xƣa, bọn thầy pháp không dùng con bò trán trắng, con heo mõm cong, và đàn ông bị bệnh trĩ liệng xuống sông để tế thần, vì cho nhƣ vậy là bất tƣờng. Nhƣng chính thần nhân thì lại cho vậy là đại cát. 7 Xƣa có một ngƣời hình thù kì quái: cằm thòng xuống tới dƣới bụng, vai nhô lên khỏi đỉnh đầu, xƣơng sống đƣa lên trời; ngũ tạng [tức tâm, can, tì, phế, thận] nằm lộn ngƣợc lên phía trên [trong ngực], hai đùi đƣa lên tới ngang sƣờn. Hắn may vá, giặt dịa cho ngƣời khác, đủ ăn. Hắn vét hột trong các thùng lúa đủ nuôi mƣời ngƣời 356 [26]. Khi có lệnh trƣng binh, hắn khoanh tay mà đi thong dong trong đám đông. Khi có lệnh bắt xâu, hắn đƣợc miễn vì tàn tật. Khi nhà nƣớc cứu giúp các ngƣời tàn tật thì hắn đƣợc ba chung 357 [27] lúa và mƣời bó củi. Một kẻ hình thù kì quái mà tự túc đƣợc và hƣởng hết tuổi thọ của trời, huống hồ là ngƣời làm bộ có đức tính kì quái. 8 Khổng tử qua nƣớc Sở. Một ngƣời cuồng nƣớc Sở là Tiếp Dƣ 358 [28] tới trƣớc nhà Khổng tử, hát: Con phượng kia, con phượng kia, Sao mà đức suy như vậy? Không thể biết trước 359 [29] được tương lai, Không thể trở lui được về dĩ vãng. Khi thiên hạ thịnh trị

154 Thì thánh nhân thực hiện sứ mệnh mình. Khi thiên hạ loạn lạc Thì thánh nhân bảo toàn thân mình. Như thời này thì chỉ cầu đừng bị hình phạt. Hạnh phúc nhẹ hơn cái lông Mà không biết ai biết nhận lấy nó. Tai hoạ nặng hơn trái đất Mà không ai biết tránh nó. Thôi đi, thôi đi! Đừng mong lấy đức cảm hoá người. Nguy thay, nguy thay! Đừng tự làm khổ mình nữa 360 [30]. Gai góc, gai góc! Đừng ngăn bước đường của ta 361 [31]. Đi vòng, đi vòng quanh, đừng để gai đâm vào chân. 9 Cây trên núi tự rƣớc lấy búa rìu vào thân; mỡ tự dẫn lửa nên phải cháy; cây quế ăn đƣợc nên bị lột vỏ, cây sơn nhựa dùng đƣợc nên bị rạch vỏ. Ai cũng biết chỗ dùng đƣợc của vật hữu dụng, mà không biết chỗ dùng đƣợc của cái vô dụng. NHẬN ĐỊNH Vương Tiên Khiêm tóm tắt ý nghĩa chương này như sau: Nhan đề Nhân gian thế có nghĩa là dương thế [tức xã hội thời đại Trang tử]. Thiên này 362 [32] bảo: Phục vụ một ông vua bạo ngược, sống trong cái xã hội loạn lạc, ô uế, giao thiệp với người khác, tiếp xúc với sự vật, đừng nên cầu có tiếng tăm mà nên ẩn danh, che giấu bớt đức hạnh của mình đi, như vậy mới bảo toàn được tính mạng và đạo của mình. Cuối thiên, Trang tử mượn lời của Tiếp Dư: Không thể biết trước được tương lai, Không thể hối tiếc được về dĩ vãng. để bày tỏ lòng mình

155 Bài 1 chỉ cho ta phép can gián: phải hư tâm, đừng tranh thắng, khi nào không thể không nói được thì hãy nói. Bài 2 chỉ cách đi sứ, nói rộng ra là cách giao tế: chỉ truyền lại những lời bình thường của người khác thôi, bỏ đi những lời quá lố, làm đúng việc người ta giao phó cho, nhưng đừng mong thành công mà làm quá, như vậy thì may ra bảo toàn được thân. Bài 3 chỉ cách dạy người: phải thuận theo thiên tính của họ, như nuôi cọp thì phải để ý tới tính hiếu sát của nó mà đừng xúc phạm nó. Từ bài 4 trở đi trừ bài 8, bài người cuồng nước Sở khuyên Khổng tử - bài nào cũng diễn ý này: muốn bảo toàn được thân thì che giấu tài đức của mình đi, kẻ vô dụng, tàn tật lại là kẻ sống yên ổn nhất. Tóm tắt cả chương chỉ dạy ta cách bảo toàn được thân trong thời loạn. Thâm thuý nhất là câu cuối của chương: Nhân giai tri hữu dụng chi dụng, nhi mạc tri vô dụng chi dụng dã 363 [33]. Về sự chân nguỵ trong chương này, xin coi phần I, chương II Nên so sánh chương Nhân gian thế này với chương Sơn mộc, phần III. Chú thích: 364 [1] Dịch sát là: cửa nhà thầy lang thì có nhiều bệnh nhân. 365 [2] Tức hạng đạt Đạo, đức rất cao.

156 366 [3] Nguyên văn: phi sở dĩ tận hành dã Có sách dịch là không làm tiêu chuẩn cho phép xử thế đƣợc. 367 [4] L.K.h dịch là: nếu anh không có gì để can gián thì vua Vệ sẽ thấy anh làm thinh mà tỏ rằng ông ta thắng anh. 368 [5] Tỉ Can là chú ruột của vua Trụ, cũng là con vua, nên gọi là Vƣơng tử. 369 [6] Bài II.9 chép là Tông, Khoái (2 nƣớc). 370 [7] H.C.H. dịch là: sao có thể dùng đức lớn mà cảm hoá ông ta đƣợc? 371 [8] L.K.h. dịch là: nếu bề ngoài anh cúi đầu trƣớc mặt ông ta mà trong lòng không chỉ trích ông ta thì có ảnh hƣởng gì tới ông ta đƣợc. 372 [9] Nội trực, ngoại khúc nghĩa là bề ngoài chiều đời, nhƣng trong lòng vẫn giữ chủ trƣơng của mình. 373 [10] Câu này mội sách giảng một khác. L.K.h. dịch là: kẻ nào có thành kiến thì chẳng thấy công việc của mình dễ dàng ƣ? Trời rực rỡ không hợp với kẻ đó (!) 374 [11] L.K.h. dịch khác: Con chƣa đạt đƣợc cảnh giới hƣ không ấy nên con vẫn còn là Nhan Hồi. Nếu con đạt đƣợc thì con sẽ không còn là Nhan Hồi nữa. 375 [12] L.K.h. dịch là: Nếu anh gặp đƣợc vua Vệ thì đừng động tâm vì địa vị của ông ta. 376 [13] D.N.L. và H.C.H đề dịch: không đi trên đƣờng là điều dễ, đi mà không để một vết chân trên đất là điều khó. Nguyên văn: tuyệt tích dị, vô hành địa nan. 377 [14] H.C.H. dịch là: Làm việc ngƣời thì dễ, vô tâm mà thuận theo tự nhiên là khó. D.N.L.: Ở đời mà có thành kiến thì dễ làm bậy, không có thành kiến thì khó làm bậy. 378 [15] Nguyên văn: Văn dĩ hữu trí trí giả hĩ. Chữ trí (trí tuệ) ở đây có lẽ nên hiểu là trực giác. Khi mình đã hƣ tâm đƣợc rồi. 379 [16] Đời thƣợng cổ Trung Hoa không có ông vua nào tên là Kỉ Cừ, cho nên Văn Nhất Đa, một thi sĩ kiêm học giả hiện đại, cho hai chữ Kỉ Cừ là Nhân Toại, mà Nhân Toại là Toại Nhân (ngƣời đầu

157 tiên dạy cho dân tộc Trung Hoa dùng lửa) viết ngƣợc. 380 [17] Nguyên văn: quả bất đạo, dĩ hoan thành. Mỗi sách giảng một khác. L.K.h.: nếu không theo đạo mà thành công thì rất ít việc, không sinh ra ân hận sau này. Lại có sách chú giải: rất ít việc không làm đúng theo đạo mà rồi vui vẻ thành toại đƣợc. Chỉ vì chữ hoan đọc là hoan thì có nghĩa là vui vẻ, mà đọc là quan thì có nghĩa là lo lắng. 381 [18] L.K.h. dịch là: kẻ bề tôi ở đâu cũng không quên vua đƣợc. 382 [19] Nguyên văn: quá độ dật dã. Có sách bảo chép lộn, phải đọc là: quá độ ích dã, và có nghĩa là: Quá độ là làm tăng mệnh lệnh của vua. 383 [20] Đoạn này thực tối nghĩa. Mỗi sách giảng mỗi khác. 384 [21] Nguyên văn: bất tri kì sở dĩ quá. D.N.L. và H.C.H đều dịch là: không thấy lỗi của chính mình. 385 [22] Có bản dịch là: khiến cho ngƣời ta tranh danh dự với mình, mà mƣu mô làm hại mình. Nguyên văn: vi thanh vi danh, vi yêu vi nghiệt. 386 [23] Một vi là mƣời trƣợng, nhƣ vậy là ngàn thƣớc, tức x 0,2m: 200 mét ngày nay! 387 [24] Một loại nhƣ cây lê. 388 [25] Nguyên văn: nại hà tai? Có sách dịch là: Sao chú lại muốn dùng ta? 389 [26] D.N.L. và H.C.H. đều dịch là làm nghề bói và đoán số mệnh mà nuôi đƣợc mƣời ngƣời. 390 [27] Chung là một đơn vị bằng 6 hộc 4 đấu (mỗi hộc là 10 đấu) 391 [28] Tiếp Dƣ: coi bài 3 chƣơng I. 392 [29] Có sách dịch: đợi đƣợc, hoặc trông cậy đƣợc. 393 [30] Dịch cho sát là: vẽ một vòng tròn trên đất rồi nhảy vào đó mà đứng. L.K.h. dịch là: lựa một nƣớc để phụng sự. 394 [31] Nguyên văn: vô thương ngô hành. Có sách chú giải chữ hành đó là đầu hay gót chân.

158 395 [32] Tức chƣơng này. 396 [33] Chữ Hán: 人皆知有用之用, 而莫知无用之用也. Chữ giai 皆 có nghĩa là đều, cùng; trong s ách in là dai [Goldfish] Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương V ĐỨC SUNG MÃN VÀ TỰ NHIÊN (Đức sung phù) 1 Tại nƣớc Lỗ có ngƣời cụt chân tên là Vƣơng Đài. Số đệ tử theo học cũng ngang với Trọng Ni. Thƣờng Quí hỏi Trọng Ni: - Vƣơng Đài cụt mất một chân, vậy mà ở nƣớc Lỗ bọn đệ tử đông nhƣ môn đệ của ông. Khi đứng, hắn không giảng dạy gì cả, khi ngồi hắn cũng không nghị luận gì cả, mà đệ tử khi tới học không biết gì cả, khi thôi học thì trí, đức sung mãn. Vậy là có một cách dạy mà không nói, mặc nhiên mà cảm hoá đƣợc chăng? Con ngƣời đó ra sao? Trọng Ni đáp: - Ông ấy là thánh nhân. Khâu tôi chƣa kịp lại thăm. Tôi muốn nhận ông ấy làm thầy, huống hồ là những ngƣời còn kém tôi. Mà nào phải riêng nƣớc Lỗ mà thôi, tôi còn muốn dắt cả thiên hạ lại học ông ấy nữa kia. - Con ngƣời cụt chân ấy mà hơn ông thì chắc hơn các ngƣời thƣờng nhiều lắm. Đời sống nội tâm của

159 ông ấy ra sao? 397 [1] Trọng Ni đáp: - Sống, chết là việc lớn, mà ông ấy coi thƣờng; trời đất có sập, ông ấy cũng không bị huỷ diệt; ông ấy xét kĩ cái chân thực 398 [2], không bị cái giả làm mê hoặc; ông ấy biết rằng vạn vật đều biến hoá, nên giữ cái căn bản chân chính 399 [3]. - Nhƣ vậy là nghĩa làm sao? - Xét chỗ dị biệt 400 [4] của vạn vật thì lá gan và trái mật khác nhau cũng nhƣ nƣớc Sở và nƣớc Việt; xét chỗ giống nhau thì vạn vật chỉ là một. Biết đƣợc cái lẽ ấy thì không để ý đến sự nhận thức của tai mắt nữa, mà tâm linh ngao du ở chỗ hài hoà của vũ trụ. Đã thấy vạn vật là một thì không thấy có cái gì mất nữa. Cho nên Vƣơng Đài cho mình mất một chân cũng nhƣ mất một cục đất vậy thôi. Thƣờng Quí hỏi: - Ông ấy sở dĩ tự tu dƣỡng đƣợc là nhờ trí năng mà biết đƣợc cái tâm của ổng, rồi do cái tâm đó mà hiểu đƣợc cái tâm bất biến của mọi thời, nhƣ vậy thì có gì mà thiên hạ qui phụ ông ấy? - Ngƣời ta không soi bóng vào một dòng nƣớc chảy mà vào một dòng nƣớc đứng. Vậy thì chỉ cái gì ngƣng lặng mới làm cho ngƣời khác ngƣng lặng đƣợc. Những vật thụ mệnh ở đất [do đất sinh ra], chỉ có loài tùng, loài bách là giữ đƣợc chính khí, nên mùa đông cũng xanh nhƣ mùa hè. Những ngƣời thụ mệnh ở trời, duy chỉ có Nghiêu, Thuấn là giữ đƣợc chính khí, nên đứng đầu vạn vật: hai ông ấy sửa mình cho ngay đƣợc, nên sửa đƣợc những ngƣời khác cho ngay. Thấy ngƣời nào không sợ là biết ngƣời đó bảo toàn đƣợc chính khí; nhƣ một võ sĩ một mình dám đột nhập vào chỗ thiên quân vạn mã. Võ sĩ đó muốn cầu danh, lập công mà còn nhƣ vậy, huống hồ một ngƣời muốn làm chủ vũ trụ, bao gồm vạn vật, coi thân thể mình nhƣ chỗ cƣ ngụ tạm, coi thanh sắc là ảo tƣởng, dùng trí lực mà thấy đƣợc mọi hiện tƣợng là thuần nhất 401 [5], còn lòng thì không thấy có sinh, tử 402 [6]? Ngƣời

160 đó sẽ lựa ngày lên trời, cho nên mọi ngƣời tự nhiên qui phụ, chứ ngƣời đó đâu có quan tâm tới họ. 2 Thân Đồ Gia cụt một chân, cùng với Tƣ Sản nƣớc Trịnh 403 [7] theo học Bá Hôn Vô Nhân. Tử Sản bảo với Thân Đồ Gia: - Nếu tôi ra trƣớc thì anh ở lại một chút rồi sẽ ra sau; nếu anh ra trƣớc thì tôi ở lại rồi ra sau. Hôm sau, hai ngƣời cùng ngồi một phòng, chung một chiếu. Tử Sản bảo Thân Đồ Gia: - Chúng mình đã hẹn với nhau ai ra trƣớc thì ngƣời kia ở lại. Bây giờ tôi muốn ra trƣớc, anh ở lại đây một chút đƣợc không? Anh thấy tôi là một vị đại thần cầm quyền mà anh không tránh tôi, bộ anh ngang hàng với viên đại thần cầm quyền ƣ? Thân Đồ Gia đáp: - Ở trong nhà thầy mà có đại thần cầm quyền nữa ƣ? Anh tự khoe nhƣ vậy thì chỉ tỏ rằng anh kém ngƣời khác thôi 404 [8]. Tôi nghe nói: Gƣơng mà sáng thì không bị bụi đóng vào; nếu bị bụi đóng vào thì gƣơng bị mờ. Ở với hiền nhân lâu thì không còn lầm lỗi nữa. Nay anh học đạo của thầy, noi gƣơng thầy 405 [9], mà còn ăn nói nhƣ vậy, chẳng phải là lầm ƣ? - Anh đã tàn tật nhƣ vậy mà còn đòi tranh hiền với vua Nghiêu. Xét hành vi của anh đi 406 [10], không đủ cho anh phản tĩnh sao? - Nhiều ngƣời không nhận lỗi của mình, tự cho bị chặt chân là oan; nhƣng rất ít ngƣời nhận lỗi của mình mà tự cho rằng mình không đáng còn giữ hai chân. Biết rằng sự thể không làm sao khác đƣợc mà vui lòng thuận mệnh, chỉ bậc hiền đức mới đƣợc nhƣ vậy. Ai mà đi ngang qua đƣờng bắn của ông Nghệ 407 [11] thì thế nào cũng bị một mũi tên, may mà thoát đƣợc là ngƣời mạng tốt đấy. Nhiều ngƣời còn cả hai chân, mỉa mai tôi. Trƣớc kia tôi nổi giận lên, nhƣng từ khi lại học thầy thì bỏ đƣợc

161 giận mà bình tĩnh lại; không biết có phải đƣợc cái hiền đức của thầy gột rửa cho tâm hồn tôi không? Tôi đã theo học thầy mƣời chín năm rồi, mà thầy không hề thấy tôi cụt chân. Anh và tôi lại đây đều để sửa nội tâm mà anh lại chê cái hình hài của tôi, nhƣ vậy chẳng phải là lầm ƣ? Tử Sản nghe vậy, xấu hổ, đỏ mặt lên bảo: - Thôi, bỏ chuyện đó đi, đừng nói nữa. 3 Nƣớc Lỗ có một ngƣời tên là Thúc Sơn, một bàn chân bị chặt hết năm ngón. Anh ta khập khiễng 408 [12] lại thăm Trọng Ni. Trọng Ni bảo: - Vì không cẩn thận, nên bị vậy, bây giờ lại thì trễ rồi. Ngƣời kia đáp: - Tôi chỉ vì không có kinh nghiệm, không giữ đƣợc thân thể, nên mất mấy ngón chân. Hôm nay lại đây là muốn bảo tồn cái gì quí hơn chân kia. Mới tới tôi tƣởng thầy nhƣ trời, không vật gì không che; nhƣ đất, không vật gì không chở, ngờ đâu thầy lại đáp nhƣ vậy! Trọng Ni bảo: - Khâu này nông nổi, thầy vô đi, có điều gì xin giảng cho tôi nghe. Ngƣời cụt ngón chân bỏ đi, không đáp. Trọng Ni bèn bảo môn đệ: - Các anh gắng lên nhé! Ngƣời cụt ngón chân kia còn gắng học để sửa lỗi cũ, thì lẽ nào, thân thể còn vẹn toàn nhƣ các anh lại không chịu cố sức học tập. Ngƣời cụt ngón chân đó kể lại chuyện ấy cho Lão Đam nghe; rồi hỏi:

162 - Khổng Khâu chƣa là bậc chí nhân ƣ? Sao mà dạy nhiều học trò [để cầu danh] nhƣ vậy? 409 [13] Hình nhƣ ông ấy dùng những lời kì quái, nguỵ biện để đƣợc danh tiếng, không hiểu rằng một bậc chí nhân chỉ coi cái đó là gông, cùm mà thôi. Lão Đam đáp: - Sao ông không giảng cho ông ấy hiểu rằng sống với chết chỉ là một, cái khả 410 [14] và cái bất khả thì cũng nhƣ nhau, nhƣ vậy may ra cởi đƣợc gông cùm cho ông ấy? - Trời phạt ông ấy nhƣ vậy rồi, làm sao tôi cởi gông cùm cho ông ấy đƣợc. 4 Vua Ai Công nƣớc Lỗ bảo Trọng Ni: - Nƣớc Lỗ có một ngƣời [tên là Đà] xấu nhƣ quỉ, ngƣời ta gọi nó là thằng quỉ Đà 411 [15]. Ngƣời đàn ông nào ở chung với hắn, hễ xa hắn là nhớ. Thiếu nữ nào đã trông thấy hắn rồi thì về thƣa với cha mẹ thà làm vợ bé hắn còn hơn là vợ cả một ngƣời nào khác. Số thiếu nữ đó có trên một chục. Không hề nghe hắn xƣớng xuất 412 [16] điều gì, chỉ thấy hắn phụ hoạ thôi. Hắn không có quyền vị gì để cứu mạng cho ai, cũng không có tiền cứu đói cho ngƣời khác, mà lại xấu xí làm cho mọi ngƣời phát sợ. Hắn chỉ phụ hoạ chứ không xƣớng xuất mà kiến thức của hắn không vƣợt khỏi phạm vi trong nƣớc 413 [17] [nghĩa là không rộng gì], ấy thế mà đàn ông đàn bà bu lại chung quanh hắn, chắc hắn phải có gì khác ngƣời. Trẫm triệu hắn tới xem, quả thực nó xấu xí phát sợ. Hắn ở với trẫm. Chƣa đầy một tháng trẫm đã để ý đến hắn, chƣa đầy một năm thì trẫm tin hắn. Lúc đó khuyết viên tƣớng quốc, trẫm giao chức đó cho hắn. Hắn thờ ơ, có vẻ nhƣ chịu nhận, lại có vẻ nhƣ muốn từ. Trẫm thấy ngƣợng. Sau cùng hắn nhận. Chẳng bao lâu hắn bỏ trẫm mà đi. Trẫm rầu rĩ nhƣ ngƣời mất một cái gì. Không còn hắn thì trẫm vui với ai trong nƣớc này đây? 414 [18] Hắn là con ngƣời ra sao?

163 Trọng Ni đáp: - Có lần Khâu này đi sứ qua nƣớc Sở, thấy cảnh này: một con heo cái mới chết; đàn con đang bú vú mẹ, bỗng chúng hoảng hốt bỏ mẹ mà chạy tứ tán, vì chúng thấy rằng mẹ không nhìn chúng nữa, có cái gì khác rồi. Chúng yêu mẹ không phải là yêu cái thân thể, mà yêu cái tinh thần làm cho hình thể sinh động. Chôn cất kẻ tử trận không ai dùng những đồ trang sức vũ khí để trang sức quan tài. Kẻ cụt chân không thích giầy dép. Vì đối với họ những vật đó mất cái công dụng cố hữu rồi. Bọn cung nữ nào đƣợc cử vào hầu hạ vua ban đêm thì không đƣợc cắt móng tay, xỏ tai. Đàn ông nào có vợ rồi thì phục dịch ở bên ngoài, không đƣợc hầu hạ bên cạnh vua. Những ngƣời thân thể đƣợc toàn vẹn còn đƣợc trọng nhƣ vậy huống hồ là những ngƣời tâm hồn đƣợc toàn vẹn. Tên Đà xấu xí nhƣ quỉ kia không nói gì mà đƣợc nhà vua tin cậy, không có công lao gì mà đƣợc nhà vua quí mến, giao việc nƣớc cho hắn mà sợ hắn từ chối, nhƣ vậy tài của hắn phải toàn vẹn mà đức của hắn không hiện ra nên ngƣời ta không thấy. Ai Công hỏi: - Thế nào là tài toàn vẹn? Trọng Ni đáp: - Tử sinh, đắc thất, cùng đạt, giàu nghèo, hiền ngu, chê khen, đói khát, nóng lạnh, đó là những biến hoá của sự vật, sự chuyển vận của luật trời nhƣ ngày rồi đến đêm, mả không ai biết gốc ở đâu. Ai đạt đƣợc lẽ ấy, thì tâm thần không bị hỗn loạn, ngày đêm giữ đƣợc cái khí thuần hoà, ung dung, vui vẻ nhƣ khí xuân mà thích ứng với mọi sự biến hoá. Nhƣ vậy có cái tài toàn vẹn. - Thế nào là đức không hiện ra? - Nƣớc thật yên lặng rồi thì mực nƣớc bình 415 [19], vì vậy mà nó có thể làm chuẩn tắc cho mọi việc; nó giữ đƣợc mực của nó ở trong mà không tràn ra ngoài. Có đức tức giữ đƣợc sự điều hoà hoàn

164 toàn. Đức không hiện ra, nên không ai rời mình đƣợc. Sau đó, một hôm Ai Công hỏi [một môn đệ của Trọng Ni là] Mẫn Tử Khiêm: - Khi mới lên ngôi, trẫm giữ kỉ cƣơng mà dắt dân, lo cho đời sống của dân, tự cho nhƣ vậy là thông đạt lắm rồi. Nay nghe lời của bậc chí nhân [tức Trọng Ni], trẫm ngại rằng mình không thực có đức, đã khinh suất mà làm hại nƣớc. Trẫm với Khổng Khâu không phải là vua tôi, chỉ là bạn bè lấy đức giao du với nhau thôi. 5 Một ngƣời gù, chân quẹo, không có môi, lại thuyết vua Linh Công nƣớc Vệ. Nhà vua thích quá tới nỗi thấy ngƣời nào bình thƣờng cũng chê là cổ ngẳng. Một ngƣời có một cái bƣớu lớn nhƣ cái hủ ở cổ lại thuyết vua Hoàn Công nƣớc Tề, nhà vua thích quá tới nỗi thấy ngƣời nào bình thƣờng cũng chê là cổ ngẳng. Vậy có đức lớn thì có thể làm cho ngƣời khác quên hình thể xấu xa kì quái của mình đi. Ngƣời nào không quên cái đáng quên [tức hình thể], mà quên cái không đáng quên [tức cái đức], ngƣời đó mới thực là quên 416 [20] [nghĩa là không nhớ cái gì đáng khinh, cái gì đáng quí]. Cho nên thánh nhân tiêu giao ở chỗ hƣ không, coi trí tuệ là mầm thừa 417 [21] [gây tƣ lự], lễ tín là thứ keo [câu thúc ngƣời ta], đức huệ là thứ tiếp dẫn, công nghệ cũng (đáng khinh) nhƣ thƣơng mại 418 [22]. Thánh nhân không mƣu tính cái gì, đâu cần tới trí tuệ; không đẽo gọt cái gì, đâu cần tới keo 419 [23]? Không mất cái gì đâu cần phải tiếp dẫn 420 [24]? Không chế tạo cái gì, đâu cần đến thƣơng mại? Bốn đức đó [không dùng trí tuệ, không dùng lễ tín, không dùng đức huệ, không chế tạo] của thánh nhân gọi là thức ăn của trời, nghĩa là thánh nhân đƣợc trời nuôi. Đã đƣợc trời nuôi, thì còn cần gì đến ngƣời nữa? Tuy có hình thể con ngƣời mà không có tình cảm con ngƣời. Vì có hình thể con ngƣời nên sống chung với con ngƣời, vì không có tình cảm con ngƣời nên không bị quan niệm thị phi làm bận lòng. Thánh nhân nhỏ xíu vì thuộc về loài ngƣời, nhƣng lại vĩ đại vì đồng thể [hoặc hoà hợp] với trời.

165 6 Huệ tử hỏi Trang tử: - Con ngƣời vốn vô tình sao? Trang tử đáp: - Phải. - Ngƣời mà vô tình thì sao gọi là ngƣời đƣợc? - Đạo 421 [25] cho nó dong mạo ấy, trời cho nó hình thể ấy, thì sao lại không gọi là ngƣời đƣợc? Huệ tử lại hỏi: - Nhƣng đã là ngƣời thì làm sao không có tình cho đƣợc? Trang tử đáp: - Cái ông gọi là tình đó, tôi không gọi nó là tình 422 [26]. Tôi bảo vô tình là thế này: không để yêu, ghét làm thƣơng tổn thiên tính, cứ theo luật tự nhiên, đừng làm gì thêm cho đời sống cả 423 [27]. - Đừng làm gì thêm thì làm sao bảo tồn đƣợc thân thể? - Đạo cho ta dong mạo ấy, trời cho ta hình thể ấy, thì đừng để cho sự yêu, ghét làm thƣơng tổn thiên tính. Hiện nay ông hƣớng tinh thần vào ngoại vật làm lao khổ tinh lực ông, dựa vào cây mà biện luận, gục vào cái án mà ngủ 424 [28]. Trời cho ông hình hài mà ông dùng nó để phiếm luận về

166 cứng và trắng 425 [29]. NHẬN ĐỊNH Sáu bài thì năm bài đầu dùng những nhân vật tưởng tượng, kì quái: cụt một chân, cụt năm ngón chân, gù lưng, không môi mà cảm hoá được nhiều người, để tỏ rằng thân thể không đáng kể gì cả, tinh thần mới quan trọng. Người nào có đức thật cao thì chẳng làm gì cả, cũng được người khác quí mến, quên hình dáng xấu xa ghê tởm của mình đi nữa. Cái đức đó là đức tự nhiên, nghĩa là giữ thiên chân, theo thiên tính, không bận tâm đến sinh tử, thị phi, đắc thất, đói khát, nóng lạnh vì tất cả những cái này chỉ là những biến hoá của sự vật, sự chuyển vận của luật trời (bài 4), coi thân thể mình như chỗ cư ngụ tạm (mất một chân cũng như mất một cục đất), coi thanh sắc là ảo tưởng; trút bỏ hết thế tình, không dùng đến trí tuệ, lễ tín, đức huệ, cũng không chế tạo, sản xuất một cái gì (bài 5) (như vậy là được trời nuôi), mà cũng không nên biện luận, dựng một học thuyết nào cả (bài 6). Trang tử dùng hai hình ảnh để tả cái tâm của bậc chí đức đó: trong bài 2 ông coi nó như một tấm gương sáng, bụi không đóng vào được; trong bài 4, ông bảo nó như một làn nước phẳng lặng, mực nước bình rồi mới làm tiêu chuẩn cho mọi việc, như ống thuỷ chuẩn ta dùng coi xem chỗ nào cao, chỗ nào thấp. Ai đạt được trình độ đó thì tuy có hình thể con người mà không có tình cảm con người (vì vậy mà gọi là vô tình), và tuy nhỏ xíu vì vẫn thuộc về loài người, nhưng lại vĩ đại như trời vì đồng thể với trời. Chú thích:

167 426[1]Nguyên văn: độc nhược nhi hà? Có sách dịch là: lòng con ngƣời đó chuyên nhất ra sao? 427[2] Tức cái Đạo. 428[3]Tức cái Đạo. 429[4] Sách in là bị diệt, tôi tạm sửa lại là dị biệt (chữ Hán là dị 異, cả câu là Tự kỳ dị giả thị chi, can đảm Sở Việt [Goldfish]. 430[5]Nguyên văn: nhất trí chi sở tri. K.K.h. dịch là: hợp nhất trí tuệ của mình với đối tƣợng của nó. 431[6]L.K.h. dịch là: ngƣời đó bất tử. 432[7]Tức Công Tôn Kiều (Tử Sản là tên tự) là một đại phu có tài đức của nƣớc Trịnh vào thời Xuân Thu. 433[8]L.K.h. dịch là: anh khinh bạn học của mình. 434[9]Có sách dịch là: anh lại đây học thầy, tôn sùng thầy. 435[10]Ám chỉ rằng vì làm bậy mà bị tội chặt mất một chân. 436[11]Tức Hậu Nghệ, một ngƣời đời Hạ (có sách bảo là đời Đƣờng Nghiêu), bắn rất giỏi. 437[12]Nguyên văn: chủng là đi bằng gót chân. 438[13]Nguyên văn: bỉ hà tân tân dĩ học tử vi? Có sách dịch là: Sao ông ấy hâm hở học ông nhƣ vậy? Lại có sách dịch: Sao ông ấy đi đâu cũng tự khoe là một học giả nhƣ vậy? 439[14]Khả là cái nên làm, hoặc cái có thể đƣợc. 440[15]Nguyên văn: Ai Đài Đà. Có sách cho Ai Đài là tên họ, có sách bảo ai đài là rất xấu xí. 441[16]L.K.h. dịch là cất tiếng ca hát. 442[17]Nguyên văn: tri bất xuất hồ tứ vực; có sách giảng là danh tiếng không ra khỏi nƣớc.

168 443[18]Có sách dịch là: vui cái ngôi vua này với ai? 444[19]Tức thăng bằng. 445[20] Nguyên văn: nhân bất vong kì sở vong, nhi vong kì sở bất vong, thử vị thành vong. Có ngƣời giảng là: Ngƣời nào quên thân thể mình là không quên gì cả, chỉ ngƣời nào không quên thân thể mà quên cái đức, thì mới thực là quên. Có sách giảng là: ngƣời nào không quên thân thể mình mà quên cái đức của mình mới thực là quên mình. L.K.h. dịch là: ngƣời nào làm cho ngƣời khác quên sự hoàn toàn của mình, ngƣời đó đạt đƣợc sự toàn phúc. 446[21]Hoặc cái mầm ác, vì thời Trang tử có lẽ chƣa phân biệt chữ nghiệt có chữ tử với chữ nghiệt có chữ mộc ở dƣới; hai chữ ấy dùng thay nhau. 447[22]Vì chế tạo thì phải bán. Mà thời đó ngƣời ta khinh thƣơng mại. 448[23]Sách in nhầm là kéo. Keo: chữ Hán là giao 膠 (chất dính) [Goldfish]. 449[24] Tiếp dẫn: chữ Hán là án 按, Nguyễn Duy Cần dịch là tiếp nối. 450[25] Tức âm dƣơng. 451[26] Nguyên văn: Thị phi ngô sở vị tình dã. L.K.h. dịch là: quan niện thị phi đó là tình. 452[27]Nguyên văn: bất ích sinh. L.K.h. dịch là: đừng lạm dụng, lợi dụng đời sống. H.C.H. dịch là: đừng làm gì để thêm vào cái bản tính tự nhiên. Tôi cho rằng ba chữ đó có nghĩa là: (cứ theo luật tự nhiên) đừng làm gì khác, ví dụ đừng đặt ra lễ nghĩa, đau ốm cứ nghỉ ngơi, để cơ thể tự nhiên chống với bệnh, hoặc đừng lập ra thuyết này thuyết khác. 453[28]Nguyên văn: Cảo ngô nghĩa là cây ngô đồng khô. Hầu hết các sách tôi có đều giảng là cái kỉ, tức cái án (làm bằng gỗ ngô đồng?). 454[29]Thuyết tách lìa trắng và cứng (li kiện bạch) này của Công Tôn Long. Nhƣ nhìn phiến đá trắng, lúc thì ta thấy nó trắng mà không thấy nó cứng; lúc thì thấy nó cứng mà không thấy nó trắng, thấy cái nọ thì không thấy cái kia, nhƣ vậy là cái nọ lìa cái kia, cái nọ không chứa cái kia. (Coi Đại cương triết học Trung quốci, trang 410 Cảo Thơm 1965, Sài Gòn).

169 Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương VI ĐẠO LÀ ĐẠI TÔN SƢ CỦA TA (Đại tôn sƣ) 1 Biết đƣợc thiên đạo và nhân sự, đó là đạt đƣợc mức cao nhất của tri thức. Biết đƣợc thiên đạo là biết rằng vạn vật do tự nhiên sinh ra, vậy thì phải theo tự nhiên. Biết đƣợc nhân sự là dùng cái mà trí tuệ có thể biết đƣợc để bảo hộ cái mà trí tuệ không thể biết đƣợc 455 [1] hầu hƣởng hết tuổi trời, khỏi chết yểu. Nhƣ vậy là tri thức cao minh nhất. Nhƣng tri thức cũng có cái luỵ của nó, vì tri thức nào cũng phải có đối tƣợng [rồi mới biết đƣợc là đúng hay sai], mà đối tƣợng lại không xác định đƣợc 456 [2]. Chẳng hạn làm sao biết đƣợc cái mà tôi gọi là trời đó không phải là ngƣời, và cái tôi gọi là ngƣời đó không phải là trời? Với lại chỉ bậc chân nhân mới có đƣợc chân tri. Thế nào là chân nhân? Bậc chân nhân thời cổ không chê ít 457 [3], không khoe thành công, không cầu kẻ sĩ tới với mình; một ngƣời nhƣ vậy có lầm lỗi cũng không hối hận, có làm điều tốt cũng không tự đắc; lên cao cũng không run sợ, vô nƣớc không ƣớt, vì tri thức đạt đƣợc Đạo rồi. Chân nhân thời cổ ngủ không nằm mộng, thức dậy không ƣu tƣ, không ăn thức ngon, thở trầm trầm, vì hơi thở từ gót chân mà lên chớ không phải từ trong họng phát ra 458 [4]. Ngƣời nào khi nghị luận bị ngƣời ta áp đảo 459 [5] thì lời phát ra nhƣ tiếng ụa. Ngƣời nào thị dục càng mạnh thì tinh thần càng nông cạn. Chân nhân thời cổ không ham sống, không sợ chết, sinh ra không thấy làm vui, chết đi không thấy làm buồn (không cự tuyệt), hốt nhiên tới rồi hốt nhiên đi, thế thôi; không quên mình ở đâu mà ra,

170 cũng không cầu đƣợc chết, vui vẻ tiếp nhận cái gì tới, rồi khi mất cái đó thì cho nó trở về với tự nhiên. Nhƣ vậy là không đem cái tâm của mình làm tổn thƣơng Đạo, không dùng sức ngƣời giúp sức trời (bất dĩ nhân trợ thiên), cho nên gọi là chân nhân. Nhƣ vậy thì lòng 460 [6] hết mọi sự, nét mặt thanh thản, trán nở nang sáng sủa, vẻ nghiêm túc nhƣ khí thu mà ấm áp nhƣ hơi xuân. Vui hay giận đều vô tâm, tự nhiên nhƣ bốn mùa chuyển vần, thích nghi với vạn vật mà không biết đƣợc dấu vết. Cho nên thánh nhân có thể dùng binh đƣợc, diệt nƣớc địch mà không mất lòng dân nƣớc đó, ân huệ truyền tới vạn đời mà không phải vì lòng yêu ngƣời. Ai thích ngƣời khác qui phụ mình thì không phải là thánh nhân; ai ban ân huệ cho riêng một ngƣời nào thì không phải là có đức nhân; ai chỉ biết lợi dụng hoàn cảnh thôi thì không phải là ngƣời hiền; ai không biết rằng lợi với hại là một thì không phải là quân tử 461 [7] ; ai cầu danh mà đánh mất chân tính thì không phải là kẻ sĩ; ai đánh mất cá tính của mình thì không chỉ huy ngƣời khác đƣợc. Nhƣ Hồ Bất Giai, Vụ Quang, Bá Di, Thúc Tề, Cơ Tử, Tƣ Dƣ, Kỉ Tha, Thân Đồ Địch, 462 [8] đều bị ngƣời sai khiến, hành động theo lí tƣởng của ngƣời chứ không phải là của chính mình. Chân nhân thời cổ có vẻ uy nghi mà không kiêu căng, khiêm tốn mà độc lập; nhân cách khác ngƣời mà lòng thì hƣ tĩnh, không thích khoe khoang; lâng lâng nhƣ cực kì vui vẻ, bất đắc dĩ mới xử sự; nét mặt hoà nhã nên ai cũng muốn đƣợc thân cận; khoan dung đại độ nên ai cũng muốn qui phụ; tự do nên không ai áp chế đƣợc; trầm mặc nhƣ ở sau một cánh cửa đóng; vô tâm với thế sự nhƣ ngƣời quên mất ngôn ngữ. Một ngƣời nhƣ vậy coi hình pháp là thân thể, lễ nghi là cặp cánh, trí tuệ là thủ đoạn để ứng phó, đạo đức là thuận thiên tính. Coi hình pháp là thân thể mình, nên khoan hồng khi trừng trị; coi lễ nghi là cặp cánh của mình, nên làm việc theo thế tục mà thành công; dùng trí tuệ để ứng phó, nên chỉ hành động khi bất đắc dĩ; coi đạo đức là thuận thiên tính nên dễ dàng đạt đƣợc mục đích, nhƣ ngƣời có hai chân leo lên đƣợc ngọn đồi; không khó nhọc mà đƣợc mọi ngƣời coi là rất hoạt động. Đối với ngƣời đó, ƣa và ghét chỉ là một. Hợp nhất với bất hợp nhất thì cũng vậy, theo lẽ trời thì là hợp nhất, theo phép ngƣời là không hợp nhất. Nhƣng ai coi trời với ngƣời là một, không đối lập

171 nhau, thì là chân nhân 463 [9]. Sống hay chết đều do mạng trời, cũng nhƣ có đêm có ngày; cái gì mà loài ngƣời không thể can dự vào để thay đổi đƣợc thì là tình hình cố hữu của vạn vật. Ngƣời ta coi trời là cha, và yêu trời; thế thì cái siêu việt hơn trời lại chẳng đáng yêu sao? Ngƣời ta coi vua là bề trên của mình mà hi sinh cho vua; thế thì chân lí [tức cái Đạo] lại chẳng đáng cho mình hi sinh sao? Suối mà cạn thì cá cùng trốn với nhau trong bùn, phà hơi cho nhau, phun dãi nhớt vào nhau; nhƣ vậy sao bằng ở trong sông, hồ mà quên nhau. Cũng vậy, khen vua Nghiêu, chê vua Kiệt sao bằng coi Nghiêu và Kiệt cũng nhƣ nhau [nghĩa là quên thiện và ác, không phân biệt ngƣời tốt ngƣời xấu nữa]. Vũ trụ 464 [10] cho ta cái hình hài, cho ta sống để ta lao khổ, cho ta già để ta an nhàn, cho ta chết để ta nghỉ ngơi; vậy coi sống là cái phúc thì cũng phải coi chết là cái phúc. Cất thuyền trong cái hang, giấu núi trong cái chằm, nhƣ vậy là chắc chắn. Nhƣng nửa đêm một đấng Vạn năng 465 [11] lại khiêng cả đi thì ngƣời đƣơng ngủ 466 [12] không biết đƣợc. Chỉ có ngƣời nào đem vũ trụ cất vào trong vũ trụ mới không còn sợ mất nữa, vì ngƣời đó hiểu đƣợc cái lí bất biến 467 [13] của mọi vật. Có hình thể con ngƣời cũng đủ cho ta mừng rồi. Mà hình thể con ngƣời chỉ là một hình thức của hàng vạn sự biến hoá của vũ trụ. Vậy thì ngắm những biến hoá vô cùng của vũ trụ còn thích đến đâu! Cho nên thánh nhân muốn trở về cái gốc chung của vạn vật. Mình nên bắt chƣớc ngƣời nào coi thọ hay yểu đều là tốt cả, sinh tử đều là tốt cả; huống hồ ngƣời nào cho vạn vật đều là các hình thức biến hoá của cái Đạo, lại không đáng cho mình noi theo sao? 468 [14] Đạo có thực và tồn tại, nhƣng vô vi mà không có hình trạng. Có thể truyền nó đƣợc mà không thấy nó đƣợc. Nó tự là gốc của nó, trƣớc khi có trời đất đã có nó rồi. Nó tạo ra quỉ thần, thƣợng đế, nó

172 sinh ra trời đất. Nó ở trên thái cực mà không cao, ở dƣới lục cực 469 [15] mà không sâu, có trƣớc trời đất mà không phải là trƣờng cửu, có trƣớc thời thƣợng cổ mà không phải là già. Vua Hi Vi 470 [16] nhờ nó mà hoà hợp đƣợc trời đất; vua Phục Hi nhờ nó mà tập hợp nguyên khí; sao bắc đẩu nhờ nó mà vị trí không thay đổi; mặt trời mặt trăng nhờ nó mà vận hành không ngừng; thần Kham Phôi nhờ nó mà làm chủ núi Côn Lôn; thần Phùng Di nhờ nó mà rong chơi trên sông lớn; thần Kiên Ngô nhờ nó mà ở trên đỉnh núi Thái Sơn; vua Hoàng Đế nhờ nó mà lên đƣợc mây xanh; vua Chuyên Húc nhờ nó mà ở trong cung phía Bắc; thần Ngu Cƣờng 471 [17] nhờ nó mà làm chúa trên bắc cực; Tây Vƣơng Mẫu nhờ nó mà ngự trên núi Thiếu Quang. Không ai biết nó khởi thuỷ ở đâu, chung cục ở đâu. Ông Bành Tổ nhờ nó mà sống từ đời Hữu Ngu [tức vua Thuấn] tới đời Ngũ Bá 472 [18] ông Phó Duyệt nhờ nó mà làm tƣớng quốc cho Vũ Đinh, thống trị thiên hạ, [rồi sau khi chết] thành một trong những ngôi sao trên trời, ở vào khoảng giữa sao Đông Duy và sao Ki Vĩ. 2 Nam Bá Tử Quì 473 [19] hỏi Nhữ Hữu 474 [20] : - Ông tuổi đã cao mà sao sắc diện còn trẻ nhƣ vậy? Nhữ Vũ đáp: - Tôi đã đắc đạo. - Đạo học đƣợc không? - Không, không đƣợc. Ông không phải là ngƣời học đƣợc đạo. Ông Bốc Lƣơng Ỷ 475 [21] có cái tài của thánh nhân mà không có cái đạo của thánh nhân. Tôi có cái đạo của thánh nhân mà không có cái tài của thánh nhân; nếu tôi đem cái đạo của thánh nhân mà dạy cho ông ấy thì ông ấy có thành thánh nhân ngay đƣợc không? Không đƣợc. Đem cái đạo của thánh nhân dạy cho ngƣời có cái tài của

173 thánh nhân là việc dễ, vậy mà tôi cũng bảo ông ấy phải tốn công luyện tập mới đƣợc. Đây là kinh nghiệm của tôi: Sau ba ngày, tôi coi thiên hạ nhƣ hƣ không. Đã coi thiên hạ nhƣ hƣ không rồi, tôi lại tập bảy ngày nữa, lúc đó coi vạn vật là hƣ không. Rồi tôi bỗng nhiên giác ngộ, có cảm giác nhƣ thấy cảnh bình minh. Có cảm giác đó rồi mới thấy đƣợc vạn vật chỉ là một. Thấy vạn vật chỉ là một rồi, sau mới vƣợt đƣợc cổ kim [không bị thời gian hạn chế nữa]; vƣợt cổ kim rồi sau đó mới vô đƣợc cõi không có sống có chết. Bậc chủ tể giết sinh mệnh thì không chết, bậc đó sinh ra sinh mệnh mà cũng lại không sinh 476 [22]. Bậc đó có thể dƣới hết, và tiếp nhận hết vạn vật, huỷ hoại đƣợc hết, dựng lên đƣợc hết. Nhƣ vậy gọi là lúc nào cũng bình thản ; lúc nào cũng bình thản thì trong những biến hoá, nhiễu loạn nào lòng cũng thanh tĩnh. Nam Bá Tử Quì hỏi: - Ông học ai mà đắc đạo? - Tôi học đƣợc của con của mực; con của mực là cháu của sự đọc sách; cái này lại do sự sáng suốt mà ra; sáng suốt lại do chú ý; chú ý do sự siêng năng; siêng năng do ca hát [tức thích thú?] mà ra; ca hát do sự tối tăm tịch mịch; tối tăm tịch mịch do sự hƣ không; hƣ không do cái không có khởi thuỷ mà ra. 477 [23] 3 Tử Tự, Tử Dƣ, Tử Lê, Tử Lai nói chuyện với nhau: - Ai coi sự hƣ vô là đầu, sự sống là xƣơng sống, sự chết là đốt cuối của xƣơng sống; ai biết đƣợc sống chết, còn mất chỉ là một, thì ngƣời đó là bạn của chúng ta. Bốn ngƣời đều nhìn nhau cƣời, đồng ý và kết bạn với nhau. Chẳng bao lâu Tử Dƣ đau, Tử Tự lại thăm. Tử Dƣ bảo: - Vĩ đại thay, tạo hoá! Tạo hoá đã làm cho thân thể tôi co quắp 478 [24] lại nhƣ vầy.

174 Vì lƣng Tử Dƣ cong, xƣơng sống lòi ra, ngũ tạng đảo lộn lên trên, cằm đƣa xuống tới rốn, vai nhô lên khỏi đầu, tóc dựng ngƣợc; do âm dƣơng thác loạn cả. Nhƣng lòng bình tĩnh, ông lết tới giếng, soi bóng xuống giếng, than: - Ôi tạo hoá làm sao cho thân thể tôi co quắp nhƣ vầy? Tử Tự hỏi: - Anh có thấy gớm không? - Không, tại sao lại thấy gớm? Nếu tạo hoá muốn biến cánh tay trái tôi thành con gà thì tôi nhân đó mà gáy sáng; nếu biến tay phải tôi thành cây cung thì tôi sẽ nhân đó mà bắn con chim hào 479 [25] đem về quay; nếu biến đít tôi thành bánh xe, tinh thần tôi thành ngựa thì tôi sẽ nhân đó mà thắng xe. Với lại đắc là nhờ thời cơ, thất là do thuận ứng 480 [26]. Ai an thời xử thuận, thì vui buồn không xâm nhập tâm hồn đƣợc. Ngƣời xƣa gọi nhƣ vậy là huyền giải [bị treo lên mà bây giờ đƣợc cởi dây cho]; ngƣời ta không biết tự cởi cho mình thì sẽ bị kết chặt với vật, mà vật thì không bao giờ thắng trời đƣợc 481 [27]. Vậy thì tại sao tôi lại gớm? Ít lâu sau Tử Lai đau, thở hổn hển, sắp chết. Vợ con đứng vây chung quanh mà khóc. Tử Lê lại thăm, bảo họ: - Đi chỗ khác đi, đừng làm kinh động ngƣời sắp biến hoá. Rồi đứng tựa cửa, nói với Tử Lai: - Tạo hoá vĩ đại thay, sắp làm gì anh đây? sắp đƣa anh đi đâu? biến anh thành gan một con chuột hay chân một con trùng? Tử Lai đáp:

175 - Cha mẹ đƣa con đến đâu thì con phải vâng lệnh. Âm dƣơng [tức Tạo hoá] đối với ngƣời khác gì cha mẹ đối với con. Nếu âm dƣơng bắt tôi chết mà tôi không tuân thì tôi là kẻ ngỗ nghịch chứ âm dƣơng có lỗi gì đâu? Vũ trụ cho ta cái hình hài, cho ta sống để ta lao khổ, cho ta già để cho ta an nhàn, cho ta chết để ta nghỉ ngơi. Vậy coi sống là cái phúc thì cũng coi chết là cái phúc. Nay có ngƣời thợ đúc, nấu một kim loại, nếu một phần kim loại ấy nhảy ra ngoài, bảo: Tôi muốn làm cây kiếm Mạc Da 482 [28], thì ngƣời thợ đúc tất cho đó là một vật bất tƣờng. Cũng vậy, nếu có một ngƣời sắp chết bảo 483 [29] : Tôi muốn còn làm ngƣời, còn làm ngƣời, thì tạo hoá tất cho kẻ đó là bất tƣờng. Trời đất là cái lò đúc lớn mà tạo hoá là ngƣời thợ đúc lớn; [chúng ta chết rồi] đi đâu 484 [30] mà không đƣợc? [Tử sinh nhƣ giấc mộng], hốt nhiên ngủ, rồi lại hốt nhiên tỉnh dậy. 4 Tử Tang Hộ, Mạnh Tử Phản và Tử Cầm Trƣơng, ba ngƣời kết bạn với nhau, bảo: - Ai có thể liên hệ với nhau mà không để lộ sự liên hệ ấy, giúp đỡ lẫn nhau mà vẫn vô tâm; ai có thể bay lên trời ngao du trong mây, nhảy nhót trong chỗ vô cực, quên hết sinh tử? - Ba ngƣời nhìn nhau cƣời, đồng ý và quyết kết bạn với nhau. Không bao lâu, Tử Tang Hộ chết. Khi chƣa chôn, Khổng tử hay tin, sai Tử Cống đến giúp việc ma chay. Tử Cống tới, một trong hai ngƣời bạn của ngƣời chết nghĩ ra một khúc hát để ngƣời kia hoà bằng đờn cầm; rồi cả hai cùng hát: Ôi, anh Tang Hộ, Ôi, anh Tang Hộ, Anh đã trở về với bản thể của anh Mà tụi tôi vẫn còn làm người! Tử Cống bèn chạy lại bảo: - Xin hỏi hai ông: ngƣời chết nằm đó mà đờn ca nhƣ vậy có hợp lễ hay không?

176 Hai ngƣời nhìn nhau cƣời, đáp: - Nhƣ anh, mới là không hiểu ý nghĩa của lễ. Tử Cống về kể lại cho Khổng tử nghe: - Họ là hạng ngƣời ra sao? Không tu dƣỡng đức hạnh, thái độ không đoan trang. Ngƣời chết nằm đó mà họ đờn ca, vẻ mặt thản nhiên, không biết phải gọi thái độ của họ là gì, họ là hạng ngƣời ra sao? Khổng tử đáp: - Họ sống ở ngoài cõi chúng ta, còn thầy sống ở trong cõi. Trong và ngoài không thông với nhau đƣợc. Thầy đã cạn suy nên sai anh lại điếu. Họ đánh bạn với tạo hoá, ngao du trong vũ trụ: Họ coi sự sống nhƣ cái bƣớu, coi chết nhƣ cái nhọt vỡ ra. Nhƣ vậy coi sinh tử là sự tuần hoàn của cái khí, không phân biệt trƣớc sau. Họ coi hình hài là vật để tạm gởi tinh thần của họ, gởi vào hình thể này hay hình thể khác thì cũng vậy. Họ quên lá gan và trái mật của họ, không để ý tới tai mắt của họ. Họ coi sinh tử nhƣ lẽ tuần hoàn, đi rồi trở về, không biết đâu là đầu, đâu là cuối. Họ mang nhiên 485 [31], bồi hồi sống ở ngoài cõi trần thế, tiêu dao ở cảnh giới vô vi, đâu có chịu sự câu thúc vì lễ nghi để hợp với tai mắt của ngƣời đời nữa. - Vậy thì thƣa thầy, thầy sống theo qui tắc 486 [32] nào? - Thầy là ngƣời bị trời đày đoạ, nhƣng thầy cũng rán giảng cho anh hiểu điều gì thầy biết. - Con xin thầy, bọn họ sống theo qui tắc nào? - Loài cá thích nghi với nƣớc, loài ngƣời thích nghi 487 [33] với đạo. Thích nghi với nƣớc thì rúc trong bùn mà kiếm ăn; thích nghi với đạo thì không làm gì mà thiên tính đƣợc an định. Cho nên bảo: Cá ở trong sông, hồ, vui thích mà quên mình, ngƣời ở trong đạo và thuật, vui thích mà quên mình 488 [34].

177 - Con xin thầy, thế nào là một ngƣời kì dị. - Ngƣời kì dị là ngƣời không hợp với ngƣời đời mà hợp với thiên lí. Cho nên bảo: Kẻ tiểu nhân của trời là bậc quân tử của ngƣời, mà bậc quân tử của ngƣời là kẻ tiểu nhân của trời. 5 Nhan Hồi hỏi Trọng Ni: - Ông Mạnh Tôn Tài [một ngƣời hiền nƣớc Lỗ] khi mẹ chết thì khóc nhƣng không có nƣớc mắt, lòng không xót xa, để tang mà không hề buồn rầu, vậy mà đƣợc tiếng là biết lẽ cƣ tang nhất trong nƣớc Lỗ; có danh mà không có thực sao? Con lấy làm lạ quá. Trọng Ni đáp: - Ông Mạnh Tôn đã đạt đƣợc đến tận cùng đạo cƣ tang rồi. Ông ấy so với ngƣời biết tang lễ thì tiến hơn một bực; việc tang nên đƣợc giản dị, nhƣng [vì thế tục] chƣa giản dị đƣợc nhƣ ý, cho nên nhƣ ông ấy cũng đã là giản dị rồi. Ông ấy không phân biệt thế nào là sống với chết, thế nào là trƣớc với sau. Ông ấy chấp nhận, đợi sự biến hoá mà không biết mình sẽ biến hoá ra cái gì. Ai biết đƣợc mình đƣơng biến hoá mà thực ra chẳng phải là biến hoá, hoặc đƣơng khi không biến hoá mà thực ra đã là biến hoá rồi? Anh và thầy đều là những ngƣời nằm mê mà chƣa tỉnh chăng? Ông Mạnh Tôn thấy cái chết thì bề ngoài sợ, nhƣng trong lòng không đau khổ. Chết cũng nhƣ đổi căn nhà 489 [35] chứ không thật là chết. Ông ấy riêng tỉnh, thấy ngƣời ta khóc thì cũng khóc, nhƣ vậy là theo hoàn cảnh. Ngƣời ta cho cái hình hài tạm thời của mình là cái ta, nhƣng làm sao biết đƣợc cái ta đó thực là ta không. Chẳng hạn có thể anh nằm mộng thấy anh là con chim bay lên tới trời xanh, hoặc là con cá lặn xuống đáy vực thẳm. Không biết đƣợc ngƣời đƣơng nói đây là tỉnh hay nằm mộng. Gặp điều thích ý mà không cƣời, mất cái làm cho mình thích đó thì cũng vẫn cƣời, chỉ ngƣời nào vui vẻ về sự tạo vật an bài cho mình mà thuận ứng với mọi biến hoá, ngƣời đó mới đạt đƣợc cảnh giới hƣ vô của trời. 6

178 Một hiền nhân thời cổ là Ý Nhi tử lại thăm Hứa Do. Hứa Do hỏi: - Vua Nghiêu dạy anh điều gì? Đáp: - Vua Nghiêu khuyên tôi trau giồi nhân nghĩa, biện biệt thị phi. Hứa Do bảo: - Anh tới đây làm gì nữa? Vua Nghiêu đã đem nhân nghĩa xâm vào mặt anh, dùng thị phi cắt mũi anh 490 [36] thì làm sao anh còn đạt đƣợc cảnh giới tiêu dao, thuận ứng mọi sự biến hoá đƣợc nữa? Ý Nhi tử đáp: - Nhƣng tôi cũng mong tới đƣợc bờ rào của cảnh giới ấy 491 [37]. - Đâu đƣợc. Kẻ thanh manh 492 [38] thì không thấy đƣợc vẻ đẹp của lông mày, cặp mắt, nét mặt; ngƣời mù thì không phân biệt đƣợc màu vàng màu xanh của y phục gấm vóc. - Nàng Vô Trang [một mĩ nhân thời cổ] quên mất sắc đẹp của mình; Cứ Lƣơng [một lực sĩ thời cổ] quên mất sức mạnh của mình; vua Hoàng Đế quên mất trí tuệ của mình, hết thảy đều do công tôi luyện. Biết đâu tạo hoá lại chẳng có thể xoá cho tôi những vết xâm, vá lại cái mũi bị cắt của tôi để thân thể tôi lại trọn vẹn mà theo học tiên sinh? Hứa Do đáp: - Chƣa biết đƣợc, vậy tôi hãy kể đại khái thuyết của tôi cho anh nghe: Hỡi đại tôn sư của tôi, đại tôn sư của tôi!

179 Người làm cho mọi vật điêu tàn mà không phải là vì nghĩa 493 [39], Người gia ân cho tới vạn đại mà không phải là vì nhân. Người có trước thời thượng cổ mà không phải là già, Người che chở trời đất, đục đẽo mọi hình thể mà không phải là khéo. Như vậy là đạt cảnh giới tiêu dao 494 [40]. 7 Nhan Hồi thƣa với Trọng Ni: - Con đã tiến bộ. Trọng Ni hỏi: - Thế nghĩa làm sao? - Con đã quên nhân nghĩa rồi. - Đƣợc đấy, nhƣng chƣa đủ. Hôm khác, Nhan Hồi trở lại thƣa: - Con đã tiến bộ. - Thế nghĩa làm sao? - Con đã quên lễ nhạc rồi. - Đƣợc đấy, nhƣng chƣa đủ. Hôm khác nữa, lại trở lại:

180 - Con đã tiến bộ. - Thế nghĩa làm sao? - Con ngồi mà quên hết thảy đƣợc. Trọng Ni kinh ngạc hỏi: - Thế nào là ngồi mà quên hết thảy? Nhan Hồi đáp: - Cởi bỏ thân thể, trừ tuyệt sự thông minh, rời hình thể, bỏ trí tuệ, hợp nhất với đạo, nhƣ vậy là ngồi mà quên hết thảy. Trọng Ni bảo: - Hợp nhất thì không còn lòng riêng nữa, biến hoá thì không câu nệ. Anh quả thực là hiền nhân rồi. Thầy muốn theo gót anh. 8 Tử Dƣ và Tử Tang là hai bạn thân. Mƣa dầm đã mƣời ngày mà không gặp bạn, Tử Dƣ đoán bạn đau, đem một gói thức ăn lại tặng bạn. Tới cửa, nghe thấy tiếng Tử Tang nửa nhƣ hát, nửa nhƣ khóc, hoà với tiếng đàn cầm: Cha ư? Mẹ ư? Hay trời? Hay người? Giọng yếu ớt mà nhƣ hổn hển. Tử Dƣ bƣớc vô hỏi: - Giọng hát của anh sao lại nhƣ vậy?

181 Tử Tang đáp: - Tôi tìm nguyên nhân nỗi nghèo khốn của tôi mà không ra. Cha mẹ tôi lẽ nào muốn tôi nghèo? Trời che vạn vật, đất chở vạn vật, đâu có riêng ai, vậy có lẽ nào lại muốn riêng tôi nghèo? Tìm hoài nguyên nhân mà không ra. Tôi tới nỗi cực khổ nhƣ vầy, là do số mệnh chăng? NHẬN ĐỊNH Chương này luận về đạo và sự đắc đạo. Đạo là luật biến hoá trong vũ trụ, mà không có hình trạng, tự nó là gốc của nó, nó tạo ra trời đất, vạn vật, cho nên có trước vũ trụ (bài 1). Nó là chủ tể, đại tôn sư của vạn vật, nó diệt hết mọi vật mà không phải là vì nghĩa, gia ân cho vạn vật mà không phải là vì nhân, nó vô vi vì nó là tự nhiên (bài 6). Đạo đó có thể truyền được nhưng không thể tiếp nhận được, nghĩa thầy có thể giảng cho môn đệ được mà không thể đem nó cho môn đệ. Chính môn đệ phải tốn công tu luyện, mới đầu phải tập làm sao cho coi thiên hạ là hư không, rồi coi vạn vật là hư không, sinh tử là hư không (bài 2). Lúc đó đạt tới cảnh giới toạ vong, ngồi mà quên hết thảy, cởi bỏ được thân thể mình, trừ tuyệt trí tuệ, mà hợp nhất với Đạo, có cảm giác như thấy cảnh bình minh tức như cảnh mà người Pháp gọi là illumination: thiên khải hay đại giác thấy vạn vật chỉ là một. Đạt được Đạo như vậy thì thành bậc chân nhân. Vô nước không ướt, vô lửa không nóng, hơi thở rất sâu, từ gót chân đưa lên tới mũi. Chân nhân có lầm lẫn thì cũng không hối hận, có làm điều tốt cũng không tự đắc vì hành động nào cũng hợp với tự nhiên, cũng theo luật biến hoá, như vậy không có gì là xấu, là tốt (bài 1). Không ham sống, không sợ chết, vì sống chết là một, chỉ là biến hoá như ngày và đêm thay đổi nhau, như giấc mộng, hốt nhiên ngủ rồi hốt nhiên tỉnh dậy. Vả lại, vũ trụ cho ta cái hình hài, cho ta sống để ta lao khổ, cho ta già để cho ta an nhàn, cho ta chết để ta nghỉ ngơi (bài 1 và 3), vậy sống cũng không có gì đáng ham hơn chết. Chết đối với Trang tử là cởi bỏ hình thể này để mang một hình thể khác; mà người đạt Đạo, thì gặp cuộc đời nào, hoàn cảnh nào cũng vui được: Nếu tạo hoá muốn cánh tay trái tôi thành con gà trống thì nhân đó mà gáy sáng, nếu biến tay phải tôi thành cây cung thì tôi sẽ nhân đó bắn con chim

182 hào đem về quay (bài 3). Không có lớn nhỏ, thọ yểu, phải trái, không có nhân nghĩa lễ nhạc, không có sống chết, vui khổ; mà có lẽ không có cả cái ta nữa. Chúng ta còn nhớ, cuối chương II phần này, Trang tử thấy mình nằm mộng thấy mình hoá bướm tự hỏi ông là bướm hay bướm là ông, giữa bướm và ông, có gì phân biệt được không. Bài 5 chương VI này, ông lại tự hỏi: Người ta cho cái hình hài tạm thời của mình là cái ta, nhưng làm sao biết được cái ta đó có thực là ta không?. Như vậy cơ hồ Trang nghi ngờ hết thảy, chỉ trừ một điều: luật biến hoá trong vũ trụ: người biến hoá thành vật, vật biến hoá thành người để rốt cuộc lại trở về Đạo. Về sự chân nguỵ trong chương này, nên coi phần I chương II. Chú thích: 495 [2] Có sách giảng là: đối tƣợng không nhất định, vì biến hoá hoài. 496 [3] Nguyên văn: bất nghịch quả, có sách dịch là không ngại thất bại. L.K.h. dịch là không đàn áp kẻ yếu. 497 [4] Theo bác Vvn thì nguyên văn là: Chân-nhân chi tức dĩ chửng, chúng nhân chi tức dĩ hầu - 真人之息以踵, 眾人之息以喉. Và cũng theo theo bác Vvn thì bản dịch của cụ có thể hiểu là: Hơi thở của chân nhân [sâu tận gót chân rồi] từ gót chân mà lên chớ không phải từ trong họng phát ra ; hoặc dịch là: Hơi thở của c hân nhân lan sâu tận gót chân, hơi thở của kẻ bình phàm chỉ dừng nơi cuống họng. [Goldfish]. 498 [5] Nguyên văn: khuất phục giả. L.K.h. dịch là: ai làm nô lệ cho thị dục của mình. 499 [6] Nguyên văn là: chí; các nhà chú giải đều bảo nên đổi là vong (quên), hai chữ đó viết hơi giống nhau. Quên hết mọi sự thì không lo lắng, đƣợc yên tĩnh. 500 [7] Quân tử ở đây trỏ ngƣời có tài đức dƣới bậc hiền nhân mà trên kẻ sĩ.

183 501 [8] Hồ Bất Giai là hiền nhân, vua Nghiêu nhƣờng ngôi cho mà không nhận, gieo mình xuống sông, chết. - Vụ Quang là hiền nhân đời Hạ, vua Thang nhƣờng ngôi cho, không nhận, cột đá vào ngƣời nhảy xuống sông. Bá Di và Thúc Tề là ngƣời đời Ân, sau khi nhà Ân mất, không chịu ăn thóc nhà Chu, nhịn đói mà chết ở núi Thú Dƣơng. Cơ Tử là hiền nhân của vua Trụ đời Ân, can vua Trụ mà Trụ không nghe, bị Trụ bỏ tù. Tƣ Dƣ tức Tỉ Can, cũng vì can vua Trụ mà bị Trụ mổ ngực, moi tim (Có thuyết bảo Tƣ Dƣ là Tiếp Dƣ). Kỉ Tha, ngƣời đời vua Thang, nghe nói vua Thang nhƣờng ngôi cho Vụ Quang, sợ vua sẽ bị vua nhƣờng ngôi cho nữa, nên gieo mình xuống sông. Thân Đồ Địch hay tin, cũng gieo mình xuống sông. 502 [9] Từ Chân nhân thời cổ có vẻ uy nghi tới đây, rất tối nghĩa, mỗi sách giảng một khác; chẳng hạn có sách bảo: hình pháp là bản thể của chính trị (nguyên văn: dĩ hình nhƣ thể giả), hoặc dịch chữ nhất trong đoạn cuối là tề nhất chứ không phải là hợp nhất. 503 [10] Nguyên văn: đại khối, các sách đều giảng là trái đất. 504 [11] Có sách dịch là: ngƣời có sức mạnh. 505 [12] Có sách dịch là: ngƣời hồ đồ mê muội. 506 [13] Cái lí bất biến đó là Đạo. 507 [14] Đoạn này cũng mỗi sách giảng một khác. 508 [15] Khi chƣa chia ra âm dƣơng thì gọi là thái cực. Trời đất và bốn phƣơng, gọi là lục cực (sáu cái cùng cực). 509 [16] Theo truyền thuyết, Hi Vi là một vua thời thƣợng cổ, trƣớc cả vua Phục Hi. 510 [17] Bản Nguyễn Duy Cần chép là thần Ngung Cƣờng. [Goldfish]. 511 [18] Ngũ bá ở đây, theo Thành Huyền Anh, là năm ông bá từ đời Hạ đến đời Chu, trong khoảng 800 năm. Theo truyền thuyết Bành Tổ sống 700 năm. 512 [19] Tức Nam Bá Tử Kì, trong chƣơng Nhân thế gian gọi là Nam Quách Tử Kì. 513 [20] Có ngƣời cho là đàn bà, nếu vậy thì phải đọc là Nữ Vũ.

184 514 [21] Có ngƣời đọc là Y. 515 [22] Nghĩa là không do cái gì sinh ra cả. 516 [23] Bài này cũng mỗi sách giảng một khác. 517 [24] Nguyên văn: câu câu. L.K.h. dịch là kì quái. 518 [25] Ta dịch là chim vọ, L.K.h. dịch là chim cút. 519 [26] Nghĩa là đắc với thất (đƣợc với mất) đều do hoàn cảnh, đều do luật biến hoá cả. 520 [27] Vì vật là những trạng thái của biến hoá của vũ trụ, mà luật biến hoá đó thì không vật nào tránh khỏi. 521 [28] Một cây kiếm quí thời cổ. 522 [29] Nguyên văn: kim nhất phạm nhân chi hình; có sách dịch là: nay có ngƣời ngẫu nhiên đƣợc tạo hoá cho cái hình thể loài ngƣời, (mà bảo: Tôi muốn cứ làm ngƣời hoài ). 523 [30] Biến hoá thành vật gì cũng đƣợc. 524 [31] Vẻ ngu ngơ, không biết gì cả. 525 [32] Nguyên văn là chữ phương, có sách giảng là phƣơng nào, ở trong hay ngoài cõi của chúng ta. 526 [33] Có sách dịch là sinh và sống trong nƣớc trong đạo. 527 [34] Chắc sách in dƣ chữ và (đạo và thuật). Theo bác Vvn, nguyên văn cả câu: "Ngƣ tƣơng vong hồ giang hồ, nhân tƣơng vong hồ đạo thuật" 魚相忘乎江湖, 人相忘乎道術 - [Goldfish] 528 [35] Thân thể nhƣ căn nhà để cho tinh thần tạm trú, chết là bỏ thân thể đó để nhập vào thân thể khác. 529 [36] Xâm mặt và cắt mũi là hai thứ hình phạt thời xƣa. Đây chỉ có nghĩa là làm cho tinh thần Ý Nhi tử biến đổi, hoá xấu xa.

185 530 [37] Nghĩa là không đạt đƣợc đạo thì cũng muốn biết qua loa nó. 531 [38] Có lẽ thông manh bị in nhầm thành thanh manh. [Goldfish] 532 [39] Nghĩa ở đây là việc nên làm thì làm. Câu này và câu sau có nghĩa là Đạo không chủ ý làm gì cả, cứ tự nhiên vậy thôi. 533 [40] Nguyên văn: thử sở du dĩ. L.K.h. dịch là: Đó là đạo của thầy tôi. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương VII LÍ TƢỞNG CỦA ĐẾ VƢƠNG (Ứng đế vƣơng) 1 Niết Khuyết hỏi Vƣơng Nghê bốn câu mà Vƣơng Nghê đều đáp là không biết. Niết Khuyết thích quá, nhảy tƣng tƣng, lại cho Bồ Y tử 534 [1] hay. Bồ Y tử bảo: - Vua Hữu Ngu không bằng vua Thái 535 [2]. Vua Hữu Ngu còn dùng lòng nhân để kết nhân tâm, tuy đƣợc ngƣời ta qui thuận, nhƣng chƣa thoát ra khỏi sự vật. Vua Thái ngủ êm đềm, tỉnh khoan khoái 536 [3] ; ngƣời khác gọi ông là ngựa hay bò, cũng mặc; trí thức ông xác đáng, đức ông chân thực; mà ông chƣa hề bị trói buộc. 2 Kiên Ngô lại thăm ngƣời cuồng [nƣớc Sở] là Tiếp Dƣ.

186 Tiếp Dƣ hỏi: - Nhật Trung Thuỷ 537 [4] nói gì với ông? Kiên Ngô đáp: - Ông ấy bảo tôi rằng vua mà chấp hành pháp độ, thì làm dân ai dám không nghe mà rồi sẽ bị cảm hoá hết. Tiếp Dƣ bảo: - Đó là cái đức giả dối. Nhƣ vậy mà trị thiên hạ thì không khác gì đào kinh trong biển, bắt muỗi đội núi. Thánh nhân trị thiên hạ có trị ở ngoài [tức dùng pháp độ] đâu? Sửa mình cho ngay rồi sau cảm hoá đƣợc ngƣời. Thuận theo tình cảm của dân, để họ tự lo lấy sự sinh tồn của họ, không ép họ. Con chim biết bay lên cao để tránh cái lƣới và mũi tên; con chuột đồng biết đào hang sâu ở dƣới gò thờ thần để tránh cái hoạ bị hun khói, bị đào hang. Lẽ nào ngƣời không khôn bằng hai con vật nhỏ ấy? 538 [5] [mà không biết tránh hoạn nạn? Vậy cứ vô vi để làm theo bản tính của họ là biết cách trị nƣớc]. 3 Thiên Căn (gốc rễ của trời) đi chơi ở Ân Dƣơng, tới sông Lục, gặp Ngƣời-không-tên, bèn hỏi: - Làm sao trị đƣợc thiên hạ? Ngƣời-không-tên đáp: - Cút đi! Quân thô lỗ! Hỏi gì mà thấy ghét! Ta giao du với tạo vật, chán rồi thì cƣỡi con chim phiếu điểu 539 [6] để bay ra ngoài vũ trụ và tiêu dao ở chỗ hƣ vô tịch mịch, trong cõi khoáng đãng, sao anh lại đem cái việc trị thiên hạ ra làm bận lòng ta?

187 Thiên Căn hỏi nữa. Ngƣời-không-tên đáp: - Anh rán tập cho lòng anh điềm tĩnh, cứ thuận theo tính tự nhiên 540 [7] của vật, đừng có một chút tƣ ý, nhƣ vậy thiên hạ sẽ thái bình. 4 Dƣơng Tử Cƣ 541 [8] lại thăm Lão Đam, hỏi: - Nay có một ngƣời mẫn tiệp, quả cảm, nhận thức sáng suốt và sâu sắc, học đạo không biết mỏi, ngƣời đó có thể so sánh với một minh quân đƣợc? Lão Đam đáp: - Hạng đó, thánh nhân cho là chỉ làm tôi tớ thiên hạ, bị luỵ về kĩ thuật của mình, mà hoá ra lao khổ, ƣu tƣ thôi. Cứ xét: Con hổ con báo vì da nó vằn nên bị ngƣời ta săn; con khỉ vì nhanh nhẹn khéo léo, con chó săn vì giỏi đuổi bò, nên bị ngƣời ta bắt. Hạng đó sao mà so sánh với minh vƣơng đƣợc. Dƣơng tử xấu hổ, hỏi: - Xin hỏi minh vƣơng trị thiên hạ ra sao? - Minh vƣơng trị thiên hạ thì công trùm thiên hạ mà cơ hồ không phải là công của mình; vạn vật đều đƣợc cảm hoá mà không thấy nhờ đức của mình; công đức ấy có đấy mà không ai chỉ ra đƣợc 542 [9], vạn vật đều thoả mãn. Hành động của thánh nhân thần diệu không ai đoán đƣợc; họ đồng hoá với sự hƣ vô. 5

188 Nƣớc Trịnh có một thầy tƣớng kì tài tên là Quí Hàm 543 [10], đoán đƣợc sinh tử, tồn vong, hoạ phúc, thọ yểu; biết trƣớc việc sẽ xảy ra năm nào, tháng nào, tuần 544 [11] nào, ngày nào, đúng nhƣ thần. Vì vậy ngƣời nƣớc Trịnh thấy ông tới là sợ, bỏ chạy. Liệt tử lại thăm ông ta, phục lắm, về thƣa với thầy là Hồ tử: - Trƣớc, con coi đạo của thầy cực cao thâm rồi, bây giờ con còn thấy có cái còn cao thâm hơn nữa. Hồ tử bảo: - Ta chỉ truyền cho anh cái hƣ văn ở bên ngoài thôi, chứ đâu đã truyền cho cái chân thực bên trong, anh cho nhƣ vậy là đắc đạo rồi ƣ? Gà mái mà không có gà trống thì trứng đâu có nở đƣợc; anh cũng vậy, không có cái chân thực của Đạo mà đã ra tranh đua với đời, cho nên bị ngƣời ta dò đƣợc nhƣợc điểm. Anh thử dắt ngƣời đó lại đây coi tƣớng cho thầy xem sao. Hôm sao, Liệt tử dắt ngƣời thầy tƣớng lại. Khi ra về, ông ta bảo Liệt tử: - Thầy anh sắp chết, không sao sống đƣợc, không tới mƣời ngày nữa đâu, tôi thấy có cái tƣớng lạ quá, nhƣ tro ƣớt. Liệt tử trở vô, khóc mƣớt, đầm vạt áo, thƣa lại với Hồ tử. Hồ tử bảo: - Tại lúc nãy thầy hiện ra nhƣ khối đất 545 [12] trơ trơ, không động mà cũng không ngừng, không có sinh khí. Anh dắt hắn lại đây một lần nữa coi. Hôm sau ngƣời thầy tƣớng lại tới, và khi ra về bảo Liệt tử: - Thật may! Thầy anh nhờ gặp ta nên hôm nay đã đỡ rồi, có sinh khí rồi, thần khí bế tắc đã mở ra rồi. Liệt tử trở vô kể lại cho thầy nghe. Hồ tử bảo:

189 - Tại thầy lần này hiện ra nhƣ đất đã cày. Sinh cơ (nghĩa tựa nhƣ sinh khí) theo tự nhiên mà phát ra, không có hình tƣợng gì để gọi 546 [13], nó từ gót chân đƣa lên. Hắn thấy sinh cơ của ta nên nói nhƣ vậy. Anh lại dắt hắn lại đây lần thứ ba coi. Hôm sau ngƣời thầy tƣớng trở lại, khi ra về bảo Liệt tử: - Khí sắc thầy anh bất định, ta không làm sao coi tƣớng đƣợc. Đợi khi nào khí sắc thịnh rồi, ta sẽ coi lại. Liệt tử vào thƣa lại với thầy, Hồ tử bảo: - Tại thầy để hiện ra cái khí cực hƣ không, hồn nhiên không cần dấu vết, hắn chỉ thấy ở thầy một sự quân bình giữa âm và dƣơng, cho nên hắn không đoán tƣớng của thầy đƣợc. Con cá kình bơi lội, nƣớc chỗ bị nó quậy nổi sống mà thành vực, có chỗ bị nó ngăn lại mà thành vực, có chỗ chảy xuôi mà thành vực; có tới chín thứ vực, đó mới chỉ là ba. Thầy cũng chỉ mới cho hắn thấy ba tâm trạng của thầy thôi. Lại dắt hắn tới đây một lần nữa coi. Hôm sau, Quí Hàm theo Liệt tử tới, mới thấy Hồ tử đã kinh hoảng bỏ chạy. Hồ tử bảo Liệt tử: Đuổi bắt hắn!. Liệt tử không đuổi theo, quay vào thƣa: Hắn chạy mất hút rồi, con không theo kịp. Hồ tử bảo: - Thầy chƣa cho hắn thấy căn bản của đại đạo. Thầy hƣ tâm mà tuỳ theo hắn nên hắn không sao hiểu nổi thầy. Thầy nhƣ ngọn gió thổi thì rạp xuống, nhƣ làn sóng bập bềnh mà trôi, cho nên hắn sợ mà chạy. Lúc đó Liệt tử mới biết rằng mình chƣa học đƣợc gì ở thầy. Ông trở về nhà 547 [14], ba năm không ra khỏi cửa, làm bếp thay vợ, nuôi heo nhƣ nuôi ngƣời, không phân biệt ngƣời và vật, không quan tâm tới việc đời, tự rèn luyện để khôi phục đƣợc tính chân phác và tập đƣợc tính độc lập [đối với trần thế]; giữ đƣợc sự hƣ tĩnh giữa vạn sự thác loạn, nhƣ vậy cho tới hết đời. 6

190 Vô vi thì làm chủ cái danh; vô vi thì gồm các kế hoạch; vô vi làm cho công việc hoá giản dị; vô vi hƣớng dẫn trí tuệ 548 [15]. Hiểu đƣợc rằng đại đạo là vô cùng [hoặc hiểu đƣợc cái lí vô cùng của đại đạo] mà tiêu dao ở chỗ hƣ không [vô hình tích]; bảo toàn đƣợc thiên tính, bỏ hết thành kiến, nhƣ vậy chỉ là để cái tâm hƣ không mà thôi. Bậc chí nhân dùng cái tâm mình nhƣ dùng cái gƣơng: không đuổi vật đi, không đón vật tới, tự nhiên nhi nhiên mà chiếu khắp vạn vật, không giấu một chút gì; nhờ vậy mà thắng đƣợc vạn vật, không bị vật làm tổn thƣơng. 7 Vua Nam Hải tên là Mau Lẹ; vua Bắc Hải tên là Thình Lình; vua Trung Ƣơng tên là Hỗn Độn [tức không phân biệt]. Một hôm Mau Lẹ và Thình Lình gặp nhau ở xứ của Hỗn Độn, đƣợc Hỗn Độn tiếp đã trọng hậu, muốn đáp lòng tốt đó, bàn với nhau: Ngƣời ta ai cũng có bảy lỗ 549 [16] để nghe, ăn và thở; mà anh Hỗn Độn không có một lỗ nào cả, tụi mình thử đục cho ảnh có đủ lỗ đi. Thế là mỗi ngày họ đục một lỗ, tới ngày thứ bảy Hỗn Độn chết. NHẬN ĐỊNH Chương cuối này thuộc về phần chính trị luận trong học thuyết Trang tử. Đại ý toàn chương được tóm tắt trong bài 6, bài quan trọng nhất: lí tưởng của các đế vương trị thiên hạ phải là vô vi. Vô vi là cái kho chứa mọi kế hoạch, nghĩa là không kế hoạch nào bằng vô vi; vô vi thì mọi công việc được giản dị, trí óc được sáng suốt. Vô vi là thuận lẽ tự nhiên, cứ hư tâm, không dùng cơ trí, không có thành kiến, thuận theo hoàn cảnh như cỏ rạp dưới ngọn gió (bài 5), thích ứng với mọi vật, để mọi vật sống theo thiên tính của chúng (bài 3) vì thiên tính của chúng rất sáng suốt, chí cho chúng ta cái gì nên làm, cái gì nên tránh rồi; ta đừng nên đem ý riêng của ta mà lập ra pháp độ (bài 2) bắt chúng theo, như vậy sẽ tai hại như hành động của vua Biển Bắc và vua Biển Nam trong bài 7: đục thêm bảy lỗ cho vua Trung Ương để vua có đủ tai mắt mũi miệng, rốt cuộc là làm cho vua Trung Ương chết. Thực hành được nguyên tắc vô vi ấy thì là minh vương công trùm thiên hạ mà cơ hồ không phải là công của mình; vạn vật đề được cảm hoá, sống theo bản tính mà không cảm thấy là nhờ đức của

191 mình (bài 4). Chú thích: 550[1] Niết Khuyết, Vƣơng Nghê, Bồ Y tử đều là hiền nhân đời vua Nghiêu, nhƣng có lẽ chỉ là nhân vật tƣởng tƣợng, do Trang đặt ra. Theo L.K.h., Niết Khuyết là gặm vỡ ra, Trang tử dùng tên đó để tƣợng trƣng trí tuệ nó cắt vụn sự vật ra để tìm hiểu; Vƣơng Nghê là vua bé con, vua kiểu mẫu, hợp nhất đƣợc mọi ngƣời; Bồ Y tử là ông trùm áo tƣợng trƣng sự trực giác bao quát đƣợc sự vật. Bồ Y tử ở đây có chỗ gọi là Bị Y. 551[2] Hữu Ngu tức vua Thuấn. Thái là vua Phục Y. 552[3] Nguyên văn: kì giác vu vu, có sách giảng là: khi tỉnh dậy thì vẻ mặt ngu ngơ, không biết gì. 553[4] Có sách bảo Nhật Trung Thuỷ là tên họ một ngƣời hiền thời xƣa, thầy học của Kiên Ngô. Theo L.K.h. cả Kiên Ngô lẫn Nhất Trung Thuỷ đều là những tên Trang tử đặt ra để tƣợng trƣng co một thái độ tự cho mình là trung tâm vũ trụ (Kiên Ngô) và một chính sách tìm sự thành công nhất thời, nhƣ mặt trời ở đỉnh đầu, thịnh cực rồi suy liền (Nhật Trung Thuỷ) 554[5] L.K.h. hiểu khác: thánh nhân thì giấu cái đức, cái trí của mình nhƣ con chim, con chuột đồng ấy. 555[6]Có sách dịch là to lớn. 556[7] Nguyên văn: tự nhiên. Cụ cho rằng: Trang tử cũng không nói đến tính ; và trong cƣớc chú cụ cho biết thêm: Trong bản dịch Nội thiên, chẳng hạn chƣơng VII các bài 2, 3, chúng tôi dùng những chữ bản tính, tính tự nhiên là dịch theo ý chứ Trang không dùng chữ tính (trang 103). [Goldfish]. 557[8]Tức Dƣơng Chu (tên tự là Tử Cƣ), triết gia chủ trƣơng vị kỉ. Đây là một chuyện bịa. Dƣơng Chu bảo mất một cái lông mà làm lợi cho thiên hạ thì ông cũng không chịu, nhƣ vậy đâu có nghĩ tới việc trị nƣớc.

192 558[9] L.K.h. dịch là: thiên hạ không biết tên của thánh nhân. 559[10] Nguyên văn là vu: đồng cốt. 560[11] Mỗi tuần hồi xƣa là mƣời ngày, nhƣ hiện nay ta còn nói: mỗi tháng có ba tuần: thƣợng, trung và hạ. 561[12]Có sách giảng là: âm thắng dƣơng; là dƣơng thắng âm. Đất cày thì không khí ánh nắng lọt vào trong đƣợc, nhƣ vậy là dƣơng thắng âm. [Chắc sách in sai. Tôi cho rằng bốn chữ là dƣơng thắng âm sau âm thắng dƣơng là thừa; còn đoạn từ Đất cày thì... đến cuối câu, là để giải thích ba chữ đất đã cày trong câu thoại sau Goldfish]. 562[13] Đoạn này rất tối nghĩa, nguyên văn: danh thực bất nhập. L.K.h. dịch là: thầy không nghĩ gì tới danh tiếng và của cải. Tôi theo D.N.L. và H.C.H. 563[14] Nguyên văn: tự dĩ vi vị thuỷ học nhi qui. Có sách chấm câu một cách khác, và dịch là: trở về cái học về vị thuỷ, nghĩa là cái học về cái không có nguồn gốc. 564[15] Nguyên văn: vô vi danh thi; vô vi mưu phủ; vô vi sự nhiệm; vô vi trí chủ. Các bản chữ Hán đều giảng đại khái nhƣ nhau: đừng hƣởng thụ danh dự; đừng xƣớng xuất kế hoạch; đừng đảm đƣơng công việc; đừng dùng cơ trí mà làm chủ sự vật. 565[16] Tức hai mắt, hai tai, miệng và hai lỗ mũi. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: PHẦN III - Chương VIII NGOẠI THIÊN NGÓN CHÂN DÍNH NHAU (Biền mẫu)

193 1 Ngón chân cái dính ngón thứ nhì, tay có nhánh (tức có sáu ngón) tuy là do trời sinh, nhƣng đều là dƣ về phƣơng diện cơ thể; cái bƣớu, chỗ thịt thừa tuy từ thân thể phát ra nhƣng đều dƣ về phƣơng diện bản tính tự nhiên. Nhân và nghĩa tuy cũng nhƣ ngũ tạng 566 [1], nhƣng nếu thi hành quá mức thì không phải là đạo đức chân chính. Ngón chân dính nhau là có một miếng thịt vô dụng; tay có sáu ngón là có một ngón vô ích. Ai thi hành quá mức những tình cảm phát ra từ ngũ tạng (tức từ nội tâm), thì là kiểu sức nhân nghĩa mà lạm dụng sự thông minh. Lạm dụng thị giác thì làm mê loạn ngũ sắc, sai lạc cả đƣờng và nét, khiến ngƣời ta choá mắt vì màu xanh, màu vàng và sự rực rỡ của hình thêu, phải vậy không? Li Chu 567 [2] là thí dụ điển hình. Lạm dụng thính giác thì làm cho ngũ thanh 568 [3] hỗn tạp, lục luật 569 [4] thác loạn, khiến ngƣời ta đinh tai về tiếng đồng, tiếng đá, tiếng tơ, tiếng trúc 570 [5], tiếng hoàng chung, đại lữ 571 [6] phải vậy không? Sƣ Khoáng là thí dụ điển hình. Tỏ ra nhân nghĩa thái quá, biểu lộ cái đức, làm hại cái bản tính để cầu danh, nhƣ vậy khiến lòng ngƣời hoá ra mê hoặc, muốn theo mình mà không theo đƣợc, phải vậy không? Tăng Sâm và Sử Ngƣ 572 [7], là những thí dụ điển hình. Đa ngôn, nguỵ biện, dùng những lời vô ích nhƣ ngói chất đống, chỉ rối nùi, đùa giỡn với thuyết kiên bạch, dị đồng 573 [8], tức là làm cho tâm thần mỏi mệt, tìm cái hƣ danh bằng những lí luận phù phiếm, phải vậy không? Dƣơng Chu và Mặc Địch là những thí dụ điển hình. Tất cả những kẻ đó đều bƣớc lầm vào con đƣờng thái quá, không phải là theo cái chính Đạo trong

194 thiên hạ. 2 Ngƣời nào làm gƣơng mẫu về chính Đạo, thì giữ đƣợc sự thể tự nhiên của tính mệnh (nghĩa là trời sinh ra sao thì cứ để nhƣ vậy), cho nên ngón chân có liền nhau cũng không gọi là dính, ngón tay có mọc nhánh cũng không cho là dƣ, dài không cho là thừa, ngắn không cho là thiếu. Vì vậy mà chân vịt tuy ngắn, nếu nối cho dài ra thì vịt sẽ đau; chân hạc tuy dài, nếu cắt ngắn đi thì hạc sẽ khổ. Vậy thì cái gì trời sinh ra dài thì không nên làm cho ngắn lại; cái gì trời sinh ra ngắn thì không nên nối cho dài ra. Tự nhiên nó nhƣ vậy rồi, có gì đáng ngại mà phải sửa đổi? Nhân và nghĩa chẳng phải là tính tự nhiên của con ngƣời ƣ? Thế thì tại sao những ngƣời nhân từ lại nhiều ƣu tƣ nhƣ vậy? Một ngƣời có ngón chân dính nhau, cắt rời ra thì khóc; một ngƣời có ngón tay mọc nhánh, chặt đi thì gào thét. Hai ngƣời đó hoặc thiếu ngón chân (vì hai ngón dính liền làm một thì kể nhƣ một), hoặc dƣ ngón tay, cũng đau khổ nhƣ nhau. Những ngƣời nhân từ đời nay đau khổ nhìn nỗi đau khổ của ngƣời khác. Trái lại những kẻ bất nhân, coi thƣờng những tình cảm tự nhiên (tức lòng thƣơng ngƣời), chỉ tham phú quí. Nhân và nghĩa không phải là tính tự nhiên của con ngƣời sao? Nhƣng tại sao từ đời tam đại 574 [9] tới nay ngƣời ta bàn tán ồn ào về chúng nhƣ vậy? 3 Phải dùng cái móc, cái dây (nẩy mực), cái qui (compas), cái củ (thƣớc vuông) để sửa lại, thì tức là tổn thƣơng bản tính; phải dùng dây thừng dây gai, dùng keo sơn để giữ cho chắc thì đều là làm trái với thiên chân. Uốn nắn con ngƣời bằng lễ nhạc, vỗ về bằng nhân nghĩa, nhƣ vậy là làm mất cái chân tính tự nhiên của họ. Vật nào cũng có cái chân tính tự nhiên; chân tính đó tự nhiên cong thì không phải dùng đến móc, tự nhiên thẳng thì không phải dùng đến dây, tự nhiên tròn thì không phải dùng đến cái qui, tự nhiên vuông thì không phải dùng đến cái củ. Cái gì tự nhiên dính nhau thì không phải dùng đến keo sơn, cái gì tự nhiên cột chắc với nhau thì không phải dùng đến dây thùng, dây gai. Vạn vật tự nhiên sinh ra mà không biết tại sao; đƣợc bẩm thụ tính này tính nọ mà không biết do đâu. Từ xƣa đến nay vẫn

195 nhƣ vậy, không có gì thiếu sót. Đã vậy thì làm sao nhân và nghĩa có thể kết chặt mọi ngƣời nhƣ keo sơn, nhƣ dây lớn dây nhỏ mà ảnh hƣởng đƣợc tốt tới thế giới do Đạo và Đức chi phối? Chúng chỉ làm cho ngƣời ta mê hoặc thôi. 4 Mê hoặc nhỏ thì làm thay đổi phƣơng hƣớng, còn mê hoặc lớn thì làm thay đổi bản tính. Làm sao biết đƣợc điều ấy? Từ khi vua Thuấn đề cao nhân nghĩa, thiên hạ đều chạy theo nhân nghĩa, nhƣ vậy chẳng phải là ông đã làm thay đổi bản tính con ngƣời đấy ƣ? Chúng ta hãy bàn rõ về điểm đó nào. Từ đời tam đại đến nay, không ai là không bị ngoại vật làm thay đổi bản tính: kẻ tiểu nhân hi sinh cho lợi, kẻ sĩ hi sinh cho danh, đại phu hi sinh cho nhà, thánh nhân hi sinh cho thiên hạ [mà không nghĩ gì tới thân], những hạng ngƣời đó công việc khác nhau, danh phận khác nhau, nhƣng làm tổn thƣơng bản tính, quên mình vì ngoại vật thì đều nhƣ nhau. Tang và Cấu 575 [10] đều chăn cừu và để cừu lạc, đứa thứ nhất vì mãi đọc sách, đứa thứ nhì vì mãi đánh bạc; nguyên nhân 576 [11] tuy khác nhau nhƣng đều là đánh mất cừu cả. Bá Di chết vì danh ở chân núi Thú Dƣơng, Đạo Chích chết vì lợi ở gò Đông Lăng; nguyên nhân chết tuy khác nhau nhƣng đều làm tàn hại đến sinh mệnh, tổn thƣơng bản tính cả, vậy thì tại sao khen Bá Di mà chê Đạo Chích? Đều hi sinh cho ngoại vật cả mà kẻ chết vì nhân nghĩa thì ngƣời đời gọi là quân tử; kẻ chết vì tiền của thì ngƣời đời gọi là tiểu nhân. Đều chết nhƣ nhau cả mà phân biệt quân tử với tiểu nhân. Xét về điểm họ làm tàn hại sinh mệnh, tổn thƣơng bản tính thì Đạo Chích và Bá Di cũng nhƣ nhau, sao lại gọi ngƣời này là quân tử, ngƣời kia là tiểu nhân? 5 Ngƣời nào cƣỡng với bản tính để thi hành nhân nghĩa thì dù có đƣợc nhƣ Tăng Sâm, Sử Ngƣ 577 [12] tôi cũng không cho là giỏi; ngƣời nào cƣỡng với bản tính để nếm ngũ vị thì dù có đƣợc nhƣ Du Nhi 578 [13], tôi cũng không cho là giỏi. Cũng vậy, ngƣời nào cƣỡng bản tính để thẩm định ngũ âm, thì dù có đƣợc nhƣ Sƣ Khoáng tôi cũng không cho là tai sáng; ngƣời nào cƣỡng bản tính để nhận

196 định ngũ sắc, thì dù có đƣợc nhƣ Li Chu, tôi cũng không cho là mắt sáng. Cái tôi gọi là giỏi, không phải là nhân nghĩa mà là cái mà mình tự có sẵn trong bản tính. Cái tôi gọi là giỏi, không phải là theo nhân nghĩa, mà là theo bản tính cùng khả năng thiên phú của mình. Nhƣ ngƣời tôi gọi là sáng tai, thì không nghe ngƣời khác mà chỉ tự nghe mình thôi; ngƣời tôi cho gọi sáng mắt thì không thấy ngƣời khác mà chỉ tự thấy mình thôi. Không thấy mình mà thấy ngƣời, không tự mình mà phải nhờ ngƣời, thì ta bỏ mình theo ngƣời, đƣợc cái sở đắc của ngƣời mà mất cái sở đắc [tức cái thiên chân] của mình, thích cái ngƣời khác thích 579 [14] chứ không thích cái mình thích, thì Đạo Chích và Bá Di đều thiên lệch, lạc lối hết. Tôi xấu hổ vì Đạo Đức kém, nhƣng tôi không dám làm điều nhân nghĩa mà cũng không dám có những hành vi thác loạn, bậy bạ. * (Chương này và ba chương sau có nhiều điểm giống nhau nên tôi sẽ nhận định chung). Chú thích: 580[1] Nghĩa là ngƣời ta có ngũ thƣờng (năm đức): nhân, lễ, nghĩa, trí, tính cũng nhƣ có ngũ tạng (tâm, can, tì, phế, thận). Ngƣời Trung Hoa cho rằng ở trong vũ trụ là ngũ hành (kim mộc thuỷ hoả thổ), ở trong cơ thể con ngƣời là ngũ tạng, phát ra ngoài là ngũ thƣờng. 581[2] Là ngƣời mắt rất sáng ở đời Hoàng Đế, đứng xa hơn một trăm bƣớc mà thấy đƣợc đầu lông mùa thu. Trong sách Mạnh tử gọi là Li Lâu. 582[3] Ngũ thanh tức là ngũ âm: cung, thƣơng, dốc, chuỷ, vũ. 583[4] Lục luật (trong số đó có hoàng chung), và lục lữ (trong số đó có đại lữ) là những danh từ về âm nhạc, khó giải thích cho rõ đƣợc. 584[5] Tức tiếng nhạc khí làm bằng đồng, đá, tơ hay trúc.

197 585[6] Đại lữ: một trong các lữ; danh từ âm nhạc. 586[7] Tăng Sâm, tên tự là Dƣ, môn đệ Khổng Tử, thuật cuốn Đại học, rất có hiếu. Sử Ngƣ, một ngƣời đồng thời với Khổng Tử, rất ngay thẳng, làm gƣơng cho đời bằng đức nghĩa. 587[8] Thuyết cứng không phải trắng này đã chú thích ở phần trên, bài 6 chƣơng V. Còn thuyết dị đồng, xin coi chú thích bài 9 chƣơng XXXIII: Thiên hạ. 588[9] Tức ba đời Hạ, Thƣơng, Chu. 589[10] Có ngƣời bảo chữ cốc ở đây chính là chữ cấu. Tang là tên chung trỏ các nô lệ đàn ông, cấu là tên chung trỏ các nô tì. 590[11] Dịch sát thì là: công việc. 591[12] Tăng Sâm là môn sinh của Khổng Tử, rất có hiếu. Sử Ngƣ là một đại phu nƣớc Vệ, rất ngay thẳng, tự sát để can vua. 592[13] Một ngƣời sành ăn thời cổ, biết dùng riềng và quế để gia vị. 593[14] Nhƣ Bá Di thích danh, Đạo Chích thích tiền của, toàn là những cái thuộc về thế tục, chứ không thuộc về thiên chân của họ. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương IX MÓNG NGỰA (Mã đề) 1 Ngựa có móng để dẫm lên sƣơng tuyết, có lông để chống gió lạnh. Chúng ăn cỏ, uống nƣớc, co giò

198 nhảy nhót. Đó là chân tính của chúng. Chúng có cần gì đến đài cao, chuồng rộng đâu. Một hôm Bá Lạc 594 [1] bảo: Tôi khéo nuôi ngựa, rồi đốt, hớt lông chúng, gọt và đánh dấu móng chúng, làm chuồng có sàn gỗ cho chúng ở. Mƣời con có hai ba con chết. Ông bắt chúng chịu đói chịu khát, phải chạy nƣớc kiệu, phải phi, dùng cái ách bắt chúng đứng yên thành hàng, dùng hàm thiếc khóp mõm chúng, dùng roi quất vào mông chúng, và ngựa chết già nửa. Ngƣời thợ gốm đầu tiên bảo: Tôi khéo nặn đất sét, rồi dùng cái qui để làm hình tròn, cái củ để làm hình vuông. Ngƣời thợ mộc đầu tiên bảo: Tôi khéo làm đồ gỗ, rồi dùng cái móc để làm hình cong, cái dây để làm hình thẳng. Bản tình của đất sét, gỗ có hợp với cái qui, cái củ, cái móc, sợi dây thừng không? Vậy mà đời sau khen Bá Lạc khéo nuôi ngựa, thợ gốm khéo nặn đất sét, thợ mộc khéo làm đồ gỗ. Hạng ngƣời muốn cai trị thiên hạ cũng làm nhƣ vậy đó. 2 Tôi cho rằng ngƣời khéo cai trị thiên hạ không hành động cách ấy. Bản tính con ngƣời không thay đổi. Dệt vải để mặc, cày ruộng để ăn, ai cũng có chung tính đó, mà hồn nhiên, không thiên tƣ. Nhƣ vậy gọi là thiên phóng : để mặc thiên nhiên. Thời đại chí đức [đức đƣợc hoàn toàn], ngƣời nào cũng bƣớc chậm chạp, ung dung, mắt nhìn thẳng đằng trƣớc. Thời ấy trong núi không có đƣờng mòn, trên chằm không có thuyền, không bắc cầu. Vạn vật cùng sống với nhau, không xâm phạm nhau. Cầm thú thành đàn, thảo mộc sum xuê. Cho nên có thể cột một sợi dây nhỏ dắt cầm thú đi chơi, có thể leo lên cây nhìn tận ổ con quạ 595 [2], con chim khách. Thời ấy, loài ngƣời sống chung với cầm thú, sinh hoạt chung với vạn vật; nhƣ vậy đâu có phân biệt quân tử với tiểu nhân. Vạn vật đều vô tri nhƣ nhau, sống theo bản tính của mình. Hết thảy đều vô dục nhƣ nhau, cho nên gọi là hồn nhiên, chất phác. Chất phác nên dân chúng mới giữ đƣợc bản tính. 3 Rồi sau thánh nhân xuất hiện, gắng sức thi hành điều nhân, cố ý noi theo điều nghĩa, mà thiên hạ bắt

199 đầu mê loạn. Âm nhạc làm cho con ngƣời phóng đãng, lễ nghi phiền toái gây nhiều bó buộc, và ngƣời ta bắt đầu chia rẽ nhau. Không đục đẽo gỗ thì làm sao thành đƣợc cái chén để cúng? Không đập mài ngọc trắng thì làm sao trang sức đƣợc vƣơng trƣợng? Không bỏ Đạo đức đi thì nhân và nghĩa có gì đáng lựa? 596 [3] Không rời tính tình tự nhiên thì dùng làm chi tới lễ nhạc? Ngũ sắc không loạn thì ai vẽ chi vẻ này vẻ nọ? Ngũ âm không loạn thì ai đặt chi ra lục luật? 597 [4] Đục đẽo gỗ để làm đồ dùng, đó là tội của thợ mộc. Huỷ bỏ Đạo đức 598 [5] để thay nhân nghĩa vào, đó là tội của thánh nhân. 4 Những con ngựa hoang sống trong đồng, ăn cỏ, uống nƣớc; khi vui thì cà cổ vào nhau, khi giận thì quay lại đá nhau. Chúng chỉ biết có vậy thôi. Khi đeo cái ách vào cổ chúng, cái nguyệt đề 599 [6] vào trán chúng để chế ngự chúng, chúng hoá ra lấm lét, bực tức, vặn cong cái ách, giật đứt dây cƣơng, cắn hàm thiếc để phản kháng. Chúng hoá ra xảo quyệt, tàn nhẫn, đó là tội của Bá Lạc. Thời vua Hách Tƣ 600 [7], dân chúng ở trong nhà, không biết mình làm gì, ra ngoài không biết mình đi đâu 601 [8], ăn thấy thích, no rồi thì vỗ bụng đi chơi. Họ chỉ biết có vậy thôi. Rồi sau thánh nhân xuất hiện, dùng lễ nhạc uốn nắn con ngƣời, sửa thái độ con ngƣời cho ngay ngắn, đề cao nhân nghĩa để vỗ về nhân tâm. Từ đó dân chúng mới tận lực dùng trí xảo, tranh nhau lợi lộc, không làm sao ngăn đƣợc nữa, đó là tội của thánh nhân 602 [9].

200 Chú thích: 603[1] Có ngƣời đọc là Bá Nhạc. Họ Tôn, tên Dƣơng, tự là Bá Lạc, một ngƣời giỏi coi tƣớng ngựa thời Tần Mục Công. 604[2] Có sách bảo chữ điểu (chim) phải sửa là chữ ô (quạ) 605[3] Lão tử bảo: Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa = phế bỏ đạo lớn rồi, mới đặt ra nhân nghĩa. 606[4] Coi chú thích trong bài 1 chƣơng VIII. 607[5] Nghĩa là không sống hồn nhiên theo luật thiên nhiên nữa. 608[6] Đồ đeo vào trán ngựa, hình nhƣ mặt trăng. 609[7] Một vua thời thƣợng cổ, có sách chú thích là vua Thần Nông. 610[8] Nghĩa là hồn nhiên, cữ động theo bản tính, không suy nghĩ, tính toán. 611[9] Thánh nhân trong chƣơng này trỏ hạng thánh nhân theo quan niệm nhà Nho, không theo quan niệm của Trang tử trong câu: Chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh (bài 1, chƣơng 1). Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương X MỞ TRÁP (Khƣ khiếp)

201 1 Đề phòng những kẻ ăn trộm mở tráp, moi đãy, cạy rƣơng, ngƣời ta lấy dây cột, rồi khoá thật chắc những thứ đó lại, tự cho nhƣ vậy là khôn. Nhƣng nếu có một tên cƣớp khiêng cả rƣơng, xách cả tráp, vác cả đãy thì nó vội vội vàng vàng, chỉ sợ dây đứt, khoá gãy. Vậy thì hành động trƣớc kia cho là khôn bây giờ chẳng hoá ra dại, làm sẵn cho kẻ cƣớp sao? 2 Thử bàn về điểm đó nào. Cái mà ngƣời ta cho là khôn đó chẳng phải làm làm sẵn cho kẻ cƣớp ƣ? Cái mà ngƣời đời gọi là thánh chẳng phải là kẻ giúp kẻ cƣớp bảo vệ của gian ƣ? Làm sao biết đƣợc điều ấy? Xƣa kia nƣớc Tề, làng xóm ở gần nhau tới nỗi dân chúng có thể trông thấy nhau, nghe tiếng gà gáy chó sủa của nhau. Phạm vi giăng lƣới bắt cá, và cày bừa làm ruộng trên hai ngàn dặm vuông. Trong cõi ngƣời ta dựng tôn miếu [thờ tổ tiên] và nền xã [thờ đất đai và Thần Nông]; chia đất thành ấp, ốc, châu, lữ, hƣơng 612 [1], theo đúng chế độ kiến quốc của các ông thánh. Vậy mà một hôm Điền Thành tử giết vua Tề và cƣớp nƣớc. Nào phải chỉ cƣớp nƣớc mà thôi, còn cƣớp cả những pháp độ sáng suốt nữa chứ, vì vậy Điền Thành tử tuy mang tên là quân đạo tặc giết vua, mà đƣợc trị vì yên ổn nhƣ vua Nghiêu vua Thuấn, không nƣớc nhỏ nào dám chê hắn, không nƣớc lớn nào dám tấn công hắn, hắn truyền ngôi đƣợc tới mƣời hai đời. Nhƣ vậy chẳng phải hắn cƣớp nƣớc Tề cùng những pháp độ sáng suốt để bảo toàn cái thân kẻ cƣớp của hắn ƣ? 613 [2] 3 Thử xét thêm điểm đó nữa nào. Cái mà ngƣời đời cho là cực khôn chẳng phải là làm sẵn cho kẻ cƣớp ƣ? Cái mà ngƣời đời gọi là chí thánh chẳng phải là giúp cho kẻ cƣớp bảo vệ của gian ƣ? Làm sao biết đƣợc điểm ấy?

202 Xƣa Long Phùng [một hiền thần của vua Kiệt] bị giết, Tỉ Can bị moi tim, Trƣờng Hoằng [một hiền thần của Chu Linh vƣơng] bị phanh thây, Ngũ Tử Tƣ [một hiền thần của Phù Sai nƣớc Ngô] bị giết rồi ném xuống sông, bốn ông ấy đều hiền năng mà không khỏi bị sát hại [vì bọn bạo quân áp dụng qui chế của thánh nhân, cho vua có đủ quyền uy với bề tôi]. Vì vậy mà môn đệ của Đạo Chích 614 [3] hỏi hắn: - Làm nghề ăn cƣớp cũng có đạo chăng? Chích đáp: - Ở đâu mà chẳng có đạo? Đoán đƣợc trong nhà có chỗ giấu của, đó là [tài] thánh đấy; vô trƣớc [cả bọn] là dũng đấy, ra sau là nghĩa đấy; biết việc có làm đƣợc hay không là trí đấy; chia nhau cho đều là nhân đấy. Không có đủ năm đức ấy mà thành ăn cƣớp giỏi, là điều chƣa hề có. Do đó mà xét, một ngƣời bản tính tốt mà không học đạo thánh nhân thì không thành ngƣời hiền đƣợc; tên Chích không theo đạo thánh nhân thì không hành nghề đƣợc. Trong đời ngƣời tốt vốn ít mà kẻ xấu thì nhiều, thành thử thánh nhân làm lợi cho đời ít mà làm hại cho đời thì nhiều. Cho nên bảo: Môi hở, răng lạnh ; vì rƣợu nƣớc Lỗ dở nên mới xảy ra vụ vây đánh Hàm Đan 615 [4] ; thánh nhân ra đời mà giặc cƣớp nổi lên. Do đó, đả đảo thánh nhân, phóng thích đạo tặc thì thiên hạ thịnh trị. Sông cạn rồi thì hang mới trống rỗng 616 [5], gờ sụp rồi thì vực mới đầy đất. Thánh nhân chết rồi thì đạo tặc không nổi lên nữa, mà thiên hạ đƣợc thái bình vô sự. 4 Thánh nhân không chết thì đạo tặc không hết. Giao cho thánh nhân trị thiên hạ tức là làm lợi cho Đạo Chích. Dùng cái đấu cái hộc [bằng mƣời đấu] để đong lúa, là lợi dụng hai cái đó để ăn cắp; dùng cán cân và quả cân, là lợi dụng hai cái đó để ăn cắp. Dùng thẻ và ấn để cho ngƣời ta tin, là lợi dụng

203 hai cái đó để ăn cắp ngƣời ta; dùng nhân nghĩa để sửa đổi ngƣời khác là lợi dụng hai cái đó để ăn cắp họ. Làm sao biết đƣợc điều ấy? Ai ăn cắp một cái móc [đại lƣng] thì bị tử hình; ai ăn cắp một nƣớc thì thành vua chƣ hầu; ở trong phủ các chƣ hầu, ngƣời ta chỉ nói đến nhân nghĩa; nhƣ vậy chẳng phải ăn cắp bằng nhân nghĩa, thánh trí đấy ƣ? Cho nên kẻ nào theo gót bọn đạo tặc thì cƣớp đƣợc chức vị chƣ hầu, rồi mƣợn nhân nghĩa, lợi dụng đấu hộc, cán cân quả cân, thẻ và ấn, mà ăn cắp; kẻ đó dù có hứa thƣởng chức cao, tƣớc lớn 617 [6] cũng không thể răn họ đƣợc; doạ trừng trị bằng hình phạt nặng 618 [7] cũng không ngăn họ đƣợc. Tóm lại, làm cho bọn Đạo Chích đƣợc lợi lớn mà không sao cấm chúng đƣợc, đó là cái tội của thánh nhân. 5 Do đó có câu: Cá không nên ra khỏi vực; lợi khí của quốc gia không nên để cho mọi ngƣời thấy. Thánh nhân là lợi khí của thiên hạ, không nên để cho thiên hạ thấy. Cho nên tuyệt thánh, khí trí [trừ tuyệt thánh nhân, bỏ trí tuệ] đi thì hết đạo tặc; liệng ngọc đập châu thì không còn trộm cƣớp; đốt phù 619 [8] đập ấn đi dân sẽ hoá ra chất phác; chẻ đấu, bẻ cán cân đi thì dân sẽ không tranh nhau nữa; bỏ hết pháp độ của thánh nhân đi thì sẽ có thể bàn bạc [về Đạo đức] với dân đƣợc 620 [9]. Phá bỏ lục luật 621 [10], đập nát ống tiêu và đàn cầm, bịt tai Sƣ Khoáng đi thì mọi ngƣời sẽ thính tai; huỷ bỏ những hình trang hoàng, không dùng năm màu nữa, làm mờ mắt Li Chu đi thì mọi ngƣời sẽ sáng mắt; bỏ cái móc và dây nẩy mực, liệng cái qui cái củ đi, chặt ngón tay của Công Thuỳ 622 [11] thì mọi ngƣời sẽ khéo tay. Cho nên ngƣời ta bảo: Cực khéo thì tựa nhƣ vụng. Chê bai hành vi của Tăng [Sâm], Sử [Ngƣ], khớp miệng Dƣơng [Chu], Mặc [Địch], liệng bỏ nhân nghĩa đi, thì đạo đức của mọi ngƣời thì sẽ đạt đƣợc cảnh giới huyền đồng 623 [12]. Ai cũng giữ đƣợc mắt sáng thì thiên hạ không bị huỷ hoại; ai cũng giữ đƣợc tai thính thì thiên hạ không bị lo lắng

204 624 [13] ; ai cũng giữ đƣợc trí tuệ thì thiên hạ không bị mê hoặc; ai cũng giữ đƣợc đức thì thiên hạ không bậy bạ. Tóm lại, Tăng, Sử, Dƣơng, Mặc, Sƣ Khoáng, Công Thuỳ, Li Chu đều dựa và một ngoại vật nào đó để tạo nên cái đức (tức cái tài) của họ 625 [14] mà làm mê loạn, bại hoại thiên hạ; đừng nên theo họ, vô ích. 6 Ông biết thời đại chí đức [đức rất cao] không? Đó là thời các vua Dung Thành, Đại Đình, Bá Hoàng, Trung Ƣơng, Lật Lục, Lí Súc, Hiên Viên, Hách Tƣ, Tồn Dƣ, Chúc Dung, Phục Hi, Thần Nông [tức các ông vua đầu tiên theo truyền thuyết]. Thời đó ngƣời ta thắt dây để ghi nhớ [vì chƣa có chữ viết]; thoả mãn về thức ăn, y phục, phong tục, nhà ở. Dân các nƣớc ở sát nhau, trông thấy nhau, nghe tiếng gà gáy, chó sủa của nhau, mà tới khi già chết, cũng không qua lại với nhau. Thời ấy cực trị. 7 Ngày nay tới nỗi dân chúng phải nghểnh cổ, nhón chân bảo nhau: Nơi này nơi nọ có hiền nhân, rồi ai nấy vác lƣơng thực đi tìm ngƣời đó, bỏ cả bổn phận với cha mẹ, nhiệm vụ với vua chúa. Vết chân của họ nối tiếp nhau ở trong cõi các nƣớc chƣ hầu, vết xe họ giao nhau ở ngoài ngàn dậm. Đó là do các nhà cầm quyền thích dùng bọn ngƣời cơ trí làm cho sự vật rối loạn, rồi không có cách nào dẹp yên những rối loạn đó đƣợc. Làm sao biết đƣợc điều ấy? Nếu cung, nỏ, tên, lƣới, bẫy mà nhan nhản thì loài chim hoảng sợ, bay loạn trên không. Nếu lƣỡi câu, mồi, lƣới, lờ mà nhan nhản thì cá bơi loạn ở dƣới nƣớc. Nếu giáo, mác, bẫy, lƣới mà nhan nhản thì các loài thú chạy loạn trong chằm. Luyện tài quỉ quyệt khí trá, dùng những nguỵ biện kiên bạch, những thuyết đồng dị 626 [15] để làm cho ngƣời ta hoang mang, thì thiên hạ sẽ hôn mê, đại loạn. Tội đó là do thích cơ trí. Ai cũng muốn học cái mình chƣa biết mà không tìm hiểu thêm cái gì mình biết rồi 627 [16] ; ai cũng phê phán chỗ lầm lẫn của ngƣời mà không chịu nhận rằng những điều mình cho là phải thực ra là lầm lẫn. Do đó mà sinh loạn, đến nỗi làm che mờ ánh sáng mặt trăng mặt trời, tiêu diệt cái anh hoa của sông núi, nhiễu loạn sự vận hành của bốn mùa, khiến cho loài trùng không có chân, loài bọ nhỏ xíu cũng mất cả bản tính của chúng. Thích cơ trí mà làm loạn thiên hạ

205 đến nhƣ vậy đó! Từ đời tam đại 628 [17] tới nay, đều nhƣ vậy. Dân đã bỏ sự thuần phác của họ mà theo bọn cơ trí, khéo nói; bỏ thái độ điềm đạm, vô vi mà ƣa cái trò dạy đời. Chỉ vì ham dạy đời mà thiên hạ mới loạn nhƣ vậy đó. Chú thích: 629[1] Đều là những đơn vị điền địa và hành chính. Có sách chú giải: thời đó, sáu chục thƣớc (mỗi thƣớc bằng khoảng một gang tay) là một bộ; trăm bộ là một mẫu, trăm mẫu là một phu, ba phu là một ốc, ba ốc là một tỉnh (tỉnh là giếng, đây trỏ một khu chính khoảng đất, giữa đào một cái giếng), bốn tỉnh là một ấp; hai mƣơi lăm nhà là một lữ, hai mƣơi lăm lữ là một đảng, hai mƣơi lăm đảng là một hƣơng. 630[2] Tác giả chƣơng này vì không chắc là của Trang tử - muốn nói những ngƣời thành lập những pháp độ sáng suốt cho Tề đáng gọi là thánh, nhƣng họ vô tình giúp cho Điền Thành tử giữ và truyền đƣợc ngôi báu đời đời. 631[3] Chính nghĩa là thằng tƣớng cƣớp tên Chích, ta quen gọi nhƣ vậy rồi. 632[4] Sở Tuyên vƣơng bắt các chƣ hầu lại chầu; Lỗ Cung công tới sau cùng mà rƣợu đem tới lại dở. Tuyên vƣơng mắng, Cung công đáp: Tôi là hậu vệ của Chu công, lớn hơn các chƣ hầu tôi dâng rƣợu nhƣ vầy, đã là không hợp lễ rồi, mà còn chê rƣợu dở nữa, nhƣ vậy thái quá, rồi bỏ về. Tuyên vƣơng [cùng với Tề] đem quân đánh Lỗ; Lƣơng Huệ vƣơng bèn đem quân vây Hàm Đan, kinh đô của Triệu, vì biết rằng Sở mãi đánh Lỗ, không cứu đƣợc đồng minh là Triệu. 633[5] Nghĩa là thung lũng khô cạn, cây cối chết hết, loài vật bỏ đi chỗ khác. 634[6] Nguyên văn: dùng xe và mũ lễ để thƣởng. 635[7] Nguyên văn: dùng rìu búa để trừng trị.

206 636[8] Phù là thẻ mỗi ngƣời giữ một nửa để là tin, cũng nhƣ tờ hợp đồng. 637[9] L.K.h. dịch là: dân sẽ biết điều. 638[10] Ở đây lục luật trỏ sáu nhạc cụ để làm chuẩn tác. 639[11] Một ngƣời thợ mộc khéo đời vua Nghiêu, chỉ cách dùng cái qui, cái củ. 640[12] Huyền đồng là trạng thái tối tăm (huyền), không phân biệt vật này vật khác (đồng) ở thời nguyên thuỷ. 641[13] Có sách dịch không bị kiết sức. 642[14] Câu này mỗi sách giảng mỗi khác, tôi theo L.K.h. 643[15] Thuyết kiên bạch: coi chú thích 6 chƣơng V. Thuyết đồng dị của Huệ Thi, coi bài 9 chƣơng XXXIII. 644[16] Nguyên văn: thiên hạ giai tri cầu kì sở bất tri, nhi mạc tri cầu kì sở dĩ tri giả. H.C.H. dịch là: ai cũng muốn cầu cái tri thức ngoại tại mà mình chƣa biết, chứ không muốn biết cái bản tính nội tại mà mình có sẵn. Diệp Ngọc Lân dịch là: ai cũng muốn tìm hiểu cái tri thức ở ngoài mà mình chƣa hiểu; mà không thực hành cái mình hiểu ở trong rồi. Từ đây tới cuối bài, nguyên văn tối nghĩa, mỗi nhà hiểu một cách. Tôi châm chƣớc Hoàng Cẩm Hoành. 645[17] Tức ba đời Hạ, Thƣơng, Chu. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XI PHÓNG NHIỆM VÀ KHOAN DUNG (Tại hựu)

207 1 Tôi nghe nói phải phóng nhiệm (tức vô vi) và khoan dung với thiên hạ, chứ không nghe nói phải cai trị thiên hạ (tức phải hữu vi). Phải phóng nhiệm để thiên hạ hồn nhiên giữ đƣợc thiên tính; phải khoan dung để cho cái đức thiên phú của họ đừng biến đổi. Nếu mọi ngƣời giữ đƣợc thiên tính và cái đức thiên phú thì cần gì có một chính quyền nữa? Xƣa kia, khi vua Nghiêu cai trị thiên hạ thì dân chúng hân hoan vui sống, nhƣ vậy là không đƣợc điền tĩnh. Vua Kiệt trị thiên hạ thì dân chúng ƣu sầu, thấy sống là khổ, nhƣ vậy là không đƣợc vui thích. Không đƣợc điền tĩnh, không đƣợc vui thích, đều là không giữ đƣợc cái Đức thiên phú của mình. Không giữ cái Đức mà sống lâu đƣợc 646 [1], là điều không hề thấy. Vui quá thì thƣơng tổn khí dƣơng; buồn giận quá thì thƣơng tổn khí âm. Hai khí âm và dƣơng mà không quân bình thì bốn mùa không thuận, khí tiết nóng và lạnh không hoà, mà làm thƣơng tổn trở lại thân thể con ngƣời. Con ngƣời hoá ra vui và giận thất thƣờng, tính tình bất định, cƣ xử không yên, hành vi không hợp với trung đạo, mà thiên hạ mới hoá ra giả dối, cong queo, xảo quyệt, tự đắc, cố chấp, do đó mà có những hành động của bọn Đạo Chích, Tăng Sâm, Sử Ngƣ. Muốn ngăn tình trạng ấy, đem tất cả những bảo vật, chức cao mà thƣởng ngƣời tốt, dùng tất cả những cực hình để phạt kẻ xấu cũng không đủ, vì thiên hạ lớn quá, làm sao thƣởng phạt cho hết. Từ đời tam đại đến nay, ngƣời ta ồn ào lạm dụng thƣởng phạt, và có làm cho một ngƣời nào yên tĩnh sống theo thiên tính đƣợc đâu. Ai thích cái vui của mắt thì mê hoặc về màu sắc; ai thích cái vui của tai thì mê hoặc về âm thanh; ai thích điều nhân thì làm loạn cái Đức; ai thích điều nghĩa thì làm phản cái lí; ai thích điều lễ thì giúp cho sự phù hoa; ai thích âm nhạc thì mắc tật dâm đãng; ai thích thánh thì mắc tật xảo trá; ai thích trí thì mắc tật tranh biện. Nếu thuận theo bản tính 647 [2] của mình thì tám cái đó có cũng đƣợc, không cũng không sao. Nếu không thuận theo bản tính của mình thì tám cái đó làm cho vũ trụ nhiễu loạn. Thế rồi thiên hạ lại hoá ra tôn quí chúng. Sự mê hoặc của thiên hạ thật quá lắm. Nào phải ngƣời ta chỉ coi tám cái đó là những vui thích nhất thời, qua rồi thì thôi; ngƣời ta còn trai giới, bàn luận về chúng, quì lạy để dâng cúng, múa hát để tán tụng chúng nữa chứ! Nhƣ vậy thì có biện pháp nào bây giờ?

208 [Chỉ có biện pháp này]. Ngƣời quân tử [tức hạng sáng suốt] bất đắc dĩ mới phải cai trị thiên hạ; vậy thì vô vi là hơn cả. Chỉ ngƣời nào vô vi rồi thì mới thuận theo thiên tính của mình đƣợc. Cho nên chỉ giao việc trị thiên hạ cho ngƣời nào coi sự an ninh của bản thân là đáng yêu quí hơn việc thiên hạ. Ngƣời quân tử nếu biết giữ cho ngũ tạng không bị thƣơng tổn thì không biểu lộ sự thông minh của mình ra. Không nhúc nhích nhƣ một thần chủ mà lại uy nghi nhƣ con rồng, lặng lẽ nhƣ vực thẳm mà lại vang lên nhƣ tiếng sấm. Chỉ vận dụng tinh thần mà tự nhiên hợp với thiên lí; ung dung vô vi mà vạn vật bốc lên, chất lên (nghĩa là sanh và lớn lên, dâng lên). [Vô vi là đủ rồi], có cần gì phải trị thiên hạ. 2 Thôi Cồ hỏi Lão Đam: - Không trị thiên hạ thì làm sao cải hoá đƣợc lòng ngƣời? Lão Đam đáp: - Phải cẩn thận, đừng làm dao động lòng ngƣời. Lòng ngƣời hễ đè thì nó ép xuống, kích thích thì nó bồng lên. Ép xuống rồi bồng lên hoài thì nó không đƣợc thảnh thơi. Nhu thắng đƣợc cƣơng. Ai vụ danh thì làm tổn hại bản tính, lòng có lúc nóng nhƣ lửa, có lúc lạnh nhƣ đá 648 [3]. Tƣ tƣởng biến đổi rất mau, tới nỗi trong thời gian cúi đầu và ngửng đầu lên, nó đã đi ra ngoài bốn bể rồi trở về rồi. Khi nghỉ thì nó lặng lẽ nhƣ cái vực; không đợng thì nó nhƣ treo trên trời. Lòng ngƣời thật kiêu căng và không gì cƣỡng chế đƣợc. Xƣa, vua Hoàng Đế là ngƣời đầu tiên dùng nhân nghĩa làm dao động lòng ngƣời, rồi vua Nghiêu và vua Thuấn mới hi sinh tới nỗi bấp vế tiêu hết thịt, ống chân trụi hết lông, để lo cho hình thể nhân dân đƣợc an thích; hai ông ấy làm tiều tuỵ ngũ tạng để lo việc nhân nghĩa, khô kiệt khí huyết để đặt ra pháp độ, mà vẫn không thành công. Rồi vua Nghiêu phải đày Hoan Đâu lên núi Sùng, đánh đuổi rợ Tam Miêu tới Tam Nguy, trục xuất Cung Công tại U Đô, nhƣ vậy chẳng phải là thất bại ƣ? Tới đời Tam đại (Hạ, Thƣơng, Chu), thiên hạ đại loạn. Kẻ đê hèn nhƣ Kiệt, Chích, ngƣời cao thƣợng

209 nhƣ Tăng [Sâm], Sử [Ngƣ]. Nho Mặc xuất hiện. Kẻ vui thích và kẻ bất bình nghi ngờ lẫn nhau, ngƣời ngu và kẻ trí khinh bỉ lẫn nhau, ngƣời thiện và kẻ ác chê bai lẫn nhau, ngƣời ngay thẳng và kẻ gian dối trách mắng lẫn nhau, mà thiên hạ suy. Khi cái Đức lớn không đƣợc mọi ngƣời cùng theo thì xã hội tán loạn. Do đó ngƣời ta chế tạo ra cái rìu, cái cƣa để xẻ, dùng dây và mực để [vạch đƣờng mà] đẽo, cái búa, cái dùi để đục, mà thiên hạ rối bời. Lỗi về những kẻ làm thiên hạ rối bời. Lỗi về những kẻ làm dao động lòng ngƣời. Từ đó, ngƣời hiền ẩn cƣ trên núi cao, trong hang đá, mà ông vua mƣời ngàn cổ xe (vua nƣớc lớn) lo lắng, sợ sệt ngồi trên miếu đƣờng. Ngày nay, những kẻ bị tử hình nằm chồng chất lên nhau, đâu đâu cũng thấy những kẻ bị tra tấn, xử tội; và Nho, Mặc mới từ trong cảnh cùm xích đó, gắng sức cứu đời. Hởi ơi! Sao họ không thấy xấu hổ, không biết nhục nhỉ! Thì ra thánh trí chỉ để tạo ra những gông cùm. Và làm sao biết đƣợc Tăng Sâm, Sử Ngƣ chẳng tiếp tay cho tên Kiệt và tên Chích? Cho nên bảo: Tuyệt thánh khí trí rồi thiên hạ sẽ thái bình. 3 Hoàng Đế ở ngôi mƣời tám năm, lệnh đƣợc thi hành khắp thiên hạ. Ông nghe nói có Quảng Thành tử ở trên núi Khổng Đồng 649 [4] lại yết kiến, thƣa: - Tôi nghe nói phu tử đạt đƣợc Đạo cực cao, xin phu tử cho biết tinh hoa Đạo đó ở đâu. Tôi muốn dùng tinh hoa của trời đất để giúp ngũ cốc phát triển mà nuôi bách tính. Tôi lại muốn điều hoà âm dƣơng để hợp với vạn vật. Muốn vậy thì tôi phải làm gì? Quảng Thành tử đáp: - Điều ông hỏi đó là cái bản chất của vạn vật, còn việc ông muốn làm là tàn sát vạn vật. Ông trị dân nhƣ vậy thì mây không tụ mà mƣa cũng đổ; thảo mộc không vàng úa mà lá cũng rụng; mặt trời mặt trăng cũng mau mờ đi. Cái ý mị dân đó thật là hẹp hòi. Nhƣ vậy tôi làm sao giảng cho ông cái Đạo cực cao đƣợc? Hoàng Đế bèn về, thoái vị, sai dựng một cái chòi riêng, trải một chiếu cói, ở trong đó ba tháng rồi trở

210 lại yết kiến Quảng Thành tử. Quảng Thành tử nằm, đầu hƣớng về phƣơng Nam 650 [5], Hoàng Đế ở dƣới gió 651 [6], quì lết tới gần, lạy hai lạy, đầu sát đất, hỏi: - Tôi nghe nói phu tử đạt Đạo cực cao; tôi xin hỏi phải giữ mình cách nào để đƣợc sống lâu. Quảng Thành tử ngạc nhiên, vùng dậy, bảo: - Hỏi câu đó nghe đƣợc lắm. Lại gần đây, tôi giảng cho nghe thế nào là Đạo cực cao. Tinh khí của Đạo ấy u viễn, tột đỉnh của nó mờ mờ, tịch mịch. Ông đừng nhìn gì cả, đừng nghe gì cả, cứ giữ cho tinh thần thanh tĩnh rồi hình thể ông tự nhiên sẽ định. Thanh tĩnh vô vi, đừng làm nhọc thể xác, đừng làm dao động tinh thần thì ông sẽ sống lâu. Thận trọng về nội tâm, đừng để ý đến ngoại vật, dùng nhiều tâm trí thì sẽ suy bại. Tôi dắt ông tới ngoài chỗ cực sáng, ông sẽ thấy đƣợc nguồn gốc của cái cực dƣơng (cực sáng). Tôi dắt ông vô cái cửa u minh, ông sẽ thấy đƣợc nguồn gốc của cái cực âm (cực tối). Trời đất có cái nhiệm vụ của nó, âm dƣơng có chỗ chứa của nó. Ông cứ lo tu dƣỡng hình thể của ông và vạn vật sẽ tự nhiên phát triển. Tôi theo luật hợp nhất của vũ trụ, để giữ sự trung hoà 652 [7], cho nên tôi đã sống đƣợc một ngàn hai trăm năm mà cơ thể tôi không suy nhƣợc 653 [8]. Hoàng Đế lạy hai lạy, đầu sát đất, thƣa: - Quảng Thành tử đồng thể với trời đất rồi. Quảng Thành tử bảo: - Lại đây, tôi giảng cho nghe. Vũ trụ vô cùng mà ngƣời ta cho rằng nó có thuỷ có chung; nó biến hoá không sao lƣờng đƣợc mà ngƣời ta cho rằng nó hữu hạn. Chỉ ngƣời nào hiểu đƣợc Đạo của tôi thì khi sống chỉ thấy ánh sáng mặt trời mặt trăng, mà khi chết sẽ trở về đất. Tôi sắp từ biệt nhân gian để vô cái vô cùng mà ngao du trong cõi vô cực, cùng chiếu sáng với mặt trời mặt trăng, cùng trƣờng tồn

211 với trời đất. Ngƣời ta lại gần tôi 654 [9], tôi không thấy; ngƣời ta lánh xa tôi, tôi cũng không biết. Mọi ngƣời đều chết, riêng tôi vĩnh viễn tồn tại 655 [10]. 4 Tƣớng quân Mây qua phƣơng Đông, đi qúa cây Phù Dao, thấy Hồng Mông 656 [11] vỗ vào đùi nhảy nhót dạo chơi, bèn ngừng lại đứng ngay ngắn, hỏi: - Cụ là ai đó? Cụ làm gì vậy? Hồng Mông vừa vỗ đùi vừa nhảy nhƣ con chim, đáp: - Đi chơi. Tƣớng Mây nói: - Cháu muốn hỏi cụ một câu: Hồng Mông ngửng lên nhìn thẳng vào mặt tƣớng Mây: - A. Tƣớng Mây nói tiếp: - Thiên khí bất hoà, địa khí bất kết, lục khí 657 [12] hỗn loạn, bốn mùa trái tiết. Cháu muốn điều hợp tinh tuý của lục khí để nuôi nấng vạn vật, thì phải làm sao? Hồng Mông vẫn vỗ đùi, nhảy nhƣ con chim, lắc đầu đáp: - Lão không biết, lão không biết.

212 Tƣớng Mây không hỏi gì thêm đƣợc nữa. * Ba năm sau, tƣớng Mây lại qua chơi phƣơng Đông, khỏi bờ cõi nƣớc Tống thì gặp Hồng Mông, mừng quá, chạy vội lại hỏi: - Cụ quên cháu rồi sao? Quên cháu rồi sao? Rồi quì xuống lạy hai lạy, đầu chạm đất, xin Hồng Mông dạy bảo cho. Hồng Mông bảo: - Lão tuỳ hứng đi chơi, không biết để làm gì, không có mục đích gì cả, thấy cái gì thì ngắm cái đó, lão không biết gì hơn nữa. - Cháu cũng vậy. Cháu vô tâm hành động, không có mục đích gì. Vậy mà cháu đi đâu, dân chúng theo tới đó. Cháu bất đắc dĩ săn sóc dân chúng, mà dân chúng lại bắt chƣớc cháu. Xin cụ giảng cho tại sao. - Làm loạn luật trời, trái với chân tính của vạn vật tức là ngăn cản thiên nhiên, làm cho các loài thú hoảng sợ li tán, loài chim hót ban đêm [chứ không hót ban ngày nữa], tai hoạ tới cả cây cỏ, côn trung. Lỗi tại nhữ kẻ muốn cai trị dân chúng. - Vậy cháu phải làm sao bây giờ? - Vô phƣơng cứu vãn. Thôi ta gắp về trời đây 658 [13]. - Cháu gặp bƣớc khó khăn, xin cụ dạy cho cháu một lời. Hồng Mông đáp: - Phải dƣỡng tâm nhƣ vầy: cứ vô vi rồi vạn vật tự nhiên cải hoá. Quên hình hài của anh đi, bỏ cái

213 thông minh của anh đi, quên cả nội tâm lẫn ngoại vật, rồi thì vạn vật sẽ hợp nhất với bản căn. Ai bất giác thấy lại đƣợc bản căn của mình, cứ hồn nhiên theo tự nhiên thì suốt đời sẽ không rời bản căn. Đừng tìm biết tên các vật, đừng tìm hiểu chúng ra sao, nhƣ vậy vạn vật tự nhiên sanh sản. Tƣớng Mây bảo: - Cụ giảng cho cháu hiểu cái Đức, đã dạy cháu làm thinh đừng nói. Trƣớc kia cháu tìm chân lí mà không thấy, bây giờ [nhờ cụ] cháu thấy rồi 659 [14]. Nói xong, tƣớng Mây quì xuống lại hai lạy, đầu chạm đất, rồi đứng dậy, tiếp tục đi. 5 Thƣờng tình ai cũng yêu ngƣời giống mình, ghét ngƣời khác mình. Yêu ngƣời giống mình, ghét ngƣời khác mình là vô tình muốn vƣợt lên trên mọi ngƣời khác. Nhƣng vƣợt nhƣ vậy có đƣợc không? Không. Vì [một ngƣời không thể kinh nghiệm rộng bằng mọi ngƣời đƣợc], chấp nhất ý kiến của mình không sáng suốt bằng tập hợp ý kiến của mọi ngƣời 660 [15]. Những ngƣời muốn trị nƣớc đều noi gƣơng thời Tam đại, chỉ thấy cái lợi mà không thấy cái hại của thời đó 661 [16]. Họ đem quốc gia ra cầu may. Cầu may nhƣ vậy thì làm sao mà không mất nƣớc đƣợc? Cái may giữ đƣợc nƣớc, vạn lần không đƣợc một mà cái rủi mất nƣớc thì có cả vạn phần. Buồn thay! Nhửng ngƣời trị nƣớc không hiểu lẽ ấy. Làm chủ một nƣớc là làm chủ một cái gì lớn thì đừng nên quan tâm đến những vật nhỏ [tức lợi vật chất]. Chỉ ngƣời nào biết dùng vật, muốn thống trị vật thì đừng để vật thống trị mình, hiểu đƣợc lẽ ấy là chẳng những trị đƣợc dân mà còn thông thả ra vô cõi lục hợp, ngao du chốn cửu châu 662 [17], muốn đến muốn về lúc nào tuỳ ý. Ngƣời độc lập nhƣ vậy là bậc chí quí (cao quí nhất). Bậc đại nhân ảnh hƣởng tới ngƣời khác nhƣ hình với bóng, nhƣ thanh âm với tiếng vang. Ai hỏi gì, ngƣời đó cũng đem hết sự hiểu biết của mình ra giảng, phục vụ cho mọi ngƣời. Sống tĩnh mịch, không có tiếng tăm, hành động tuỳ theo vật, không có vết tích. Vạn vật đi rồi trở về bản tính trong

214 cảnh giới vô biên, xuất hiện rồi mất đi trong thời gian vô cùng. Hình hài ngƣời đó hoà đồng với vạn vật. Cái gì đại đồng thì vô kỉ [không có cái ta riêng], đã vô kỉ thì làm gì còn tồn tại [riêng] nữa? Những ngƣời mà chúng ta thấy còn tồn tại [riêng] đó chỉ là những bậc quân tử thời xƣa; những ngƣời chúng ta không thấy tồn tại [riêng] nữa (nghĩa là vô danh), đó mới là bạn của trời đất 663 [18]. 6 Phải chấp nhận sự vật dù nó không có giá trị. Phải thuận theo ý của dân dù họ thấp hèn. Phải làm công việc của mình dù không ai biết tới. Phải tuyên bố luật lệ dù nó còn mập mờ. Phải làm trọn vẹn bổn phận dù nó không thích thú. Phải mở rộng lòng nhân ra dù không thể yêu khắp đƣợc. Phải tiết giảm cái lễ đi mà không phải là không đôn hậu. Phải giữ mức trung mà vẫn là có đức rất cao. Duy nhất mà vẫn ứng với mọi biến hoá, đó là Đạo. Thần bí, không biết đƣợc mà vẫn có tác động, đó là trời [Tự nhiên]. Cho nên thánh nhân chỉ quan sát thiên nhiên chứ không giúp thiên nhiên, có đức cao chứ không luỵ vì nó, hành vi hợp Đạo mà không mƣu tính, có lòng nhân mà không tự cho là có ân huệ với ngƣời, có lòng nghĩa mà không thái quá, giữ lễ mà không câu nệ, làm bổn phận mà không trốn tránh, theo pháp luật mà không gây rối loạn, dựa vào dân mà không coi thƣờng dân, thuận theo bản tính của vạn vật, việc đời tuy không đáng làm [về phƣơng diện Đạo], nhƣng vẫn làm [về phƣơng diện đời]. Tóm lại, không hiểu lẽ tự nhiên thì đức không đƣợc thuần, không hiểu đƣợc Đạo thì sẽ bị trở ngại [thất bại]. Đáng thƣơng thay, kẻ nào không hiểu Đạo. Đạo là gì? Có Đạo trời và Đạo ngƣời. Đạo Trời thì vô vi mà đƣợc tôn sùng; Đạo ngƣời thì hữu vi mà bị hệ luỵ. Làm chủ tể vạn vật, đó là Đạo Trời, làm bề tôi, đó là Đạo ngƣời. Hai cái đó khác nhau xa, không thể không xét cho kĩ. 664 [19] NHẬN ĐỊNH VỀ BỐN CHƢƠNG BIỀN MẪU, MÃ ĐỀ, KHƢ KHIẾP, TẠI HỰU Hầu hết các nhà chú giải, phê bình đều sắp bốn chương đầu của phần Ngoại thiên này vào chung

215 một tổ hợp vì nội dung đã nhất trí: thiên nhiên vốn hoàn hảo, nên người trị nước chỉ cần thuận theo thiên nhiên, tức thiên tính của con người, đừng làm gì khác (vô vi); mà hình thức cũng có một điểm giống nhau: trong trọn bộ chỉ có bốn lần dùng danh từ tam đại để trỏ ba đời Hạ, Thương, Chu, mà hai lần ở chương Biền mẫu, một lần ở chương Khư khiếp, một lần ở chương Tại hựu 665 [20]. Vì vậy người ta cho rằng bốn chương đều do một môn phái viết vào khoảng cuối đời Chiến Quốc hoặc trong đời Tần, Hán do lẽ cuối đời Chiến Quốc mới có danh từ tam đại, và qua đời Tần, Hán mới có thuyết: ngũ hành có liên quan với ngũ tạng, ngũ thường được nhắc ở đầu chương Biền mẫu. (chú thích thứ hai bài 1, chương VIII). Có nhà như Hoàng Cẩm Hoành còn quả quyết rằng hai chương Biền mẫu và Mã đề do một người viết; hai chương Khư khiếp và Tại hựu do một người khác viết nhưng cũng thuộc một phái như người trên vì cách hành văn trong hai chương sau đều dùng thể vấn đáp, khác với hai chương đầu mà tư tưởng cũng kịch liệt hơn. Điều đó có thể đúng, chứ chưa chắc vì tôi thấy bút pháp chương Tại hựu kém hẳn chương Khư khiếp: ý tưởng lộn xộn, nông cạn (bài 3, 4), mà tư tưởng bài 6 ôn hoà chứ không kịch liệt như những bài khác trong chương (tác giả bảo phải có lòng nhân nghĩa mà không thái quá, giữ lễ mà không câu nệ, rồi lại phân biệt Đạo Trời thì vô vi, Đạo người thì hữu vi; cơ hồ đã chịu ảnh hưởng ít nhiều của Nho giáo). * Điều chắc chắn là cả bốn chương đều không phải của Trang tử. Về hình thức, lời văn, như trên chúng ta đã thấy, không phải là lời của thời đại Trang; mà giọng văn cũng không phải giọng Trang. Trang không có giọng gay gắt như trong chương Khư khiếp: Ai ăn cắp một nước thì thành chư hầu, làm cho bọn Đạo Chích được lợi lớn mà không sao cấm chúng được, đó là cái tội của thánh nhân (bài 4); đả đảo thánh nhân, phóng thích đạo tặc thì thiên hạ thịnh trị (bài 3) Trang lại phóng khoáng, hùng tâm, đâu có cái giọng khiêm tốn như cuối bài 5 chương Biền mẫu: Tôi xấu hổ vì Đạo đức kém, nhưng tôi không dám làm điều nhân nghĩa mà cũng không có những

216 hành vi thác loạn, bậy bạ. Về nội dung, còn hiển nhiên hơn nữa: mười phần thì có chín phần là của Lão. - Trong Nội thiên không hề tả xã hội loài người thời nguyên thuỷ mà Lão cho là xã hội lí tưởng (chương 80 Đạo đức kinh): Nước nhỏ ít dân, tuy có khi gấp chục gấp trăm sức người mà không dùng, tuy có thuyền, có xe mà không ngồi dân thắt dây để ghi nhớ thoả mãn với thức ăn, y phục, nhà cửa mà vui vẻ với phong tục của họ. Dân những nước ở sát nhau trông thấy nhau, nghe tiếng gà tiếng chó của nhau mà đến già chết cũng không qua lại với nhau. Chương 3 và chương 12, Lão còn nhấn mạnh vào điểm này: chỉ cần cho dân no bụng cứng xương thôi (thực kì phúc, cương kì cốt); còn những cái khác đều không ham. Tác giả hai chương Khư khiếp và Mã đề diễn lại đúng những ý đó, có khi dùng đúng những lời của Lão nữa: Thời đó người ta thắt dây để ghi nhớ, thoả mãn về thức ăn, y phục, phong tục, nhà ở. Dân các nước ở sát nhau, trông thấy nhau, nghe tiếng gà gáy, chó sủa của nhau, mà tới khi già chết, cũng không qua lại với nhau. (X.6). Con người ở trong nhà không biết mình làm gì, ra ngoài không biết mình đi đâu, ăn thấy thích, no rồi thì vỗ bụng đi chơi (IX.4) người nào cũng bước chậm chạp, ung dung trong núi không có đường mòn, trên chằm không có thuyền, không có cầu (IX.2) họ dệt vải để mặc, cày ruộng để ăn sống vô dục, hồn nhiên, chất phác (IV.2). - Câu Huỷ bỏ Đạo đức để thay nhân nghĩa vào, đó là tội của thánh nhân (bài IX.3) cũng diễn đúng ý của Lão tử trong chương 16 Đạo đức kinh: Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa. Trang tử tuy chê nhân nghĩa là thừa, xấu xa: vua Nghiêu đã đem nhân nghĩa xâm vào mặt anh [tức Ý Nhi tử], dùng thị phi cắt mũi anh thì làm sao anh còn đạt được cảnh giới tiêu dao, thuận ứng với mọi sự biến hoá được nữa (chương VI, bài 6), nhưng không bảo nhân nghĩa là mầm của loạn, mà bọn vua chư hầu mượn nhân nghĩa để ăn cắp của dân (X.4).

217 - Câu Thánh nhân là lợi khí của thiên hạ, không nên để cho thiên hạ thấy (X.5) rõ ràng là mượn chữ trong chương 36 Đạo đức kinh: Quốc chi lợi khí, bất khả dĩ thị nhân. - Chương 12 Đạo đức kinh bảo: Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắc, ngũ âm làm cho người ta điếc tai ; bài 1 chương Biền mẫu cũng mượn ý đó mà lật ngược lại: Lạm dụng thị giác thì làm mê loạn ngũ sắc lạm dụng thính giác thì làm cho ngũ thanh hỗn tạp. - Trang tử cũng như Lão tử ghét trí xảo, khinh công nghệ, coi nó không hơn gì thương mại (V.5). Tác giả các chương Biền mẫu và Mã đề cực đoan hơn, đòi huỷ bỏ hết công nghệ: Phải dùng cái móc, cái dây [nẩy mực], cái qui, cái củ để sửa lại là làm tổn thương bản tính (VIII.3) Người thợ gốm đầu tiên bảo: Tôi khéo nặn đất sét, rồi dùng cái qui để làm hình tròn, cái củ để làm hình vuông. Người thợ mộc đầu tiên bảo: Tôi khéo làm đồ gỗ, rồi dùng cái móc để làm hình cong, cái dây để làm hình thẳng. Bản tình của đất sét, gỗ có hợp với cái qui, cái củ, cái móc, sợi dây không? Vậy mà đời sau khen (IX.1). - Trang tử vẫn trọng thánh nhân. Chẳng hạn Tề vật luận 5, ông bảo: Thánh nhân dung hoà, coi thị phi là một mà theo luật quân bình tự nhiên. Ngay trong bài 1 chương Tiêu dao du ông cũng có câu: Chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh, và còn nhiều chỗ khác trong các chương Đại tôn sư, Ứng đế vương nữa. Đành rằng những thánh nhân ông nói đó là thánh nhân theo quan niệm của ông, tức hạng thánh nhân vô vi, hoà đồng với Đạo, chứ không phải hạng thánh nhân hữu vi của Nho giáo. Nhưng đối với hạng thánh nhân này, ông không bao giờ mạt sát, có khi còn khen nữa; chẳng hạn chương II bài 9, ông cho ông Thuấn sáng suốt khuyên vua Nghiêu đừng đánh các nước Tông, Khoái, Tư Ngao; chương V bài 1, ông cho Khổng Tử diễn những tư tưởng của ông, và khen Nghiêu, Thuấn giữ được chính khí. Chỉ có mỗi một chỗ, trong bài 1 chương VI, ông bảo nên coi Nghiêu và Kiệt như nhau; nhưng nói như vậy ông không có ý chê Nghiêu, trái lại vẫn nhận Nghiêu là thiện, Kiệt là ác, mà chỉ muốn khuyên ta tề vật đừng nên phân biệt thiện ác, thị phi, tốt xấu, thế thôi. Trái lại, bốn chương đầu Ngoại thiên này, thánh nhân bị mạt sát kịch liệt. Lão tử như một giáo sư

218 già, chỉ nhẹ nhàng khuyên ta: tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội (chương 19); còn tác giả bốn chương đó như bọn trẻ hung hăng, trút tất cả tình trạng hỗn loạn thời Chiến Quốc lên đầu thánh nhân: Rồi thánh nhân xuất hiện, dùng lễ nhạc uốn nắn con người đề cao nhân nghĩa để vỗ về nhân tâm. Từ đó dân chúng mới tận lực dùng trí xảo, tranh nhau lợi lộc, không làm sao ngăn được nữa. (IX.4) Thánh nhân là hạng người giúp cho kẻ cướp nước, chứng cứ là pháp độ họ đặt ra, giúp cho Điền Thành tử (kẻ giết vua Tề, cướp nước Tề) yên ổn trị vì, truyền ngôi tới mười hai đời (X.2). Cũng chính thánh nhân tổ chức xã hội, cho vua chúa đủ uy quyền với bề tôi, dạy bề tôi phải trung với vua, vì vậy mà bọn hiền thần như Tỉ Can, Ngũ Tử Tư mới bị sát hại (X.3). Lý luận thật đanh thép: thời nào hạng người hiền năng cũng hiếm mà kẻ ác thì nhiều, và bọn cầm quyền tàn bạo luôn luôn lợi dụng, lạm dụng pháp độ thánh nhân đặt ra để đàn áp, bốc lột, sát hại dân chúng. Cho nên thánh nhân không chết thì đạo tặc không hết. Giao cho thánh nhân trị thiên hạ [đặt ra pháp chế để trị dân] tức là làm lợi cho Đạo Chích. (X.4). Qui kết là không nên dùng thánh nhân, phải bỏ hết các pháp độ do thánh nhân đặt ra: bỏ nhân nghĩa, lễ nghi, chẻ đấu, bẻ cán cân đi; bỏ trí xảo, đập nát ống tiêu và đàn cầm, bịt tai Sư Khoáng đi, không dùng ngũ sắc nữa, làm mờ mắt Li Chu đi, bỏ hết cái móc và dây nẩy mực, liệng cái qui cái củ đi, chặt ngón tay của Công Thuỳ (một người thợ khéo đời vua Nghiêu) đi (X.5); tóm lại là triệt để phá huỷ tất cả nền văn minh Trung Hoa đã gây dựng nên mà trở về đời sống nguyên thuỷ: ngủ kỉ, ăn no rồi vỗ bụng đi chơi. Rõ là lời hô hào của một người triệt để theo chủ nghĩa vô chính phủ. Trong lịch sử nhân loại, không biết còn lời mạt sát văn minh nào kịch liệt như vậy nữa không. Chẳng những Trang, ngay cả Lão đọc những chương đó tất cũng phải nghĩ bụng: Hậu sinh khả uý. La Căn Trạch trong cuốn Chu tử sách (Nhân dân xuất bản xã 1958) đã có lí khi bảo rằng tác giả những chương đó thuộc tả phái của Đạo gia.

219 666 [1] Nguyên văn: phi Đức dã nhi khả trường cửu giả, thiên hạ vô chi. H.C.H. dịch là: làm tổn hại đức tính của dân mà trị vì lâu đƣợc, quốc gia tồn tại lâu đƣợc Tôi dịch nhƣ trên để chuyển xuống đoạn dƣới. 667 [2] Theo Lão, Trang tính là cái ta bẩm thụ đƣợc của Đạo, nó siêu thiện ác, mà thuần phác, hồn nhiên (coi bài 12). 668 [3] Câu này rất tối nghĩa, L.K.h. thú thực chẳng hiểu gì cả. H.C.H. dịch cũng không xuôi. Tôi đành tạm theo H.C.H. 669 [4] H.C.H. giảng Quảng Thành tử tức Lão tử. Đây là một ngụ ngôn, nhân danh và địa danh đều tƣợng trƣng. 670 [5] Vua Trung Hoa lâm triều thì quay mặt về phƣơng Nam. Đầu hƣớng về phƣơng Nam thì ý nghĩa cũng vậy. 671 [6] Để tỏ ý kính trọng. 672 [7] Nguyên văn rất tối nghĩa: Ngã thủ kì nhất, dĩ xử kì hoà. Mỗi sách giảng một khác. 673 [8] Thuyết trƣờng sinh bất tử này nhất định không phải của Trang tử, mà của ngƣời cuối đời Chiến Quốc hay đầu đời Tần. 674 [9] Nguyên văn: đương ngã. L.K.h. dịch là hại tôi. 675 [10] Vì là một phần tử của vũ trụ. 676 [11] Theo L.K.h., Mây ở đây tƣợng trƣng trí thông minh tìm hiểu; cây Phù Dao là Cây Bảo; Hồng Mông là cái Màn lớn. Tƣ Mã Bƣu bảo Phù Dao là cây thần, Hồng Mông là nguyên khí tự nhiên.

220 677 [12] Lục khí là âm, dƣơng, gió, mƣa, tối, sáng. 678 [13] Nguyên văn: Độc tai, tiên tiên hồ, qui hĩ. Có sách giảng là: Đó là tự mình làm hại, phải mau mau trở về bản căn, thôi đừng hỏi lão nữa. 679 [14] Cả đoạn này trong nguyên văn có chữ thiên, Vƣơng Tiên Khiêm chú thích, bảo: kính trọng thì gọi là thiên ; tôi theo Vƣơng, nên dịch là: cụ. Nhƣng H.C.H. giữ đúng nghĩa chữ thiên, bảo là trời. Vì vậy lối hiểu của Hoàng khác hẳn. 680 [15] Câu này tôi dịch thoát dài dòng cho dễ hiểu. 681 [16] Tức của chính sách dùng nhân, nghĩa. 682 [17] Lục hợp tức trời đất và đông tây nam bắc. Ngày xƣa Trung Hoa chia ra làm chín châu, nên gọi là cửu châu. 683 [18] Câu này H.C.H. dịch là: bậc quân tử ngày xƣa nhận rằng vật tồn tại; còn bạn của trời đất thì nhận rằng không có vật nào tồn tại. 684 [19] Cả bài này rất tối nghĩa, các bản dịch khác nhau rất xa. Tôi châm chƣớc hai bản của H.C.H. và L.K.h., nhƣng vẫn còn ngờ lắm. 685 [20] Trong chƣơng Tại hựu, chúng ta thấy danh từ tam đại đƣợc cụ dùng đến ba lần, nhƣng lần đầu là phiên âm hai chữ 三代 (tam đại), còn hai lần sau là dịch thoát hai chữ 三王 (tam vương); nghĩa là trong nguyên tác danh từ tam đại chỉ đƣợc dùng có một lần. [Goldfish]. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XII TRỜI ĐẤT (Thiên địa)

221 1 Trời đất tuy rộng nhƣng đều theo một luật biến hoá; vạn vật tuy nhiều nhƣng điều theo một trật tự nhƣ nhau; nhân dân tuy đông nhƣng đều do một ông vua cai trị. Vua theo cái Đức mà đạt đƣợc tự nhiên. Cho nên bảo: Thời thƣợng cổ, vua vô vi mà trị thiên hạ, chỉ thuận theo đức tự nhiên của trời mà thôi. Theo đúng Đạo mà đƣợc địa vị thì ngôi vua là chính đáng, theo đúng Đạo mà định phận trên dƣới thì nghĩa vua tôi đƣợc sáng; theo đúng Đạo mà xét tài năng thì quan chức làm tròn đƣợc bổn phận, nếu hết thảy đều theo Đạo thì vạn vật đều thuận ứng với tự nhiên. Hợp nhất với trời là Đạo, thích ứng với đất là Đức, thực hiện ở vạn vật là Nghĩa; vua trị dân là làm tròn nhiệm vụ với quốc gia, tài năng khéo léo phát sinh ra công nghệ. Công nghệ ở trong nhiệm vụ của quốc gia, nhiệm vụ này gồm ở trong Nghĩa, Nghĩa gồm trong Đức, Đức ở trong Đạo, Đạo gồm ở trong Trời 686 [1]. Cho nên bảo: Thời xƣa, vua nuôi dân, không có dục vọng gì cả (vô dục) mà dân tự túc đƣợc; không làm gì cả (vô vi) mà vạn vật tự hoá; trầm tĩnh mà trăm họ an ninh. Sách chép rằng: Hiểu rằng đạo lí chỉ có một thì làm đƣợc mọi việc; mà vô tâm thì quỉ thần phải kính phục. 687 [2] 2 Phu tử 688 [3] bảo: Đạo che và nâng đỡ vạn vật. 689 [4] Nó mênh mông, vĩ đại thay. Ngƣời quân tử phải bỏ chủ kiến đi để hiểu nó. Làm với thái đô vô vi, đó là trời ; nói với thái độ vô vi (nghĩa là không nói mà nói), đó là đức ; yêu ngƣời và làm lợi cho vạn vật, đó là nhân ; coi vạn vật đồng nhất thể, đó là lớn (đại); có thái độ không cao ngạo, không lập dị, đó là khoan (tinh thần rộng rãi); vạn vật tuy khác nhau mà có đủ ở ta, đó là phú (giàu); giữ đƣợc cái đức, đó là kĩ cƣơng; đức mà thành, thế là có nhân cách (lập); cứ theo đạo mà làm, đó là đƣợc phòng bị [với mọi biến cố]; không vì vật mà ngã lòng, đó là giữ đƣợc đủ bản tính mình. Ngƣời quân tử hiểu đƣợc mƣời điều ấy

222 thì thật là cao thƣợng; mọi vật sẽ qui phụ. Không khác gì vàng nằm ở trong núi, trân châu nằm dƣới vực. Ngƣời nhƣ vậy không ham của cải, không gần kẻ phú quí, thọ không mừng mà chết yểu cũng không buồn, hiển đạt không cho là vinh, nghèo hèn không cho là nhục, dù làm chủ đƣợc của cải trên đời cũng không cho là của riêng mình, dù làm vua khắp thiên hạ cũng không cho là vinh hiển. Hiển thì sáng 690 [5]. Vạn vật chỉ là một, sống với chết nhƣ nhau. 3 Phu tử bảo: Đạo yên lặng nhƣ cái vực, trong trẻo nhƣ dòng nƣớc. Không có nó thì kim thạch không kêu đƣợc. Kim thạch chỉ kêu khi ngƣời ta gõ vào; vạn vật chỉ an định khi đƣợc một bậc chí đức cai trị. Bậc đó cứ theo tự nhiên, không thèm dùng trí để hiểu sự vật. Theo chân lí bản nguyên thì sáng suốt nhƣ thần mà đức đƣợc rộng lớn, cứ vô tâm, tuỳ theo vạn vật mà phản ứng. Hình thể của ta sinh ra là nhờ Đạo; bản tính 691 [6] của ta không có Đức thì không sáng. Giữ đƣợc hình thể [cho khoẻ mạnh tới già], giữ đƣợc bản tính cho thật sáng, lập đƣợc Đức, hiểu đƣợc Đạo, nhƣ vậy chẳng phải là bậc chí đức ƣ? Rộng lớn thay, hốt nhiên hiện ra, hốt nhiên hành đồng 692 [7] mà vạn vật qui phục, nhƣ vậy là bậc chí đức, [cai trị đƣợc nhân dân]. Bậc chí đức thấy đƣợc trong bóng tối, nghe đƣợc trong yên lặng. Trong chỗ mù mịt, chỉ ngƣời đó thấy đƣợc ánh sáng, trong sự yên lặng chỉ ngƣời đó thấy đƣợc hoà âm. Đã sâu sắc lại thêm sâu sắc, huyền diệu lại thêm huyền diệu, nên nuôi đƣợc vạn vật, phát đƣợc tinh hoa. Tiếp ứng với vạn vật thì hƣ tâm mà cung cấp đƣợc nhu cầu cho chúng. Thuận thời mà thích ứng với mọi trƣờng hợp: lớn nhỏ, ngắn dài, gần xa. 693 [8] 4 Vua Hoàng Đế đi chơi ở phía bắc Xích Thuỷ (dòng sông đỏ), leo lên núi Côn Lôn, khi định quay về

223 phƣơng nam thì thấy mất viên ngọc đen (tƣợng trƣng đạo huyền vi), sai Trí (tƣợng trƣng cho trí tuệ) tìm mà không thấy, lại sai Li Chu (tƣợng trung cho sự tinh mắt) 694 [9] tìm mà cũng không thấy, lại sai Khiết Cấu (tƣợng trƣng cho sự biện luận) 695 [10] tìm mà cũng không thấy. Sau cùng sai Tƣợng Võng (tƣợng trƣng cho sự vô tâm) thì thấy. Hoàng Đế bảo: Tƣợng Võng mà tìm nó đƣợc thì lạ thật!. 5 Thầy của vua Nghiêu là Hứa Do, thầy của Hứa Do là Niết Khuyết, thầy của Niết Khuyết là Vƣơng Nghê, thầy của Vƣơng Nghê là Bị Y 696 [11]. Vua Nghiêu hỏi Hứa Do: - Ông Niết Khuyết có thể làm thiên tử đƣợc không? Nếu đƣợc thì tôi nhờ ông Vƣơng Nghê mời ông ấy lại đây. Hứa Do đáp: - Nhƣ vậy sẽ nguy hại cho thiên hạ vì ông Niết Khuyết là ngƣời thông minh tài trí, mẫn tiệp, chỉ tính hơn ngƣời, lại muốn dùng trí tuệ của ngƣời để phục hồi bản tính tự nhiên, hăng hái diệt lỗi lầm của ngƣời mà không hiểu đƣợc nguyên nhân những lỗi lầm ấy. Để ông ấy trị thiên hạ thì ông ấy sẽ tin ở sức ngƣời mà quên thiên nhiên đi. Ông ấy sẽ lấy bản thân ra làm gƣơng, dùng trí tuệ để gấp đạt kết quả. Ông ấy sẽ bị sự việc sai khiến, bị ngoại vật câu thúc; ông ấy sẽ thích ứng với mọi vật mà muốn hợp với mọi ngƣời, chịu mọi ảnh hƣởng mà cứ thay đổi hoài. Nhƣ vậy thì sao đáng đƣợc cai trị thiên hạ? Ông ấy có pháp độ, có căn bản 697 [12], có thể cai trị một đám dân, nhƣng không thể hƣớng dẫn những ngƣời cầm quyền 698 [13]. Dùng trí thì gây đƣợc trật tự mà cũng gây nên loạn, cho nên dùng ông ấy làm bề tôi thì sẽ hoạ, mời ông ấy làm vua thì sẽ tàn mạt. 6

224 Vua Nghiêu đi quan sát miền Hoa. Viên quan giữ biên cƣơng ở đó chào đón: - Ngài là thánh nhân, tôi xin chào thánh nhân, chúc thánh nhân trƣờng thọ. Vua Nghiêu đáp: - Tôi không muốn thọ. - Tôi xin chúc thánh nhân giàu có. - Tôi không muốn giàu. Lại chúc nhiều con trai, vua Nghiêu cũng không muốn. Viên quan đó bèn hỏi: - Ai cũng muốn đƣợc thọ, giàu, nhiều con trai, mà riêng ngài không muốn là tại sao? Vua Nghiêu đáp: - Nhiều con trai thì lo sợ nhiều, giàu thì bận rộn (đa sự), thọ thì bị nhục nhiều. Ba cái đó không giúp ta nuôi cái đức đƣợc; nên ta từ chối. - Lúc nãy tôi coi ông là một thánh nhân, bây giờ mới biết chỉ là hạng quân tử thƣờng thôi. Trời sinh ra con ngƣời, giao cho mỗi ngƣời một chức phận. Ông có nhiều con mà giao cho mỗi con một chức phận thì có gì đâu mà sợ nhiều? Ông giàu có mà phân phát của cải cho ngƣời khác thì sao còn bận rộn? Thánh nhân thì ở nhƣ con chim thuần, ăn thì nhƣ con chim con, 699 [14] đi đâu thì không để dấu vết nhƣ con chim bay, thiên hạ mà bình trị thì cùng hƣởng cảnh thịnh vƣợng với mọi ngƣời, thiên hạ mà loạn lạc thì sửa đức mà ẩn cƣ. Sống ngàn năm rồi, chán cõi trần thì lên tiên, cƣỡi đám mây trắng mà tới cõi Thƣợng Đế. Ba cái tai hoạ [ông kể đó] không xảy ra, thân thể không hoạn nạn, thì sao mà nhục đƣợc? Nói xong, viên quan ấy bỏ đi. Vua Nghiêu chạy theo, bảo:

225 - Cho tôi hỏi vài lời đã. Đáp: - Tôi đi đây. 7 Khi vua Nghiêu trị thiên hạ, phong Bá Thành Tử Cao làm chƣ hầu; rồi vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn lại truyền ngôi cho ông Vũ, Bá Thành Tử Cao bèn bỏ chức chƣ hầu mà về cày ruộng. Ông Vũ lại thăm, thấy ông ta đƣơng cày ruộng, cung kính lại gần, đứng phía dƣới gió, thƣa: - Xƣa vua Nghiêu trị thiên hạ, phong ông làm chƣ hầu; rồi vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho tôi, ông bèn bỏ chức chƣ hầu và về cày ruộng, dám xin ông cho biết tại sao? Tử Cao đáp: - Xƣa vua Nghiêu trị thiên hạ, không khen thƣởng ai mà dân chúng đều gắng sức [làm điều thiện], không trừng phạt ai mà dân sợ. Ông dùng thƣởng phạt mà dân lại bất nhân, đạo đức suy vi, do đó phải đặt ra cực hình. Đời sau mà loạn là bắt đầu từ đây. Thôi ông đi đi, để tôi làm việc. Nói xong, Tử Cao lại cặm cụi làm ruộng, không ngó ngàng tới ông Vũ nữa. 8 Thời khởi thuỷ, chỉ có cái vô, [không có cái hữu ], cái vô không có tên 700 [15]. Từ cái vô sinh ra cái một trƣớc hết 701 [16], cái một không có hình tích. Vạn vật lại từ cái một sinh ra, cho nên gọi nó là Đức. Cái chƣa có hình tích đó phân biệt ra âm dƣơng, âm dƣơng lƣu thâng không ngừng, gọi là mệnh. Âm dƣơng lƣu động mà sinh vạn vật, vật thành rồi thì gọi là hình. Hình thể bảo vệ tinh thần, hai

226 cái đó có qui tắc riêng, gọi là tính. Ai sửa tính của mình thì trở về với Đức. Đức mà tới cực điểm thì hợp nhất với trời đất thời khởi thuỷ mà nhập vô cảnh giới hƣ không. Cảnh giới hƣ không rất lớn. Nó nhƣ con chim hồn nhiên hót, nó đồng nhất với vũ trụ. Đồng nhất với vũ trụ, cho nên nó nhƣ ngu muội, tối tăm, gọi là huyền đức (đức huyền vi). Nó với tự nhiên là một. 9 [Khổng] phu tử nói với Lão Đam: - Có ngƣời tìm hiểu đạo bằng cách ngƣợc đời: cái có thể đƣợc (khả) thì bảo là không thể đƣợc (bất khả), cái nhƣ vậy thì bảo là không phải vậy. Ngƣời ta biện luận nhƣ vầy: Phân biệt sự cứng và sự trắng [của một phiến đá] nhƣ treo riêng mỗi cái trên không trung 702 [17]. Ngƣời nhƣ vậy gọi là thánh đƣợc không? Lão Đam đáp: - Hạng ngƣời nhƣ vậy chỉ nhƣ hạng tôi tớ hay thợ, bị luỵ vì cái kĩ năng của mình mà lao thân, khổ tâm mà thôi. Chó vì giỏi bắt chồn mà bị hoạ, khỉ vì nhanh nhẹn mà bị bắt ra khỏi rừng. Khâu (tên Khổng Tử), tôi cho anh hay một điều mà chƣa ai nói, mà chính anh diễn cũng không đƣợc. Không thiếu gì ngƣời có đủ thân thể từ đầu tới ngón chân mà không có tim, không có tai (nghĩa là không có tinh thần). Họ không hiểu đƣợc rằng cái có hình thể với cái không có hình thể (tức cái trừu tƣợng) không thể đồng thời tồn tại đƣợc 703 [18]. Chẳng hạn động rồi ngừng, sinh rồi chết, suy rồi thịnh, là do Đạo, mà chúng ta không sao biết đƣợc nguyên nhân. Đặt cho nguyên nhân trƣớc sau là do ngƣời. Ngƣời nào quên đƣợc ngoại vật, quên cả thiên nhiên, tức là quên mình thì hoà hợp với tự nhiên. 10 Tƣơng Lƣ Miễn lại thăm Quí Triệt, thƣa: - Vua Lỗ hỏi ý kiến tôi về thuật trị nƣớc. Tôi không từ chối đƣợc nên phải đáp, không biết đúng hay không, xin trình lại với ông. Tôi nói với vua Lỗ: Phải cung kính và tiết kiệm, đề bạt những ngƣời công tâm, trung chính, không che chở những kẻ a dua với mình, nhƣ vậy không ai đám trái mình.

227 Quí Triệt cƣời sằng sặc, đáp: - Ông khuyên các vua chúa nhƣ vậy [mà họ theo ông] thì không khác gì con bọ ngựa đƣa hai cái càng lên để cản chiếc xe, làm sao cản nổi mà còn nguy vào thân nữa. Vua Lỗ mà nêu cao những đức ấy để dùng ngƣời thì số ngƣời tự tiến thân rất đông. Tƣơng Lƣ Miễn ngạc nhiên, bảo: - Tôi không hiểu ý ông, xin ông chỉ cho tôi đại cƣơng đạo của ông. Quí Triệt đáp: - Bậc đại thánh trị dân thì giải phóng lòng dân [nghĩa là không bó buộc họ], giáo dục họ bằng cách sửa đổi phong tục, diệt mầm xấu của họ và để họ tuỳ theo khuynh hƣớng của họ. Nhƣ vậy họ theo bản tính tự nhiên mà không hiểu tại sao. Trị dân nhƣ vậy thì đâu có trọng phƣơng pháp dạy dân của Nghiêu, Thuấn mà bắt chƣớc hai ông đó. Chỉ hoà đồng với cái Đức mà lòng tự nhiên đƣợc yên. 11 Tử Cống (một môn đệ của Khổng Tử) sau khi xuống nƣớc Sở ở phƣơng Nam, trở về Tấn, đi qua đất Hán Âm, thấy một ông lão đƣơng làm vƣờn. Ông ấy xuống một đƣờng hầm, vô một cái giếng, rồi xách một vò nƣớc để tƣới rau. Cực nhọc mà kết quả chẳng đƣợc bao. Tử Cống nói với ông Lão: - Có một cái máy một ngày có thể tƣới đƣợc một trăm luống rau, cụ muốn dùng không? Ông lão ngững lên nhìn Tử Cống, hỏi: - Cái máy ấy ra sao? - Máy ấy bằng gỗ đục, phía sau nặng, phía trƣớc nhẹ, đƣa [vò] nƣớc lên nhƣ thể kéo bằng tay vậy, mau nhƣ nƣớc sôi tràn nồi. Tên nó là cái cao 704 [19].

228 Ông lão làm vƣờn nghe xong, nổi giận, đỏ mặt lên, cƣời nhẹ, bảo: - Lão nghe thầy lão nói rằng hễ dùng cơ giới thì tất có cơ tâm (lòng máy móc), có cơ tâm thì không còn thiên tính trong trắng nữa mà tâm thần không yên ổn, tâm thần không yên ổn thì Đạo sẽ lánh xa, không che chở mình nữa. Lão không phải không biết cái lợi của cơ giới, nhƣng cho dùng nó là nhục, thế thôi. Tử Cống xấu hổ, cúi đầu không đáp. Một lát sau, ông lão làm vƣờn mới hỏi: - Chú là ai? - Thƣa, một môn đệ của Khổng Khâu. - Chú phải thuộc hạng ngƣời muốn học cho rộng để đòi làm ông thánh, hô hào để thiên hạ theo mình, gãy đàn, ca hát than thở để chuốc danh đấy không? Chú nên quên thần khí, bỏ hình hài của chú đi thì may ra mới gần đƣợc Đạo. Thân chú, chú còn không trị đƣợc thì làm sao trị đƣợc thiên hạ? Thôi đi đi, để lão làm việc. Tử Cống xấu hổ, tím mặt lại, sợ sệt. Không trấn tỉnh lại đƣợc ngay. Đi ba chục dặm rồi tâm thần mới định. Bọn đệ tử hỏi Tử Cống: - Ngƣời lúc nãy là ai vậy? Tại sao thầy biến sắc suốt ngày nhƣ vậy? Tử Cống Đáp: - Trƣớc kia ta cho rằng trong thiên hạ chỉ có mỗi một ngƣời [là Khổng Tử], không ngờ còn ông lão này. Ta nghe thầy ta dạy: Hành động thì phải hợp với thời cơ, công nghiệp thì phải tính sao cho thành công. Dùng sức ít mà kết quả nhiều, đó là đạo của thánh nhân. Lời của ông lão nay khác khác hẳn; [ông ấy khuyên] hễ giữ đƣợc Đạo thì cái Đức mới toàn vẹn, Đức toàn vẹn thì hình thể mới toàn vẹn, hình thể toàn vẹn thì tinh thần đƣợc toàn vẹn. Giữ cho tinh thần toàn vẹn là đạo của thánh nhân. Thánh nhân sống tạm ở đời này cũng nhƣ mọi ngƣời, không biết [chết rồi] về đâu. Thật là hoàn toàn

229 trong sạch. Ngƣời nào chỉ nghĩ tới cái lợi mà dùng cơ giới là không giữ đƣợc cái tâm nhƣ ông lão ấy. Ông ấy chỉ theo ý chí của mình, hành động theo lòng mình. Dù đƣợc cả thiên hạ khen vả theo lời mình, ông ấy cũng thản nhiên; dù bị thiên hạ chê là lời ông ấy không theo đƣợc, ông ấy cũng không buồn. Khen hay chê cũng không làm ông ấy thay đổi gì cả, nhƣ vậy là toàn đức. Ta chỉ là hạng ngƣời dễ bị ảnh hƣởng của ngƣời khác nhƣ làn sóng dƣới gió. Về tới Lỗ, Tử Cống kể lại chuyện ấy với Khổng Tử. Khổng Tử bảo: Ngƣời đó hiểu lầm đạo thuật của thời nguyên thuỷ hỗn mang. Ngƣời đó biết một mà không biết hai, biết trị nội tâm mà không biết trị ngoại vật. Giữ cái tâm sáng suốt, chất phác, vô vi để trở về với tự nhiên, giữ đƣợc bản tính và tinh thần, ngao du trong cõi thế tục, cái đó có gì cho anh ngạc nhiên? Đạo thuật của thời nguyên thuỷ hỗn mang, có đáng gì cho thầy trò mình biết?. 12 Tối-tăm-dày-đặc đi ra biển lớn, gặp Gió-lốc ở bờ biển Đông. Gió-lốc hỏi: - Anh đi đâu vậy? Tối-tăm-dày-đặc đáp: - Ra biển lớn. - Để làm gì? - Biển lớn là chỗ nƣớc đổ vào bao nhiêu cũng không đầy, tát đi bao nhiêu cũng không cạn. Tôi muốn đi chơi cho biết. Gió-lốc bảo: - Tuy ông không để mắt gì tới dân chúng, nhƣng tôi cũng xin ông cho nghe cái đạo của thánh nhân. - Thánh nhân trị dân nhƣ vầy: đặt ra các chức quan theo nhu cầu, giao chức vụ tuỳ theo tài năng của mỗi ngƣời, hiểu hết sự tình của dân và thuận theo khuynh hƣớng của dân mà làm. Ngƣời trị dân mà nói và làm đúng theo qui tắc ấy thì dân tự nhiên cảm hoá. Chỉ đƣa ngón tay lên hay liếc mắt mà dân

230 chúng bốn phƣơng đều qui phụ. Đó là đạo trị dân của thánh nhân. Gió-lốc lại hỏi: - Xin ông cho nghe hành vi của ngƣời có đức. - Ngƣời có đức ở không thì không nghĩ gì cả, hành động thì không lo lắng gì cả; không phân biệt phải trái, đẹp xấu. Dân bốn bể đƣợc lợi là ngƣời ấy vui rồi, dân bốn bể đủ ăn mặc là ngƣời ấy yên tâm rồi. Không biết nhờ cậy ai nhƣ em bé mồ côi mẹ, hoang mang nhƣ ngƣời đi lạc đƣờng. Có của cải, thức ăn mà không biết do đâu. Nhƣ vậy là ngƣời có đức. - Bây giờ xin ông nói cho nghe về bậc thần nhân. - Bậc thần nhân siêu việt thì cƣỡi ánh sáng, cho nên hình thể không có dấu vết. Nhƣ vậy là chiếu sáng khắp vũ trụ. Tận dụng sự phú bẩm của mình, phát triển hết bản tính của mình. Cùng vui với trời đất mà không luỵ về việc đời. Vạn vật trở về bản nguyên. Nhƣ vậy là hợp nhất với trạng thái hỗn mang nguyên thuỷ. 13 Môn Vô Quỉ và Xích Trƣơng Mãn Kê coi đoàn quân của vua Vũ diễn qua. Xích Trƣơng Mãn Kê bảo: - Vua Vũ kém vua Thuấn, cho nên phải dùng đến cái [mầm] tai hoạ này (tức binh đội). Môn Vô Quỉ hỏi: - Nhƣng khi vua Thuấn lên ngôi, thiên hạ đã bình trị rồi ƣ? Hay thiên hạ đang loạn mà vua Thuấn bình trị đƣợc? 705 [20] - Nếu thiên hạ bình trị rồi thì đâu phải nhờ tới vua Thuấn? Ống Thuấn đã đắp thuốc lên đầu một vết thƣơng ở đầu, đội tóc mƣợn lên cái đầu hói. Có đau mới mời thầy thuốc. Ngƣời con có hiếu đem

231 thuốc lại dâng cha hiền mà mặt rầu rầu. Thánh nhân thấy vậy làm nhục 706 [21]. Thời chí đức thì ngƣời ta không trọng ngƣời hiền, không dùng ngƣời tài giỏi. Ngƣời cầm quyền nhƣ những cành cao (nghĩa là ở trên mọi ngƣời), dân [tự do, vui vẻ] nhƣ con hƣơu trên đồng. Ai nấy đều đoan chính mà không biết nhƣ vậy là hợp nghĩa; đều yêu nhau mà không biết nhƣ vậy là có đức nhân; đều thành thực mà không biết nhƣ vậy là trung thành; đều giữ lời mà không biết nhƣ vậy là có đức tín; đều giúp đỡ nhau mà không biết nhƣ vậy là làm ơn cho nhau. Vì vậy mà hành vi của họ không để lại hình tích gì cả, sự nghiệp của họ không đƣợc truyền lại. 14 Ngƣời con có hiếu không a dua với cha mẹ, ngƣời bề tôi trung không nịnh bợ vua. Làm con và bề tôi nhƣ vậy là đƣợc. Nếu cha mẹ nói gì con cũng nhận là phải, làm gì con cũng khen là tốt, thì ngƣời ta cho là đứa con hƣ; nếu vua nói gì bề tôi nhận là phải, làm gì bề tôi cũng khen là tốt, thì ngƣời ta cho là hạng bề tôi xấu. Ngƣời ta thƣờng phán đoán nhƣ vậy mà không biết nhƣ vậy đúng hay sai. Nhƣng nếu có ai nhận là phải điều gì mà mọi ngƣời nhận là phải, khen là tốt việc gì mà mọi ngƣời khen là tốt, thì lại không mang tiếng a dua, nịnh bợ. Nhƣ vậy thì chẳng hoá ra kính trọng ngƣời đời hơn cha mẹ cùng vua của mình ƣ? Nếu có ai bảo ta là a dua, nịnh bợ thì ta nổi giận, đỏ mặt lên, vậy mà ta suốt đời a dua, nịnh bợ ngƣời đời. Này nhé, chúng ta so sánh, dùng lời hoa mĩ để đƣợc nhiều ngƣời đứng về phía mình, thế mà trƣớc sau chẳng ai trách ta cả; chúng ta trang sức y phục, tô điểm màu sắc, trao chuốc dung mạo, để làm vui lòng mọi ngƣời, vậy mà không tự nhận mình là a dua, nịnh bợ. Ngƣời nào chỉ bắt chƣớc ngƣời khác, phụ hoạ với họ, họ cho là phải mình cũng cho là phải, họ cho là trái mình cũng cho là trái, ngƣời nào nhƣ vậy mà không tự nhận mình thuộc đám quần chúng, thì thật chí ngu. Ngƣời nào nhận mình là ngu chƣa phải là đại ngu, ngƣời nào nhận mình là mê hoặc thì chƣa phải là rất mê hoặc. Ngƣời nào rất mê hoặc thì không bao giờ tỉnh ngộ đƣợc; ngƣời nào đại ngu thì trọn đời không bao giờ sáng suốt đƣợc. Ba ngƣời cùng đi mà có một ngƣời mê hoặc thì còn có thể đi tới chốn đƣợc vì số mê hoặc ít hơn số ngƣời sáng suốt. Nếu hai ngƣời mê hoặc thì mệt nhọc mà không sao tới chốn đƣợc, vì số ngƣời mê

232 hoặc nhiều hơn số ngƣời sáng suốt. Ngày nay, cả thiên hạ mê hoặc, tôi có muốn tìm đúng đƣờng đi cũng không đƣợc. Buồn thật. Hạng ngƣời thƣờng không hiểu nổi thứ âm nhạc cao nhã, mà nghe những bài Chiết liễu (Bẻ liễu), Hoàng hoa (Hoa rực rỡ) họ thích thú và cƣời. Cũng vậy, những lời thanh cao không làm cảm động đƣợc hạng ngƣời thƣờng, những lời cực cao không thể phát ra đƣợc vì bị những lời thế tục át mất. Nhƣ tới ngã ba, không biết theo đƣờng nào 707 [22] thì không thể tới chốn đƣợc. Ngày nay, cả thiên hạ mê hoặc, tôi có muốn tìm đúng đƣờng cũng không biết làm sao tìm đƣợc? Biết rằng không thể đƣợc mà cứ miễn cƣỡng tìm nó cho đƣợc thì cũng lại là mê hoặc nữa. Không bằng bỏ mặc mà không tìm gì cả, không tìm gì cả thì ai là ngƣời cùng lo buồn với tôi? 708 [23] Một ngƣời đàn bà cùi nửa đêm sanh con, vội vàng đem đèn lại coi xem nó có giống mình không. 709 [24] 15 Cây trăm năm cƣa ra làm chén thờ sơn xanh sơn vàng, còn gỗ dƣ đem ném xuống hào. So sánh những chén thờ và gỗ dƣới hào ấy thì đẹp xấu khác nhau xa nhƣng đều là mất bản tính cả. Đạo Chích với Tăng Sâm, Sử Ngƣ cũng vậy, tuy khác nhau về đức hạnh, nghĩa khí nhƣng cũng mất bản tính nhƣ nhau. Có năm cách mất bản tính: 1- ngũ sắc làm loạn mắt mà mắt hoá mờ, 2- ngũ âm làm loạn tai mà tai hết thính, 3- năm mùi làm nghẹt mũi mà xông lên tới óc, 4- ngũ vị làm dơ miệng mà miệng lạt đi, không nếm đƣợc nữa, 5- thích và ghét làm loạn cái tâm mà tâm tính hoá ra phù táo (dễ nóng nảy). Năm loại đó đều làm hại bản tính. Vậy mà Dƣơng Chu và Mặc Địch lại dụng tâm biểu hiện tài năng, cho mình là đắc ý. Tôi không nghĩ vậy. Đắc ý mà bị khốn, còn bảo là đắc ý đƣợc nữa không? Bảo là đƣợc thì nhƣ con chim cƣu, con chim hào ở trong lồng kia, cũng có thể bảo là đắc ý đƣợc. Cũng vậy, hạng ngƣời bị sự thích và ghét thanh sắc làm tắc nghẽn nội tâm, bị mũ da, mũ lông, cái hốt, cái đai, quan trùng áo dài và các đồ trang sức trói buộc hình hài, mà nội tâm thì bị tắc nghẽn, rào kín, nhƣ thể bị dây lớn ràng buộc cũng có thể cho là đắc ý đƣợc; mà bọn tội nhân bị trói tay cột chân, các con hổ con báo bị nhốt trong chuồng, cũng có thể tự coi là đắc ý nữa.

233 * (Chương này và hai chương sau có nhiều điểm giống nhau nên sẽ có nhận định chung ở cuối chương XIV). Chú thích: 710 [1] Vì có câu ở dƣới, nên một nhà chú giải Trang tử, Vƣơng Thục Mân bảo nguyên văn chép lộn. Không phải là: thông ư thiên địa giả, Đức dã; hành ư vạn vật giả, Đạo dã. Nên sửa là: thông ư thiên giả, Đạo dã; thuận ư địa giả, Đức dã; hành ư vạn vật giả, nghĩa dã. Và các bản dịch bây giờ đều theo Vƣơng. 711 [2] Bài này mỗi sách giảng một khác. Chẳng hạn câu cuối, nguyên văn là: Thông ư nhất nhi vạn sự tất, vô tâm đắc nhi quỉ thần phục. L.K.h. dịch: Hiểu đƣợc sự đồng nhất nguyên thuỷ thì thành công trong mọi việc; không có thành kiến thì quỉ thần kính phục. Tôi nghĩ nhất đó là đạo vô vi, mà vô tâm tức là vô dục trong câu trên. 712 [3] Không rõ ai. Có sách bảo là Lão tử hay Khổng Tử; có sách bảo là Trang tử. 713 [4] Có sách khép dấu ngoặc kép ở đây, có sách tới cuối bài mới khép dấu ngoặc kép. 714 [5] Nguyên văn: hiển tắc minh. Nghĩa từng chữ: có danh vọng thì sáng. L.K.h. dịch là: ai tự cho mình có danh vọng thì tất phô trƣơng ra. Giảng nhƣ vậy gƣợng quá. Các sách khác giảng cũng không xuôi. Chẳng hạn H.C.H. giảng là: hiển thì sáng suốt, không phân biệt mình và vạn vật. Tiền Mục ngờ rằng ba chữ đó chỉ là lời chú thích của ngƣời đời sau. 715 [6] Chữ sinh ở đây phải đọc là tính. 716 [7] Nghĩa là vô tâm, cứ thuận theo thiên nhiên.

234 717 [8] Có sách bảo ở đây mất mấy chữ, nên nghĩa không rõ. [Trong sách thiếu dấu ngoặc kép khép lại; tôi tạm đặt nó ở đây Goldfish]. 718 [9] Li Chu là ngƣời rất tinh mắt, ngoài trăm thƣớc thấy đƣợc đầu lông mùa thu. Có thể hiểu là tƣợng trƣng cho trực giác. 719 [10] Có sách giảng là tƣợng trƣng cho sự phân tích, nghĩa cũng vậy. 720 [11] Về ba nhân vật Niết Khuyết, Vƣơng Nghê, Bị Y, coi chú thích bài 1 chƣơng VII. Niết Khuyết tƣợng trƣng cho trí tuệ phân tích. 721 [12] Nguyên văn: hữu tộc, hữu tổ (có họ hàng, tổ tiên), mỗi sách giảng một khác. 722 [13] Nguyên văn: bất khả dĩ vi chúng phụ phụ: không thể làm cha của bậc cha dân. 723 [14] Có sách chú giải con chim thuần ở không có chỗ nhất định, chim con đƣợc chim mẹ mớm cho. Có lẽ tác giả muốn nói thánh nhân nay đây mai đó, tới đâu cũng đƣợc ngƣời ta cung cấp cho, ăn uống rất ít. 724 [15] Lão tử đã nói: Vô danh, thiên địa chi thuỷ (cái không có tên là nguồn gốc của vạn vật) 725 [16] Lạo tử đã nói: Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. 726 [17] Nguyên văn: Li kiên bạch, nhược huyền ngụ. Mỗi nhà giảng một khác. Tôi theo Nghiêm Phục. Cứng và trắng, hai cái đó đều thuộc vào một phiến đá mới thấy nghĩa là phải thuộc vào một cái gì cụ thể. Nay tách chúng ra khỏi phiến đá, chúng thành ra trừu tƣợng, nhƣ vậy thì không khác gì treo chúng lên không trung. L.K.h. dịch là: Có thể phân biệt sự cứng và sự trắng của một phiến đá cũng dễ dàng nhƣ nhƣ phân biệt những vật treo trong nhà. 727 [18] Cả đoạn này, mỗi sách giảng một khác, mà đều không xuôi. Ngƣời viết bài này không biết rằng thời Khổng Tử chƣa có thuyết li kiên bạch ƣ? Hay là biết mà bất chấp lịch sử? 728 [19] Tức cây cần vọt thƣờng dùng ở miền Trung, Đông Nam Kì (BT). 729 [20] Có lẽ tác giả muốn nói: hễ loạn thì phải dùng binh, phải dùng binh hay không dùng binh là do hoàn cảnh, chứ không nhứt định rằng ông vua không phải dùng binh là một vua hiền.

235 730 [21] Nghĩa là thánh nhân trị nƣớc không để cho tới nổi loạn mà phải dùng binh, cũng nhƣ để tới đau rồi phải dùng thuốc. 731 [22] Nguyên văn: dĩ nhị thuỳ chung hoặc. Các sách Trung Hoa đều giải thích nhƣ vậy. L.K.h. chắc theo một bản trong đó chữ chung viết là chúng (gót chân) nên dịch là: treo gót chân lên không thì làm sao tới chốn đƣợc. [Câu tƣơng ứng, các trang trên mạng đề chép: 以二缶钟惑 (dĩ nhị phẫu chung hoặc), theo bác Vvn giải thích thì chữ 缶 đọc là phẫu (hoặc phữu; chứ không phải thuỳ), ám chỉ khúc nhạc có âm thanh thô lậu, thô tục nhƣ tiếng gõ chậu sành; và nghĩa cả câu là: bị hai cái khúc hát thô lậu trên làm cho hồ đồ Goldfish] 732 [23] L.K.h. dịch là: không bằng bỏ mặc, đừng kích thích đời nữa, mà an tâm sống với nó. Nguyên văn: Thuỳ kì tỉ ưu? 733 [24] Câu cuối bài này, Nghiêm Phục bảo là một đoạn riêng, không liên quan gì với cả bài. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XIII ĐẠO TRỜI (Thiên đạo) 1 Đạo trời vận hành không ngừng mà làm cho vạn vật sinh thành, đạo vua thi hành không ngừng mà thiên hạ qui phụ, đạo thánh thi hành không ngừng nên bốn bể khâm phục. Hiểu đạo trời thì hiểu đạo thánh và hiểu đƣợc đức của đế vƣơng mọi thời và mọi nơi 734 [1], mà hồn nhiên hành động một cách âm thầm, yên lặng 735 [2]. Thánh nhân yên lặng, không phải vì coi sự yên lặng là tốt, mà vì lòng mình không bị vạn vật làm náo động. Nƣớc mà tĩnh thì phản chiếu đƣợc râu và lông mày; mặt nó thật phẳng, có thể làm bình chuẩn cho thợ mộc đƣợc. Nƣớc tĩnh mà còn sáng đƣợc [nghĩa là còn

236 phản chiếu đƣợc các vật], huống hồ là tinh thần, cái tâm linh của thánh nhân. Tâm đó là tám gƣơng của vũ trụ. Sự hƣ tĩnh, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là bình chuẩn của vũ trụ, mức chí cao của đạo đức. Cho nên các đế vƣơng, thánh nhân để cho tâm thần nghỉ ngơi. Tâm thần nghỉ ngơi thì mới hƣ không, hƣ không thì đầy, đầy thì đủ 736 [3]. Tâm thần hƣ không thì tĩnh, do cái tĩnh đó mà phát động thì việc nào cũng hợp nghi. Tĩnh thì vô vi, ngƣời trên mà vô vi thì ngƣời dƣới làm tròn trách nhiệm. Vô vi thì vui vẻ, vui vẻ thì không lo lắng gì cả mà trƣờng thọ. Hƣ tĩnh, điềm đạm, tịch mịch, vô vi là gốc của vạn vật. Ngƣời hiểu lẽ đó mà trị dân là vua Nghiêu; ngƣời hiểu lẽ đó mà thờ vua là vua Thuấn. Theo đạo ấy mà ở ngôi cao thì là có cái đức của đế vƣơng, thiên tử; còn ở ngôi thấp thì thành ông thánh tối tăm [ít ngƣời biết tới] hoặc ông vua không ngôi 737 [4]. Theo đạo ấy mà ẩn cƣ, nhàn nhã ngao du thì đƣợc tất cả các kẻ sĩ yêu cảnh sông biển, núi rừng cảm phục. Theo đạo ấy mà tiến thân, giúp đời thì lập đƣợc sự nghiệp lớn, nổi danh và thống nhất đƣợc thiên hạ. [Theo đạo ấy,] tĩnh [nghĩa là ẩn cƣ] thì thành thánh, mà động [ra giúp đời] thì thành vua. Vô vi mà đƣợc tôn trọng, thuần phác mà không ai ganh với đức của mình đƣợc. 2 Hiểu rõ cái đức của trời đất thì là thấy đƣợc cái gốc lớn, cái tôn chỉ lớn, mà hoà hợp với trời; quân bình thiên hạ mà hoà hoà hợp với ngƣời. Hoà hợp với ngƣời thì vui, hoà hợp với trời thì chia cái vui với trời. Trang tử bảo: Hỡi đại tôn sư của tôi, đại tôn sư của tôi! Người làm cho mọi vật điêu tàn mà không phải là tàn nhẫn, Người gia ân cho tới vạn đại mà không phải là vì nhân. Người có trước thời thượng cổ mà không phải là thọ, Người che chở trời đất, đục đẽo mọi hình thể mà không phải là khéo; Đó là cái vui của trời. 738 [5]

237 Cho nên bảo: Ai biết đƣợc cái vui của trời thì sống là hành động thuận với trời, chết là biến hoá cũng nhƣ mọi vật, tĩnh thì cũng tịch mịch nhƣ khí âm, động thì cũng xô đẩy, biến thiên nhƣ khí dƣơng. Ai biết đƣợc cái vui của trời thì không bị trời giận, không bị ngƣời chê, không bị luỵ vì vật, không bị quỉ thần trách. Cho nên bảo: Ngƣời đó động thì nhƣ trời, tĩnh thì nhƣ đất, tâm thần hợp với vũ trụ mà làm vua thiên hạ, quỉ thần không gây hoạ đƣợc, tâm hồn không bao giờ mệt mỏi; tâm thần hợp với vũ trụ, vạn vật phải qui phục. Nghĩa là đem cái hƣ tĩnh truyền khắp vũ trụ, tới vạn vật; nhƣ vậy gọi là cái vui của trời. Cái vui của trời là cái lòng của thánh nhân để nuôi thiên hạ 739 [6]. 3 Cái đức tháo của đế vƣơng là lấy trời làm căn bản, lấy đạo đức làm chủ, lấy vô vi làm qui tắc. Theo qui tắc vô vi thì trị đƣợc thiên hạ mà còn dƣ sức, nên hữu vi thì bị thiên hạ sai khiến mà vẫn không đủ sức. Cho cổ nhân rất trọng sự vô vi. Ngƣời trên mà vô vi, ngƣời dƣới cũng vô vi nữa, thế là dƣới cũng có đức nhƣ trên mà không có bề tôi nữa. Cũng vậy, nếu ngƣời dƣới hữu vi, ngƣời trên cũng hữu vi, thế là trên dƣới cùng một đạo, mà không có vua nữa. Vậy trên phải vô vi mà trị thiên hạ, dƣới phải hữu vi để giúp thiên hạ, đó là luật bất di bất dịch 740 [7]. Cho nên cổ nhân trị thiên hạ, tuy trí tuệ có thể bao quát thiên hạ mà không dùng nó để mƣu tính gì cả; tài ngôn luận tuy có thể hơn cả thiên hạ mà cũng không dùng tới; tài năng tuy vƣợt cả mọi ngƣời trong bốn bể, mà cũng không dùng tới. Trời không có ý sinh sản mà vạn vật tự nhiên sinh hoá, đất không có ý nuôi cho lớn mà vạn vật tự nhiên đƣợc nuôi lớn. Bậc đế vƣơng vô vi mà thiên hạ tự nhiên thành công. Cho nên bảo không có gì thần diệu bằng trời, không có gì phong phú bằng đất, không có gì lớn bằng đế vƣơng. Cho nên bảo đức của đế vƣơng ngang với trời đất. Đó là cái đạo cƣỡi trời đất, rong ruổi vạn vật, sai khiến mọi ngƣời. 4 Cái chính ở trong tay ngƣời trên, cái phụ trong tay ngƣời dƣới; đại thể thuộc về vua, chi tiết thuộc về

238 bề tôi. Quân đội và binh khí 741 [8] là cái phụ của cái đức; thƣởng phạt, lợi hại, ngũ hình 742 [9] là cái phụ của giáo dục; lễ, pháp, điển chƣơng, so sánh, thẩm sát, chức tƣớc, là cái phụ của việc trị nƣớc; tiếng chuông, tiếng trống, các đồ trang sức bằng bông, là cái phụ của nhạc; gào thét, thống thiết, phân biệt các tang phục là cái phụ của việc để tang. Năm cái phụ đó phải vận động tinh thần, tâm thuật mới có hiệu quả 743 [10]. Đó là cái học thấp nhất [mạt học], cổ nhân cũng có ngƣời dùng, nhƣng không cho là chính. Vua đề xƣớng rồi bề tôi theo; cha đề xƣớng rồi con theo; anh đề xƣớng rồi em theo; già đề xƣớng rồi trẻ theo; trai đề xƣớng rồi gái theo; chồng đề xƣớng rồi vợ theo. Có quí có hèn; có trƣớc có sau, đó là trật tự của trời đất; thánh nhân theo trật tự ấy. Trời cao, đất thấp, đó là vị trí của thần minh. Xuân hạ trƣớc rồi mới tới thu đông, đó là trật tự của bốn mùa. Vạn vật sinh trƣởng, hình trạng khác nhau, thịnh suy khác nhau, đó là dòng biến hoá của vũ trụ. Nhƣ trời đất cực thần minh kia mà còn có tôn ti, trƣớc sau, huống hồ là ngƣời. Ở tôn miếu thì trọng những bậc vào hàng ông cha mình, ở triều đình thì trọng chức tƣớc, ở hƣơng đảng thì trọng ngƣời già, xử sự thì trọng ngƣời hiền, đó là trật tự của đại đạo 744 [11]. Nói tới đạo mà không nói tới trật tự thì không còn là đạo nữa. Nói tới đạo mà không thi hành theo trật tự của đạo thì làm sao gọi là giữ đạo đƣợc? Cổ nhân muốn làm sáng đại Đạo thì trƣớc hết làm sáng cái luật trời (tự nhiên) 745 [12], rồi tới Đạo và Đức; sau Đạo và Đức tới nhân nghĩa, rồi tới chức vụ, rồi tới danh phận; tuỳ tài năng mà giao nhiệm vụ, rồi quan sát [kẻ dƣới làm việc ra sau], khen hay chê, thƣởng hay phạt; nhƣ vậy ngƣời khôn kẻ ngu đƣợc đặt đúng chỗ, sang và hèn ở đúng địa vị, hiền tài và bất tài làm việc theo khả năng của mình. Phải chia ra nhiều hạng theo khả năng rồi tuỳ khả năng mà định danh phận. Phải theo cách ấy mà thờ ngƣời trên, nuôi kẻ dƣới, trị dân và tu thân. Không dùng trí mƣu mà cứ theo luật thiên nhiên, nhƣ vậy gọi là cực trị. Sách có câu: Phải phân biệt chức vụ và danh phận. Ngƣời xƣa đã phân biệt nhƣ vậy nhƣng không cho đó là quan trọng. Ngƣời xƣa luận về đại đạo cho sự phân biệt chức vụ và danh phận đứng vào hàng thứ năm, sự thƣởng phạt đứng vào hàng thứ chín. Vội vàng mà xét tới sự phân biệt chức vụ và danh phận thì không biết đƣợc qui tắc của nó, vội vàng mà xét tới sự thƣởng phạt thì không đƣợc biết nguyên do của nó. Nhƣ vậy là nói ngang, ngƣợc với đạo, sẽ bị ngƣời khác cai trị mình chứ làm sao

239 cai trị ngƣời đƣợc. Ngƣời nào vội vàng xét tới chức vụ và danh phận, thƣởng và phạt, mới chỉ là biết khí cụ để cai trị, chứ không biết nguyên tắc cai trị, nhƣ vậy thì phải để cho thiên hạ sai khiến mình chứ không đáng sai khiến thiên hạ. Đó là hạng biện sĩ 746 [13] chỉ biết đƣợc một thuật nào đó thôi. Cổ nhân biết rõ lễ pháp, chế độ, chức vụ và danh phận, cách thẩm sát. Đó là những cái ngƣời dƣới dùng để thờ ngƣời trên, chứ không phải ngƣời trên dùng để nuôi ngƣời dƣới. 747 [14] 5 Xƣa ông Thuấn hỏi vua Nghiêu: - Bệ hạ dụng tâm ra sao? Vua Nghiêu đáp: - Quả nhân không khinh hạng dân không biết kêu ca, không bỏ kẻ bần cùng, chia buồn với những gia đình có ngƣời chết, chung vui với những gia đình có trẻ con, thƣơng xót đàn bà cô quả. Quả nhân dụng tâm nhƣ vậy. - Tốt đẹp rồi đấy, nhƣng chƣa phải là vĩ đại. - Vậy quả nhân phải làm sao nữa. Ông Thuấn đáp: - Ai hoà hợp với đức trời thì tuy hành động mà vẫn ở yên, nhƣ mặt trời mặt trăng chiếu khắp, bốn mùa vận hành, hết ngày đến đêm, mây tới thì mƣa đổ. - Chính sách của quả nhân phiền phức, đa sự thật. Nhƣ ông là hoà hợp với đức trời, quả nhân chỉ hợp với ngƣời thôi. Ngƣời xƣa cho trời đất là lớn. Vua Hoàng Đế, vua Nghiêu, vua Thuấn đều ca tụng đức của trời đất. Cho nên ngƣời xƣa cai trị dân có làm gì khác là noi gƣơng trời đất đâu.

240 6 Khổng Tử qua phƣơng Tây 748 [15] để gởi sách của mình vào đồ thƣ quán của nhà Chu. Môn đệ là Tử Lộ thƣa: - Con nghe nói có một vị giữ đồ thƣ quán tên là Lão Đam nay đã từ chức mà về vƣờn. Thầy muốn gởi sách vào đồ thƣ quán thì thử lại hỏi ông ấy xem sao. Khổng Tử đáp: - Ý kiến đó hay. Rồi lại yết kiến Lão Đam. Lão Đam không chấp nhận. Khổng Tử bèn trình bày đại ý trong mƣời hai cuốn kinh 749 [16] để thuyết phục Lão Đam. Nghe xong và đồng ý rồi, Lão Đam bảo: - Rƣờm quá, ông tóm tắt lại đại cƣơng đi. - Đại cƣơng chỉ gồm nhân và nghĩa. - Xin hỏi nhân và nghĩa có phải là bản tính con ngƣời không? - Phải. Ngƣời quân tử không có nhân thì không hoàn thiện đƣợc, không có nghĩa thì không sống đƣợc. Nhân và nghĩa quả là bản tính con ngƣời, không có hai cái đó thì còn làm gì đƣợc nữa? - Xin hỏi thế nào là nhân và nghĩa. - Trong lòng vui vẻ yêu mến mọi ngƣời, không riêng tƣ, phân biệt, nhƣ vậy là nhân và nghĩa. - A, cơ hồ là thuyết ngƣời ta bày đặt ra sau này [chứ hồi nguyên thuỷ, bản tính con ngƣời đâu phải

241 vậy]. Nói tới kiêm ái chẳng phải là viễn vong ƣ? Rán cho vô tƣ, tức là còn cái ý thiên tƣ rồi đấy. Ông muốn cho thiên hạ còn đƣợc nuôi nấng không? Nếu muốn thì xét những luật nhất định của trời đất kìa. Mặt trăng mặt trời có ánh sáng riêng, tinh tú có hàng có lối, cầm thú có bầy có đàn, cây cối tự sinh trƣởng đƣợc. Ông chỉ nên để cho mỗi loài thuận theo cái đức của mình mà phát triển hợp với đạo trời, nhƣ vậy sẽ hoàn thiện. Tại sao lại cứ đề cao nhân nghĩa, khác gì đánh trống để tìm ngƣời thất lạc vậy? Ông chỉ làm cho mê loạn bản tính con ngƣời thôi. 750 [17] 7 Sĩ Thành Khỉ 751 [18] lại yết kiến Lão tử, bảo: - Nghe tiếng ông là một bậc thánh cho nên tôi không ngại đƣờng xa tới đây xin yết kiến. Đi cả trăm ngày đƣờng 752 [19], chân chai lên mà không dám nghỉ. Bây giờ tôi thấy ông không phải là ông thánh. Chung quanh hang chuột thấy ông bỏ phí những rau thừa, nhƣ vậy là bất nhân. Những thức ăn sống và chín bày la liệt trƣớc mặt, sao ông chất chứa nhiều đến thế? Lão tử thản nhiên không đáp. Hôm sau Sĩ Thành Khỉ trở lại yết kiến, bảo: - Hôm qua tôi chỉ trích ông, hôm nay tôi thấy trong lòng không yên. Sao vậy? Lão tử đáp: - Ngƣời ta có khen tôi là khôn khéo, sáng suốt, thần hay thánh, tôi cũng không quan tâm tới; và hôm qua chú có gọi tôi là bò, là ngựa, ừ thì là bò, là ngựa. Ngƣời ta cho tôi một cái tên, nếu xứng, mà tôi không nhận thì bị ngƣời ta chê trách tới hai lần. Thái độ tôi lúc nào cũng an nhiên, không miễn cƣỡng. Sĩ Thành Khỉ [xấu hổ] đi ngang ngang dang ra, tránh dẫm lên bóng của Lão tử, rồi vội vàng 753 [20]

242 quay trở lại, tới gần Lão tử, hỏi về cách tu thân. Lão tử đáp: - Nét mặt chú kiêu căng, mắt chú láo liên, trán chú dồ, miệng chú rộng, thái độ chú tự cao, chú nhƣ con ngựa đang chạy mà bị cột lại; chú hung hăng muốn hành động nhƣng nên tự kìm lại, chú muốn bật ra nhƣ cái máy, chú nhận xét, tự biết rằng mình trí xảo, nên có thái độ kiêu căng. Không tin tôi thì cứ coi bọn ăn trộm ở biên giới sẽ biết 754 [21]. 8 Lão tử bảo: - Đạo lớn tới nỗi không biết đâu là cùng, mà nhỏ tới nỗi không sót một vật nào. Cho nên vạn vật đều có đủ trong đó. Nó rộng tới nỗi cái gì cũng dung nạp đƣợc, sâu tới nỗi không ai dò đƣợc. Hình thể, đạo đức, nhân nghĩa chỉ là những nhánh nhỏ của tinh thần, chỉ bậc chí nhân mới cho chúng một định nghĩa đƣợc 755 [22]. Chỉ bậc chí nhân làm chủ đƣợc thế giới mà không bị luỵ về nó; mọi ngƣời đều tranh nhau quyền bính, chí nhân thì không dự vào. Chí nhân giữ kĩ cái Đạo, không vì lợi lộc mà đổi lòng. Biết rõ đƣợc bản chân của sự vật, giữ đƣợc cái bản nguyên chung, cho nên vƣợt đƣợc trời đất, bỏ lại vạn vật mà tinh thần hoàn toàn tự do. Chí nhân hiểu Đạo, hợp nhất với Đức, gạt nhân nghĩa ra, bỏ lễ nhạc, nên lòng đƣợc yên tĩnh. 9 Cái đạo mà ngƣời đời quí đƣợc chép ở trong sách. Sách chẳng qua chỉ là lời. Lời sở dĩ quí là nhờ ý. Ý tuỳ thuộc một cái gì không dùng lời mà truyền đƣợc. Nhƣng ngƣời đời quí lời mà truyền lại trong sách. Mặc dù mọi ngƣời quí sách, tôi vẫn cho nó không đáng quí, vì cái mà ngƣời ta quí trong sách, tôi cho không phải là quí. Nhìn mà thấy đƣợc là hình và sắc; nghe mà thấy đƣợc là tên và tiếng. Buồn thay! Ngƣời đời cho rằng hình và sắc; tên và tiếng diễn đƣợc chân tính của sự vật. [Điều đó không đúng], vì ngƣời biết thì không nói, ngƣời nói thì không nói. Ngƣời đời đâu hiểu đƣợc lẽ ấy. Một hôm vua [Tề] Hoàn công đọc sách ở trên nhà, ngƣời đóng xe tên Biển đang đẽo bánh xe ở dƣới sân, bỏ cái búa cái đục, bƣớc lên hỏi Hoàn công:

243 - Kính hỏi nhà vua đọc đó là những lời gì vậy? Hoàn công đáp: - Lời thánh nhân. - Những thánh nhân đó còn sống không? - Chết cả rồi. - Vậy là nhà vua đọc đó là đọc cái cặn bã của cổ nhân. - Trẫm đƣơng đọc sách, một tên đóng xe sao dám luận bàn? Giảng mà có lí thì tha cho, vô lí thì bị xử tử. Ngƣời đóng xe đáp: - Thần xin lấy nghề của thần làm thí dụ: Thần đẽo bánh xe mà chầm chậm thì ngọt tay mà không bén; nếu đẽo mau thì mệt sức mà không vô 756 [23]. Phải đừng chậm, đừng mau, vừa với tay mình và hợp với lòng mình. Không diễn ra đƣợc, có cái gì huyền diệu ở trong đó. Cho nên thần không truyền lại cho con đƣợc mà chúng cũng không học đƣợc của thần. Vì vậy mà bảy chục tuổi rồi mà thần vẫn phải đẽo lấy. Cổ nhân và những điều họ không thể truyền lại đƣợc nay tiêu diệt hết rồi, sách nhà vua đọc đó chỉ là cặn bã của cổ nhân thôi.

244 757 [1] Nguyên văn: Lục thông, tứ tịch. Lục thông là trên dƣới, đông tây nam bắc; tứ tịch là bốn mùa. 758 [2] Nghĩa là hành động một cách vô tâm, không ai thấy, biết (vì hợp với tự nhiên). 759 [3] Nguyên văn: hư tắc thực, thực giả luân hĩ. Vƣơng Thúc Mân bảo chữ luân đó phải sửa là bị (đủ). Có sách giữ chữ luân và dịch là: hƣ thì hợp với đạo chân thực, đạo chân thực là luân lí tự nhiên. 760 [4] Nguyên văn: tố vương. Danh từ này xuất hiện trong đời Hán. Khổng Tử đƣợc coi là một vị tố vƣơng. 761 [5] Đoạn này chỉ khác đoạn trong Đại tôn sƣ 6 có vài chữ. Khác nhiều nhất là cuối câu này. Trong Đại tôn sƣ, đây là lời của Hứa Do, nghĩa là lời Trang tử tự đặt vào miệng Hứa Do. 762 [6] Nguyên văn: thánh nhân chi tâm dĩ súc thiên hạ dã. L.K.h. dịch là: cái lòng của thánh nhân đƣợc duy trì trong vũ trụ. Âu Dƣơng Tu, một văn hào đời Tống chê đoạn này viết dở quá. 763 [7] V.P.C. bảo: Đây không phải là ý nghĩa vô vi của Lão, Trang, mà có lẽ là tƣ tƣởng của Lí Tƣ dƣới đời Tần Thuỷ Hoàng. 764 [8] Nguyên văn: tam quân, ngũ binh: ba đạo quân và năm thứ binh khí; mỗi thuyết một khác, đại khái là cung, tên, cái mâu, ngọn giáo, cây kích. 765 [9] Ngũ hình: mỗi thuyết một khác, đại khái là tội chết, tội đày có hạn, đày không hạn, giam, phạt tiền. 766 [10] Có lẽ tác giả muốn nói: nếu chỉ có hình thức thì không có hiệu quả. 767 [11] Rõ ràng bài này do một ngƣời theo đạo Nho viết. 768 [12] Nguyên văn là thiên. 769 [13] Tức nhƣ hạng Tô Tần, Trƣơng Nghi.

245 770 [14] Đây rõ ràng là lời của bọn hình danh gia, mà có pha chút tƣ tƣởng Nho giáo, chứ không phải tƣ tƣởng của Trang tử. 771 [15] Vì Lỗ, quê hƣơng của Khổng Tử ở phƣơng Đông, Chu ở phƣơng Tây. 772 [16] Khổng Tử chỉ có lục kinh: Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, Dịch; thêm sáu cuốn vĩ nữa mới mƣời hai. Sáu cuốn vĩ này do ngƣời Hán viết, vậy bài này rõ ràng là của đời Hán. Kinh chính nghĩa là dọc, vĩ chính nghĩa là ngang. Vĩ thƣ là những sách mƣợn nghĩa trong các kinh để giảng về những phù pháp, bói toán. 773 [17] Đây chỉ là truyện tƣởng tƣợng, chắc là viết sau cái hoạ đốt sách đời Tần Thuỷ Hoàng. 774 [18] Cũng đọc là Ỷ. 775 [19] Nguyên văn: bách xá là [phải nghỉ ở] trăm quán trọ ban đêm. 776 [20] Nguyên văn: lí hành là đi giày hay dép. Theo lễ phải để giày dép ở ngoài. Sĩ Thành Khỉ mất bình tĩnh nên quên điều đó. 777 [21] Nguyên văn: Phàm dĩ bất tín, biên cánh hữu nhân yên, kì danh vi thiết. Câu này tối nghĩa. Có sách dịch là: Những hành vi ấy đều trái tự nhiên. Ở biên giới có hạng ngƣời [nhƣ vậy], ngƣời ta gọi là kẻ trộm. 778 [22] Nguyên văn: (phi chí nhân) thục năng định chi. L.K.h. dịch nhƣ vậy, tôi thấy không ổn. H.C.H. dịch là: ai có thể định tâm vào thái độ vô vi đƣợc? Theo tôi Hoàng cũng đoán mò nữa. Tiền Mục giảng: mới làm cho chúng ngƣng tụ, kết thành đƣợc. Tôi vẫn không hiểu. 779 [23] Có thể hiểu là làm dối trá, khó lắp bánh vô. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XIV

246 SỰ VẬN CHUYỂN CỦA TRỜI (Thiên vận) 1 Trời có vận chuyển không? Đất có đứng im không? Mặt trời mặt trăng có tranh chỗ với nhau không? Ai làm chủ tể cái đó? Ai duy trì cái đó? Ai vô sự mà đẩy cái đó, khiến nó chạy? Hoặc giả có một cái máy bí mật bất đắc dĩ chạy hoài chăng? Hay là vũ trụ tự nhiên vận chuyển mà không tự ngƣng đƣợc chăng? Mƣa là do mây chăng? Hay mây là do mƣa? Ai làm mƣa đổ? Ai vô sự mà cao hứng gây ra cái đó? Gió nổi ở phƣơng Bắc, khi thì thổi qua Tây, khi thì thổi qua Đông, có lúc lại xoáy ốc, mà cuốn lên cao. Ai hô hấp mà thành nhƣ vậy? Ai vô sự mà hƣớng gió về phía này phía khác và làm nó ngừng? Xin hỏi ông nguyên do ở đâu. Thầy bói Hàm Triêu 780 [1] đáp: - Lại đây tôi giảng cho nghe. Trời có lục cực (trên dƣới và bốn phƣơng) và ngũ thƣờng (tức ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Bậc đế vƣơng mà thuận theo những cái đó thì thiên hạ bình trị, nếu không thì nguy, loạn. Những việc trong cửu châu [tức Trung Hoa] có trật tự, thành công, mà đạo đức thì đủ, chiếu khắp mọi nơi, mọi ngƣời đều theo, đó các bậc thƣợng hoàng [đức cao hơn đế vƣơng] trị dân nhƣ vậy. 2 Viên thái tể triều Thƣơng [tức triều Tống, vì Tống là hậu duệ của Thƣơng], tên là Đãng hỏi Trang tử về đức nhân. Trang tử đáp: - Hùm sói là nhân đấy. - Sao vậy?

247 - Cha con chúng yêu nhau, chẳng nhân là gì. - Xin hỏi thế nào là chí nhân? - Chí nhân thì không nghĩ tới cha mẹ. Thái tể hỏi: - Đãng tôi nghe nói không nghĩ tới cha mẹ thì không yêu cha mẹ, không yêu cha mẹ là bất hiếu. Có thể bảo chí nhân thì bất hiếu đƣợc không? Trang tử đáp: - Không phải vậy. Chí nhân là một đức rất cao, không thể dùng đức hiếu mà xét nó đƣợc. Lời ông nói đó không phải là vƣợt đƣợc mà là chƣa đạt đƣợc đức hiếu. Một ngƣời đi về phƣơng Nam, tới kinh đô của Sở là Dĩnh, quay về phƣơng Bắc không thấy núi Ninh 781 [2] là tại sao? Tại tiến về phƣơng Nam quá xa rồi. Cho nên bảo rằng: Làm con kính trọng cha mẹ dễ hơn là thƣơng yêu cha mẹ; thƣơng yêu cha mẹ thì dễ hơn quên cha mẹ; quên cha mẹ lại dễ hơn là làm sao cho cha mẹ quên mình; làm sao cho cha mẹ quên mình đi lại dễ hơn mình quên hết đƣợc thiên hạ 782 [3] ; quên hết đƣợc thiên hạ lại dễ hơn là làm sao cho thiên hạ quên mình đi. Ngƣời nhƣ vậy bỏ hết đức của vua Nghiêu, vua Thuấn, tự nhiên mà vô vi, ân huệ truyền đến muôn đời mà thiên hạ không ai biết, đâu phải nhƣ hạng than thở về đạo đức mà khuyên nhân với hiếu? Hiếu để, nhân nghĩa, trung tín, trinh, liêm đều là miễn cƣỡng uốn nắn bản tính, có gì đâu mà khen?783[4] Cho nên bảo: Bậc chí quí thì coi thƣờng tất cả các chức tƣớc trong nƣớc; bậc chí phú coi thƣờng tất cả của cải trong nƣớc; bậc cực vẻ vang 784 [5] thì coi thƣờng tất cả các danh dự ở đời. Bởi vậy Đạo vĩnh cữu bất biến 785 [6]. 3 Bắc Môn Thành [một bề tôi của Hoàng Đế] hỏi Hoàng Đế:

248 - Khi bệ hạ tấu khúc Hàm Trì ở cánh đồng Động Đình 786 [7], mới nghe thần thấy sợ, rồi sau nghe thấy thơ thới trong lòng, sau cùng thấy quên bản thân đi, hoang mang, lẳng lặng, tinh thần bất định. Hoàng Đế bảo: - Ngƣơi gần hiểu đƣợc khúc đó. Ta tấu khúc đó vì ngƣời, ta chứng nghiệm nó với trời, thi hành nó theo lễ nghĩa, dựng nó bằng cái cực thanh khiết [tức Đạo trời]. Thứ nhạc toàn thiện thì trƣớc hết ứng với nhân sự, thuận với thiên lí, tiến hành theo ngũ đức [tức ngũ hành: kim mộc thuỷ hoả thổ], hợp với tự nhiên. Rồi sau nó điều lí bốn mùa, hoà hợp với vạn vật. Bốn mùa nối tiếp nhau, vạn vật kế nhau sinh sản. Cứ một thời thịnh tớo một thời suy, văn rồi tới võ [tức trị rồi tới loạn], trong rồi đục, âm dƣơng điều hoà, ánh sáng đầy tràn, thanh âm dào dạt 787 [8]. Các côn trùng ngủ ở dƣới đất [đông miên] nghe tiếng nhạc mà thức dậy, nghe tiếng sấm tiếng sét của ta mà kinh hoảng. Thanh âm liên tục không biết ngắt ở đâu, bắt đầu ở đâu, thanh âm này tắt thì thanh âm khác phát, cứ đƣa vút lên rồi hạ xuống nhƣ một dòng bất tuyệt, biến hoá bất ngờ. Vì vậy mà ngƣơi sợ. Rồi ta lại tấu theo điệu âm dƣơng hoà hợp, đem ánh sáng mặt trời mặt trăng chiếu vào, thanh âm khi ngắn khi dài, khi nhu khi cƣơng, biến hoá hợp tiết, không theo hoài một điệu, vang lừng trong hang trong khe, làm bế tắc cảm quan, ngƣng trệ tinh thần, tuỳ theo nhịp điệu của vạn vật, nghe thấy rộng lớn và cao sáng. Cho nên quỉ thần giữ chỗ u minh, còn mặt trăng mặt trời, tinh tú theo kĩ cƣơng mà vận hành. Chỗ nào hết thì ta ngƣng rồi dòng thanh âm lại tiếp tục tới vô cùng. Ta suy nghĩ về nó mà không hiểu, nhìn nó mà không thấy, đuổi theo mà không kịp. Ta thảng thốt đứng ở một ngả tƣ hƣ vô, tựa vào một cây ngô đồng khô mà hát. Mắt ta không đủ sáng để thấy cái ta muốn thấy, sức ta không đủ mạnh để đuổi kịp cái ta muốn đuổi. Trong thân thể ta toàn là hƣ không, ta uyển chuyển theo tự nhiên; ngƣơi nghe nhạc cũng uyển chuyển theo tự nhiên cho nên thấy thơ thới. Sau cùng ta phát ra thanh âm rất hoạt, điều hoà chúng bằng luật tự nhiên, cho nên thanh âm dồn dập, du dƣơng mà vô hình, lan rộng ra mà không miễn cƣỡng, trầm trầm tựa nhƣ vô thanh. Chúng phát động ở ngoài không trung, ngƣng lại ở chỗ thăm thẳm tối tăm. Lúc thì chúng nhƣ chết, lúc thì nhƣ sống, lúc nhƣ quả, lúc nhƣ hoa, lúc chảy, lúc ngừng, lúc tán, lúc tụ, biến đổi hoài. Ai nghi ngờ điều đó, cứ hỏi bậc thánh thì biết. Thánh là bậc nhận đƣợc bản tính của mình và thuận theo nó. Thiên cơ phát mà ngũ quan đều đủ, nhƣ vậy là cái vui của trời, không nói mà lòng vui. Cho nên vua Hữu Diễm khen nhạc đó rằng: Nghe không thấy tiếng, nhìn không thấy hình; nó đầy cả trời đất, trùm cả

249 vũ trụ. Ngƣơi muốn nghe nó mà không muốn tiếp nó, nên hoang mang, quên bản thân đi. Nhạc của ta bắt đầu từ sự kinh hoảng, kinh hoảng gây nên tai ƣơng; rồi sau thơ thới, thơ thới gây nên sự thuần hoà; sau cùng làm cho tâm hồn hoang mang, hoang mang gây sự ngu muội. Ngu muội, không dùng trí tuệ thì gần đƣợc Đạo. Đạo có thể chở ngƣời và dắt ngƣời đi khắp nơi. 4 Khổng Tử qua phía Tây tới nƣớc Vệ. Nhan Uyên [tức Nhan Hồi] hỏi thái sƣ nƣớc Lỗ, tên là Kim: - Ông nghĩ sao về hành vi của thầy tôi? - Tiếc thay! Thầy ông sẽ bị khốn cùng mất. - Tại sao? - Chó rơm, khi chƣa bày để cúng tế thì đƣợc cất kĩ trong rƣơng, bao kĩ bằng gấm thêu, bọn thân chủ, thầy cúng trai giới rồi mới đem nó ra. Khi đã bày cúng xong rồi thì ngƣời đi ngang qua dẫm lên đầu lên lƣng nó, ngƣời cắt cỏ lƣợm nó về chụm. Nếu [còn tiếc] đem về cất lại trong rƣơng, bao bằng gấm thêu mà đi đứng, nằm ngồi bên cạnh nó thì không bị ác mộng cũng bị bóng đè. Nay thầy ông lƣợm những con chó rơm mà tiên vƣơng đã dùng để cúng tế rồi, họp môn sinh mà cùng nhau đi đứng, nằm ngồi bên cạnh những con chó rơm đó. Vì vậy mà ở Tống bị cái hoạ chặt cây 788 [9], bị cái nhục cấm vô nƣớc Vệ 789 [10] ; và bị cùng khốn ở Thƣơng, Chu; đó chẳng phải là ác mộng của thầy ông ƣ? Đi trên sông nƣớc thì không gì bằng dùng thuyền, đi trên bộ thì không gì bằng dùng xe. Nếu đẩy thuyền đi trên bộ thì cả đời chỉ tiến đƣợc vài thƣớc. Xƣa với nay khác nhau cũng nhƣ trên nƣớc và trên bộ, mà nƣớc Chu và nƣớc Lỗ chẳng khác nhau nhƣ thuyền với xe ƣ? Nay đem pháp độ nƣớc Chu áp dụng vào Lỗ thì không khác gì muốn đi bằng thuyền trên bộ. Mệt sức mà không có kết quả, thân sẽ bị tai hoạ. Thầy của ông chƣa biết cái tính cách vô thƣờng của mọi truyền thống và cái phép thích ứng với hoàn cảnh để tránh tai hoạ.

250 Ông có biết cái cần để lấy nƣớc không? 790 [11] Kéo nó thì hạ xuống, thả ra thì nó ngỏng lên. Nó luôn luôn bị ngƣời ta kéo chớ không hề kéo ngƣời ta. Cho nên không ai trách nó lúc thì hạ xuống lúc thì ngỏng lên. Cho nên lễ nghi, pháp độ các đời Tam Hoàng [Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng], Ngũ Đế [Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn] không cần giống nhau mà cốt trị đƣợc thiên hạ, nhƣ trái tra, trái lê, trái quất, trái bƣởi vị tuy khác nhau mà đều ngon miệng. Cho nên lễ nghĩa phải biến đổi cho hợp thời. Nay lấy áo của Chu công mà bắt vƣợn, khỉ mặc thì tất chúng cắn xé ra từng mảnh rồi mới thoả lòng. Đời xƣa và đời nay khác nhau cũng nhƣ con vƣợn con khỉ khác ông Chu công vậy. Nàng Tây Thi đau tim mà nhăn mặt, một ngƣời xấu xí trong làng thấy vậy cho là đẹp, rán bắt chƣớc, cũng ôm ngực mà nhăn mặt. Những ngƣời hàng xóm giàu có thấy vậy, đóng cửa kĩ, không ra khỏi nhà, còn ngƣời nghèo dắt vợ, bồng con bỏ chạy. Ngƣời đàn bà xấu xí kia không biết rằng nàng Tây Thi nhăn mặt mà đẹp chính là vì nàng vốn đẹp. Vậy thầy của ông sẽ bị khốn cùng mất. 5 Đã năm mƣơi mốt tuổi, mà vẫn chƣa đƣợc nghe về Đạo, nên Khổng Tử đi xuống đất Bái ở phƣơng Nam để yết kiến Lão Đam. Lão Đam bảo: - Ông lại đấy ƣ? Tôi nghe nói ông là ngƣời hiền phƣơng Bắc. Ông hiểu Đạo không? Khổng Tử đáp: - Tôi chƣa hiểu. - Ông tìm Đạo cách nào? - Tôi tìm Đạo trong độ số 791 [12], năm năm mà không đƣợc. - Rồi làm sao nữa?

251 - Rồi tôi tìm nó trong âm dƣơng, mƣời hai năm mà không đƣợc. Trời có vận chuyển không? Đất có đứng im không? Mặt trời mặt trăng có tranh chỗ nhau không? Ai làm chủ tể cái đó? Ai duy trì cái đó? Ai vô sự mà đẩy cái đó, khiến nó chạy? Hoặc giả có cái máy bí mật bất đắc dĩ chạy hoài không? Hay vũ trụ tự nhiên vận chuyển mà không tự ngừng đƣợc chăng? Mƣa là do mây chăng? Hay mây là do mƣa? Ai làm cho mƣa đổ? Ai vô sự mà cao hứng gây ra cái đó? Gió nổi ở phƣơng Bắc, khi thì thổi qua Tây, khi thì thổi qua Đông, có lúc lại xoáy ốc, mà cuốn lên cao. Ai hô hấp mà thành nhƣ vậy? Ai vô sự mà hƣớng gió về phía này phía khác và làm nó ngừng? Xin hỏi ông nguyên do ở đâu? Lão Đam bảo: - Dĩ nhiên. Nếu Đạo có thể dâng cho ngƣời khác đƣợc thì ai cũng dâng nó lên vua rồi; nếu có thể tặng đƣợc thì ai cũng tặng nó cho cha mẹ rồi; nếu nó có thể bảo cho ngƣời khác hay đƣợc thì ai cũng đem nó cho con cháu rồi. Nhƣng không đƣợc. Nguyên do nhƣ vầy: Trong lòng không có bản chất của Đạo thì Đạo không lƣu lại trong đó đƣợc; ngoài không phối hợp với đối tƣợng thì Đạo không vận hành đƣợc. Nếu phát động ở trong mà ngoài không tiếp thu đƣợc thì thánh đức 792 [13] không hiện; nếu phát động ở ngoài mà trong lòng không có sẵn bản chất của Đạo thì thánh đức không lƣu lại. Danh vọng là do ngƣời khác cho mình 793 [14], không nên nhận nhiều quá. Nhân và nghĩa là quán trọ của tiên vƣơng, chỉ nên ghé đó một đêm, không nên ở lâu, ở lâu thì bị nhiều điều trách móc 794 [15]. Bậc chí nhân thời xƣa mƣợn con đƣờng nhân mà đi, ghé quán nghĩa mà nghỉ (chớ không ở đó lâu), thảnh thơi tiêu dao, sống đạm bạc và độc lập. Tiêu dao thì vô vi, sống đạm bạc thì dễ thoả mãn, độc lập thì không bị tổn thất. Đời xƣa cho nhƣ vậy là giữ đƣợc bản chân. Ai nhắm việc làm giàu thì không từ bỏ đƣợc lợi lộc; ai nhắm sự vinh hiển thì không từ bỏ đƣợc cái danh; ai nhắm quyền thế thì không nhƣợng quyền bính cho ngƣời đƣợc; nắm giữ nó thì run sợ mà buông ra thì rầu rĩ. Những ngƣời đó không có gì để tự răn mà hãm bớt thị dục, họ bị trời hành hạ.

252 Oán, ân, lấy, cho, khuyên răn, dạy bảo, sinh, sát, tám cái đó là khí cụ của chính quyền. Chỉ ngƣời nào thuận theo sự biến hoá tự nhiên là dùng đƣợc những khí cụ ấy. Cho nên bảo: Tự sửa mình cho ngay rồi mới cai trị đƣợc ngƣời. Trong lòng không theo qui tắc ấy thì thiên cơ không mở ra đâu. 6 Khổng Tử lại yết kiến Lão Đam, thảo luận về nhân, nghĩa. Lão Đam bảo: - Khi sàng sảy, cám bay lên làm mờ mắt và ta có cảm tƣởng trời đất và bốn phƣơng đổi chỗ hết. Bị muỗi mòng chích da thì suốt đêm trằn trọc. Nhân nghĩa làm tổn hại bản tính, mê hoặc tâm trí, không có loạn nào lớn hơn. Nếu ông muốn cho thiên hạ giữ đƣợc bản tính chất phác thì ông nên hành động nhƣ ngọn gió tự nhiên thổi kia, hợp với đạo đức nguyên thuỷ, chứ đừng đề cao nhân nghĩa nhƣ ngƣời ta đánh trống để tìm đứa trẻ thất lạc. Con thiên nga mỗi ngày mỗi tắm đâu mà lúc nào cũng trắng; con quạ mỗi ngày mỗi bôi đen đâu mà lúc nào cũng đen. Trắng và đen đều là màu tự nhiên, không cần phân biệt xấu đẹp. Ngƣỡng mộ danh dự là tỏ rằng có óc hẹp hòi. Khi suối cạn thì cá trốn với nhau trong bùn, phà hơi lẫn cho nhau, phun dãi nhớt vào nhau, nhƣ vậy sao bằng ở sông hồ mà quên nhau. 795 [16] * Khổng Tử lần đó yết kiến Lão Đam về, ba ngày không nói năng gì cả. Môn đệ hỏi: - Thầy đi thăm Lão Đam, khuyên ông ta điều gì vậy? Khổng Tử đáp: - Thầy đã đƣợc thấy con rồng. Rồng thu mình lại thì thành một khối, duỗi ra thì thành những hình đẹp. Nó cƣỡi mây, không khí, phối hợp âm dƣơng. Thầy há hốc miệng ra mà không khép lại đƣợc, nói chi tới khuyên với bảo.

253 Tử Cống nói: - Nhƣ vậy là có hạng ngƣời lúc thì yên lặng không nhúc nhích nhƣ thần chủ, lúc thì biến hoá nhƣ con rồng, lúc thì vang nhƣ sấm sét, lúc thì trầm mặc nhƣ vực thẳm, phát động [không sao đoán đƣợc] nhƣ trời đất chăng? Con có thể lại thăm ông ấy đƣợc không? Rồi Tử Cống lấy danh nghĩa Khổng Tử tới yết kiến Lão Đam. Lão Đam ngồi trên nhà mà tiếp, hỏi nho nhỏ: - Tôi già rồi, em có điều gì chỉ bảo cho tôi? Tử Cống đáp: - Tam vƣơng ngũ đế 796 [17] trị dân mỗi ngƣời một cách, nhƣng thanh danh ngang nhau. Nhƣng tại sao riêng tiên sinh cho những vị ấy không phải là bậc thánh? - Lại đây em. Tại sao em bảo các ông ấy trị dân mỗi ngƣời một khác? - Vua Nghiêu nhƣờng ngôi cho ông Thuấn; vua Thuấn truyền ngôi cho ông Vũ. Ông Vũ dùng sức mạnh 797 [18] ; ông Thành Thang dùng binh [đánh đuổi vua Kiệt]; ông Văn vƣơng theo vua Trụ mà không dám bội nghịch, ông Võ vƣơng bội nghịch vua Trụ mà không chịu theo 798 [19]. Vì vậy tôi bảo các ông ấy trị dân mỗi ngƣời một khác. Lão Đam bảo: - Lại gần đây, em. Qua giảng cho em nghe về việc trị dân của tam vƣơng, ngũ đế. Hoàng Đế trị thiên hạ, khiến cho lòng dân thuần nhất. Dân [không yêu riêng ngƣời thân của mình, cho nên] không khóc khi cha mẹ chết, mà không cho nhƣ vậy là trái đạo. Vua Nghiêu trị thiên hạ, khiến dân yêu riêng ngƣời thân của mình mà sơ với ngƣời ngoài 799 [20] mà không ai cho nhƣ vậy là trái. Vua Thuấn trị

254 thiên hạ khiến cho dân ganh đua nhau; đàn bà có mang mƣời tháng rồi sanh con, đứa bé đƣợc năm tháng là biết nói 800 [21], chƣa thành một nhi đồng mà đã phân biệt đƣợc ngƣời này ngƣời khác và (thời đó bắt đầu) có những ngƣời chết yểu. Vua Vũ trị thiên hạ, khiến cho lòng dân biến loạn, cho sự sát phạt là thuận thiên 801 [22], bảo giết một tên cƣớp không phải là giết ngƣời, ai nấy tự làm theo ý mình, vì vậy mà xã hội sống trong cảnh kinh khủng. Lúc đó đạo Khổng và đạo Mặc xuất hiện, đặt ra luân thƣờng [tức tổ chức xã hội] bắt mọi ngƣời theo. Phải vậy không em? Qua bảo em này: tam hoàng ngũ đế trị thiên hạ, gọi là trị, chứ thực ra là đại loạn. Trí tuệ của tam hoàng, trên thì trái với mặt trời mặt trăng, dƣới thì ngƣợc với thế của sông núi, ở giữa thì làm loạn bốn mùa. Trí tuệ của họ còn độc hơn là nọc ở đuôi con bò cạp nữa. Ngay những sinh vật nhỏ nhất cũng không sống yên theo bản tính của chúng đƣợc. Vậy mà các ông ấy tự cho là thánh nhân, thật là xấu hổ, vô liêm sỉ. Tử Cống nghe rồi, kinh sợ, lảo đảo, đứng ngồi không yên. 7 Khổng tử nói với Lão Đam: - Khâu tôi nghiên cứu lục kinh: Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu, tự cho là đã tốn công và hiểu đƣợc kĩ. Tôi đã yết kiến bảy mƣơi hai ông vua, bàn luận về đạo của tiên vƣơng, giảng rõ về chính sách của Chu công và Thiệu công 802 [23], không một ông vua nào dùng lời của tôi cả. Quá lắm! Tại khó thuyết phục bọn họ hay tại khó làm sáng đƣợc đạo? Lão tử đáp: - Không gặp một ông vua nào biết trị nƣớc, là may cho ông đấy. Vì lục kinh chỉ là cái di tích cổ hủ của tiên vƣơng, đâu phải là tinh thần tiên vƣơng lƣu lại 803 [24]. Những lời ông nói ngày nay cũng là dấu vết thôi. Nhƣ giày dẫm lên đất để lại một cái dấu, dấu đó không phải là giày. Loài ngỗng trắng, con trống con mái nhìn nhau trừng trừng, con ngƣơi không cử động mà tự nhiên sinh sản; con

255 sâu đực kêu lên ở trên, ở dƣới con cái hoạ theo, mà tự nhiên sinh sản. Hễ có con đực con cái cùng một loài thì sinh sản dễ dàng. Không thể đổi đƣợc thiên tính cùng vận mệnh; bốn mùa không thể ngừng lại đƣợc, đại đạo không thể bị nghẽn, lấp. Đạt đƣợc đạo thì làm gì cũng đƣợc, để mất nó thì không làm gì đƣợc cả. Khổng Tử nghe rồi, ba tháng không ra khỏi cửa. Sau trở lại thăm Lão Đam, bảo: - Khâu tôi đã hiểu rồi. Con quạ và con chim khách ấp trứng, con cá phun bọt [trứng] ra; con ong sinh sản; em sinh ra thì anh khóc 804 [25]. Đã từ lâu, Khâu tôi không dự vào sự biến hoá của trời đất. Ngƣời nào không dự vào sự biến hoá thì làm sao biến hoá đƣợc ngƣời khác? Lão tử bảo: - Đƣợc, ông hiểu đạo rồi đấy. NHẬN ĐỊNH VỀ BA CHƢƠNG THIÊN ĐỊA, THIÊN ĐẠO, THIÊN VẬN Cũng như bốn chương đầu Nội thiên, ba chương này dùng một số danh từ không có trong thời Trang tử. Như bài XIII.1 có chữ tố vương (ông vua không ngôi), chữ này trỏ Khổng Tử, xuất hiện vào đời Hán, sau Trang tử mấy trăm năm. Bài XIV.7 dùng danh từ lục kinh để trỏ Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, Dịch; bài XIII.6 dùng danh từ thập nhị kinh (tức lục kinh và lục vĩ); hai danh từ này cũng do người đời Hán đặt ra. Đó là về hình thức, về nội dung ta càng thấy rõ ràng tác giả không phải là Trang tử, mà là nhiều người có nhiều khuynh hướng khác nhau, chỉ có một điểm giống nhau là tư tưởng chính trị ôn hoà; vì điểm này mà ba chương được sắp chung thành một tổ hợp. 1. Trước hết, một số bài còn giữ được gần đúng tư tưởng của Trang tử, như bài XII.8 bàn về vũ trụ,

256 bài XII.4 bàn về tri thức, bài XII.10 bàn về chính trị, nhưng tác giả những bài ấy không đưa ra một ý kiến nào mới mẻ, không phát huy thêm được gì mà bút pháp cũng tầm thường. 2. Một số tác giả khác chịu ảnh hưởng của Khổng học (gọi Khổng Tử là Phu tử - XII.9), khen cách trị dân của thánh nhân: đặt ra các chức quan tuỳ theo nhu cầu, giao chức vụ tuỳ theo tài năng của mỗi người, hiểu hết sự tình của dân và thuận theo khuynh hướng của dân mà làm (XII.12). Họ cho nhân nghĩa là có ích, miễn là đừng thái quá. Bài XIV.5 có đoạn: Nhân nghĩa là quán trọ của tiên vương, chỉ nên ghé đó một đêm, không nên ở lâu, ở lâu thì bị nhiều điều trách móc. Bậc chí nhân thời xưa mượn con đường nhân mà đi, ghé quán nghĩa mà nghỉ, thảnh thơi tiêu dao, sống đạm bạc và độc lập. 3. Một số bài nữa cơ hồ đứng hẳn về Khổng phái. Đây là một đoạn trong bài XIII.4: Có quí có hèn, có trước có sau, đó là trật tự của trời đất; thánh nhân theo trật tự ấy. Trời cao, đất thấp, đó là vị trí của thần minh. Xuân hạ trước rồi mới tới thu đông, đó là trật tự của bốn mùa ( ) Như trời đất cực thần minh kia mà còn có tôn ti, trước sau, huống hồ là người. Ở tôn miếu thì trọng những bậc vào hàng ông cha mình, ở triều đình thì trọng chức tước, ở hương đảng thì trọng người già, xử sự thì trọng người hiền, đó là trật tự của đại đạo. Tác giả Tề vật luận mà lại chủ trương tôn ti như vậy ư? Câu cuối giá đặt vào bộ Mạnh tử thì hợp hơn, vì diễn lại đúng ý trong câu Triều đình mạc như tước, hương đảng mạc như xỉ, trưởng dân mạc như đức 805[26] trong Công Tôn Sửu hạ, bài 2. Đoạn cuối bài XII.11, cũng khiến chúng ta ngờ rằng tác giả bênh vực Khổng Tử mà chê Lão Trang. Khổng Tử bảo Tử Cống: Người đó (tức bảo ông làm vườn không chịu dùng cơ giới cái cần vọt vì sợ sẽ sinh ra cơ tâm) hiểu lầm đạo thuật của thời nguyên thuỷ hỗn mang. Người đó ( ) biết trị nội tâm mà không biết trị ngoại vật. Giữ cái tâm sáng suốt, chất phác, vô vi để trở về với tự nhiên, giữ được bản tính và tinh thần, ngao du trong cõi thế tục, cái đó có gì đáng cho ( ) thầy trò mình biết?. 4. Lại có người chịu ảnh hưởng của pháp gia nữa. Họ bảo có thể dùng hình danh, thưởng phạt để trị dân (Bài XIII.4), họ cho công nghệ ở trong nhiệm vụ của quốc gia (XII.1), họ chê Khổng Tử

257 lạc hậu: Xưa với nay khác nhau cũng như trên nước và trên bộ, mà nước Chu và nước Lỗ chẳng khác nhau như thuyền với xe ư? Nay đem pháp độ nước Chu áp dụng vào Lỗ thì không khác gì muốn đi bằng thuyền trên bộ. Vậy lễ nghĩa pháp độ phải biến đỗi cho hợp thời, đừng làm cái trò lấy áo Chu công bắt vượn khỉ mặc. (XIV.4). Tôi tưởng đâu nghe lời của Hàn Phi. Nghiên cứu Nam Hoa kinh mà gán cho Trang những tư tưởng đó thì oan cho Trang quá. Rồi còn quan niệm vô vi mới mẻ này nữa: Theo qui tắc vô vi thì trị được thiên hạ mà còn dư sức, nên hữu vi thì bị thiên hạ sai khiến mà vẫn không đủ sức... Người trên mà vô vi, người dưới cũng vô vi nữa, thế là dưới cũng có đức như trên mà không có bề tôi nữa. Cũng vậy, nếu người dưới hữu vi, người trên cũng hữu vi, thế là trên dưới cùng một đạo, mà không có vua nữa. Vậy trên phải vô vi mà trị thiên hạ, dưới phải hữu vi để giúp thiên hạ, đó là luật bất di bất dịch. (XIII.3). Vô vi đâu phải là thứ vô vi không làm gì trái với thiên nhiên, với bản tính vạn vật; mà là thứ vô vi của Pháp gia, vua không làm gì cả, chỉ kiểm soát, dò xét, còn mọi việc để bề tôi làm hết. 5. Sau cùng, trong nhóm mà La Căn Trạch gọi là hữu phái này, còn có nhà theo thuyết tu tiên. Họ bảo thánh nhân sống ngàn năm rồi, chán cõi trần này thì lên tiên, cưỡi đám mây trắng mà tới cõi Thượng Đế (XII.6). Chắc họ sống đời Tần hay đầu Hán, thời mà phong trào tu tiên rất thịnh: Tần Thuỷ Hoàng cầu thuốc trường sinh bất tử, và phái người ra biển Đông tìm cảnh Bồng Đảo. * Tóm lại trong ba chương này, tư tưởng rất phức tạp, có tới năm khuynh hướng: theo Trang thuần tuý, theo Trang mà chịu ảnh hưởng của Khổng, theo Khổng gần như thuần tuý, theo Pháp gia và theo bọn Đạo gia tu tiên. Tư tưởng của Trang không được phát huy thêm mà chỉ bị bôi xanh bôi đỏ, lem luốc tới không nhận ra được nữa. Đạo không còn là căn bản của vũ trụ, đã bị hạ bệ nhường ngôi cho thiên, rồi cho Thượng Đế. Bài Đại tôn sư 1, Trang tử bảo: Đạo là tự gốc của nó, trước khi có trời đất đã có nó rồi. Nó tạo ra

258 quỉ thần, thượng đế, nó sinh ra trời đất. Ba chương này ngược lại, cho Đạo từ trời ra: Đạo gồm ở trong trời (Đạo kiêm ư thiên XII.1); cổ nhân làm sáng Đạo thì trước hết làm sáng cái luật trời, rồi tới Đạo và Đức (XIII.4); Trời có lục cực (trên dưới và bốn phương) và ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) (XIV.1), tức như nói trời là nguồn gốc của tất cả. Nội việc dùng từ Thiên đạo mà ta đã thấy ở cuối chương XI (hữu thiên đạo, hữu nhân đạo bài 6) làm nhan đề chương XIII cũng cho ta thấy sự suy vi của học thuyết Lão, Trang rồi. Đạo bị phân biệt làm hai: của trời và của người; thì quan niệm vô vi cũng phải biến đổi: vua con trời mới được vô vi, còn bề tôi phải hữu vi. Chủ trương tề vật mất hẳn: có trên, có dưới, có tôn ti, có trước sau, có thị phi (nên nhân nghĩa hoá ra hữu ích); ngay đến sinh tử cũng không ngang nhau nữa, người ta trọng sinh khinh tử (nên mới cầu được trường sinh), như vậy sự tiêu dao chỉ dành riêng cho những bậc thánh sống ngàn năm, chán cõi trần rồi lên tiên. Tuy nhiên ba chương này cũng có được ít bài thú vị: - bài XII.9 dùng một ngụ ngôn để diễn cái ý đạo của cổ nhân không thể truyền lại được, mà sách chỉ là cặn bã của cổ nhân. - bài XIV.4 giảng cho ta rằng mọi truyền thống, pháp độ đều vô thường, chỉ có ích cho một thời, tới thời sau sẽ vô dụng. Ý này tấn bộ, được bọn Pháp gia áp dụng triệt để mà gây một cuộc cách mạng vĩ đại ở cuối thời Chiến Quốc. - bài XII.11: cơ giới sinh ra cơ tâm. - bài XIV.1 đưa ra một hơi mười mấy câu hỏi về vũ trụ: Trời có vận chuyển không? Đất có đứng im không? Mặt trời mặt trăng có tranh chỗ với nhau không? Ai làm chủ tể cái đó? Ai duy trì cái đó? vân vân 806 [27].

259 khiến cho ta nhớ tới bài Thiên vấn 807 [28] của Khuất Nguyên. (Khuất Nguyên hỏi trời tới một trăm bảy mươi hai câu!). - và bài XII.14, Mọi người đều mê, riêng một mình tôi tỉnh : tâm lí sâu sắc mà giọng thật buồn; thật là tiếng kêu thanh mà trầm trong một xã hội loạn. Chú thích: 808[1] Có sách đọc là Xiêu hoặc Điêu, hoặc Thiêu. Một thầy bói nổi danh đời Ân. Cũng có thể dịch là Vu Hàm Triêu. Vu là thầy bói, lấy tên nghề làm họ. Nhƣ vậy tên họ gồm hai chữ: Vu Hàm. 809[2] Ở tỉnh Hà Nam ngày nay. 810[3] Vì lúc đó đã hợp nhất với trời đất, không phân biệt ngƣời và ta, thân và sơ nữa. 811[4] Nguyên văn: chí nguyện. Có sách dịch là: rất đƣợc hâm mộ; lại có sách dịch là: ý chí rất cao. [Sách in sai. Theo bác Vvn thì nguyên văn là: bất túc đa dã 不足多也, có nghĩa là chẳng đủ/đáng để khen (tức không nên khen làm gì, hoặc có đáng gì đâu mà khen) Goldfish]. 812[5] Nguyên văn: chí nguyện. Có sách dịch là: rất đƣợc hâm mộ; lại có sách dịch là: ý chí rất cao. [Theo bác Vvn, có bản chép là chí hiển 至顯 thay vì chí nguyện 至願 - Goldfish] 813[6] Nghĩa là: Đạo vĩnh cửu bất biến vì nó chí quí, chí phú, cực vẻ vang. 814[7] Không phải gần Động Đình hồ. Đây chỉ là một tên tƣợng trƣng. 815[8] Nguyên văn: lưu quang kì thanh, L.K.h. dịch là: thanh âm chảy ra và chiếu sáng. 816[9] Lần đó thầy trò Khổng Tử ngồi thảo luận dƣới một gốc cây ở nƣớc Tống, quan tƣ mã nƣớc Tống muốn giết ông, nhƣng ông đi rồi, bèn ra lệnh chặt cây đó.

260 817[10] Sự thực thì lần đi qua Vệ này, Khổng Tử về rồi mới bị vua Vệ cấm trở lại. 818[11] Coi bài 11 chƣơng XII Thiên địa. 819[12]Độ số: H.C.H. dịch là điển chƣơng, chế độ. L.K.h. dịch là đo và tính. 820[13] Nguyên văn: thánh nhân bất xuất. Chúng tôi theo L.K.h. mà dịch nhƣ vậy cho xuôi. 821[14] Nguyên văn: Danh, công khí dã: danh là khí cụ mọi ngƣời dùng. Chúng tôi dịch nhƣ vậy cho rõ; có cho thì mới có nhận. 822[15] Đại ý đoạn này là không nên cố ý làm điều nhân, nghĩa để cầu danh. 823[16] Câu này đã có trong bài 1 chƣơng Đại tôn sư. 824[17] Tam vƣơng cũng nhƣ tam đại, trỏ ba nhà Hạ, Thƣơng, Chu. Ngũ đế tức Phụ Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu và Thuấn. 825[18] Vua Nghiêu là nhà Đƣờng. Vua Thuấn là nhà Ngu. Vua Vũ là nhà Hạ. - Nguyên văn: chỉ có ba chữ: Vũ dụng lực. H.C.H. dịch là: lao lực về việc trị thuỷ. Tôi theo L.K.h. vì đoạn sau có nói: Vua Vũ cho sự sát phạt là thuận thiên. 826[19] Ông Thành Thang là ngƣời sáng lập nhà Thƣơng. Vũ vƣơng (con Văn vƣơng) là ngƣời diệt Trụ và lập nhà Chu. 827[20] Nguyên văn: dân hữu vị kì thân sát kì sát. Có sách dịch là: bà con chết gần hay xa thì tang phục khác nhau. 828[21] Theo truyền thuyết thời thƣợng cổ, đàn bà có mang mƣời bốn tháng, trẻ hai tuổi mới biết nói. 829[22] Nguyên văn: nhân hữu tâm nhi binh hữu thuận. L.K.h. dịch là: chỉ có trong quân đội là có sự phục tòng thôi (ngoài ra, loạn hết). 830[23] Chu công là con vua Văn vƣơng (nhà Chu), em vua Võ vƣơng và chú của Thành vƣơng, nhiếp chính của Thành vƣơng, có tài đức. Thiệu công là con thứ của Văn vƣơng, làm tam công thời Thành vƣơng, có tài chính trị.

261 831[24] Nguyên văn: khởi kì sở dĩ tích tai. Tôi dịch thoát nhƣ vậy. L.K.h. dịch là: nhƣng không giảng đƣợc nguyên do những di tích đó. 832[25] Nguyên văn: hữu đệ nhi huynh đề. Năm chữ này thật lạc lõng. 833[26] Ở triều đình, tƣớc vị đƣợc quí nhất; ở làng xóm, tuổi tác đƣợc trọng nhất; còn trong việc giáo hoá dân thì phải dùng ngƣời có đức trƣớc hết. [Trong cuốn Mạnh tử, cũng của, chép: Triều đình mạc như tước, hương đảng mạc như xỉ, phụ thế trưởng dân mạc như đức. Trong đoạn trích dẫn ở trên, thiếu hai chữ phụ thế [Goldfish]. 834[27] Các câu hỏi này đƣợc lập lại y hệt trong bài XIV.5 [Goldfish]. 835[28] Sách in sai là Thiên văn. Bài Thiên vấn (hỏi trời) cũng là một kì văn, kém Li tao về phƣơng diện nghệ thuật nhƣng giọng lâm li cùng cực: ông hỏi trời một hơi 172 câu. Sức tƣởng tƣợng của ông thật vô địch. (, Đại cương văn học sử Trung Quốc, Nxb Trẻ, 1997, trang 96-97). [Goldfish]. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XV MÀI LUYỆN Ý CHÍ (Khắc ý) 1 Mài luyện ý chí để hành vi ra vẻ cao thƣợng, thoát li thế tục, sống khác ngƣời, tự cho mình là hơn ngƣời, oán thán bài bác ngƣời khác 836 [1], đó chỉ là thái độ khinh thế ngạo vật của kẻ sĩ sống trong hang trong núi khinh đời, muốn cho hình hài khô đét [vì khổ hạnh] rồi gieo mình xuống vực để tự sát 837 [2].

262 Bàn về nhân nghĩa, trung tín, thành thực, cung kính, kiệm phác, từ nhƣợng, đó chỉ là hành vi tu thân của kẻ sĩ học giả ở thời thái bình muốn ngồi một chỗ hoặc đi nơi này nơi khác để dạy ngƣời 838 [3]. Bàn việc lập công lớn để đƣợc cái danh lớn, chế định lễ nghi giữa vua tôi, kiểu chính danh phận giữa ngƣời trên kẻ dƣới, đó là hành vi cai trị quốc gia của kẻ sĩ tại triều đình muốn tôn quân, làm cho nƣớc phú cƣờng, lập sự nghiệp, thôn tính các nƣớc khác 839 [4]. Lại chốn đồng cỏ và chằm, sống nơi hoang dã, câu cá, nhàn cƣ, đó là hành vi của kẻ sĩ giang hồ vô vi, trốn đời, tìm cái vui trong nhàn tản 840 [5]. Hít thở thật sâu và chậm, tống không khí độc ra, hít không khí trong sạch vô, treo mình lên nhƣ con gấu, duỗi mình ra nhƣ con chim để đƣợc sống lâu, đó chỉ là hành vi của kẻ sĩ đạo dẫn luyện khí, nuôi dƣỡng thân thể, nhƣ ông Bành Tổ 841 [6]. Không mài luyện ý chí mà hành vi tự nhiên cao thƣợng, không nghĩ tới nhân nghĩa mà tự nhiên vẫn là sửa mình (tu thân), không lập công mà thiên hạ tự nhiên bình trị, không ẩn cƣ ở chỗ sông biển mà vẫn nhàn tản, không đạo dẫn luyện khí mà vẫn thọ, quên hết mà vẫn có đủ, điềm tỉnh đến cực điểm, mà bao nhiêu cái tốt đẹp ở đời đều tụ cả nơi mình, nhƣ vậy mới là đạt đƣợc chính đạo của trời đất, mĩ đức của thánh nhân. 2 Cho nên 842 [7] bảo: Điềm đạm, tịch mịch, hƣ vô, vô vi, đó là căn bản của trời đất, bản chất của đạo đức. Lại bảo: Thánh nhân an tĩnh, an tĩnh thì quân bình và thoải mái; quân bình và thoải mái thì điềm đạm, điềm đạm thì không ƣu tƣ, hoạn nạn, tà khí [ảnh hƣởng xấu ở ngoài] không xâm nhập vào mình đƣợc, nhờ vậy mà đức đƣợc toàn vẹn, tinh thần không bị thƣơng tổn. Cho nên bảo: Thánh nhân sống theo luật tự nhiên và chết là biến hoá, khi tĩnh thì tịch mịch nhƣ khí âm, khi động thì vận hành nhƣ khí dƣơng, không gây phúc cũng không gây hoạ, có cảm xúc rồi mới

263 có phản ứng, có bị bức bách rồi mới phản động, bất đắc dĩ mới đứng dậy, bỏ trí tuệ, kĩ xảo mà thuận theo tự nhiên. Vì vậy mà không bị tai hoạ của trời, không bị hệ luỵ của vật, không bị lời bài bác của ngƣời, không bị sự trách phạt của quỉ thần. Sống thì nhƣ bồng bềnh [với đời], chết thì nhƣ nghỉ ngơi. Không tƣ lự, không dự tính, sáng đấy mà không chói lọi, có đức tín đấy mà không nhất định phải đúng hẹn; khi ngủ thì không mộng mị, tỉnh dậy thì không ƣu sầu, tinh thần trong sạch, tâm hồn không mệt mỏi. Nhờ hƣ vô điềm đạm mà hợp với đức trời [đức tự nhiên]. Cho nên bảo: Vui và buồn làm hại cho đức; mừng và giận làm hại cho đạo; yêu và ghét làm mất cái đức. Cho nên lòng không vui buồn là đạt đƣợc chí đức, tinh thần thuần nhất bất biến là đạt đƣợc chí tĩnh, không chống đối ai là đạt đƣợc chí hƣ, không tiếp xúc với vật là điềm đạm cùng cực, không có gì không thuận lòng là đạt đƣợc sự tinh tuý cùng cực. Cho nên bảo: Làm việc khó nhọc mà không nghỉ thì thân thể mệt mỏi, dùng tinh lực hoài thì lao tổn, lao tổn thì khô kiệt. Cũng nhƣ nƣớc kia, không hỗn tạp thì trong trẻo, không động thì phẳng lặng, nhƣng nếu úng tắc tù hãm thì cũng hết trong. Nƣớc tƣợng trƣng cho cái đức của trời. Cho nên bảo: Thuần tuý mà không tạp, tĩnh mà nguyên chất thì không biến động, đạm bạc mà vô vi, khi động thì theo sự vận chuyển của trời [luật tự nhiên], đó là phép di dƣỡng thần khí. Ai có những bảo kiếm chế tạo ở nƣớc Ngô, nƣớc Việt thì cất chúng vào trong bao, không dám dùng đến, vì chúng rất quí. Mà tinh thần con ngƣời (còn quí hơn nữa) có thể đi khắp bốn phƣơng, không đâu không tới, trên thì lên tới trời, dƣới thì bao quát trời đất, nuôi khắp vạn vật mà không có hình tƣợng nào cả, có thể bảo nó ngang với Thƣợng Đế. Cái đạo thuần hoà chất phác là giữ thần khí đừng để mất nó, nhƣ vậy Đạo và thần khí sẽ là một, là một thì thông mà hợp với thiên lí. Tục ngữ có câu: Hạng thƣờng nhân trọng của cải, kẻ sĩ liêm khiết trọng danh, bậc hiền sĩ trọng chí tiết, thánh nhân trọng tinh thần. Cho nên chất phác là giữ đƣợc tinh thần không tạp, thuần khiết là giữ cho tinh thần không hao tổn. Bậc chân nhân hiểu đƣợc lẽ chất phác và thuần khiết. * (Chương này và chương sau có nhiều điểm giống nhau nên sẽ có nhận định chung ở cuối chương sau)

264 Chú thích: 843[1] Có sách dịch là: phát biểu những lời lẽ cao xa, buồn hận rằng mình không gặp thời. 844[2] Tức hạng Bá Di, Thúc Tề. 845[3] Tức bọn theo Khổng, theo Mặc. 846[4] Tức bọn Án Anh, Quản Trọng. 847[5] Tức bọn ẩn sĩ mà thí dụ điển hình là Đào Tiềm sau này. 848[6] Tức môn phái theo Đạo giáo khá đông đời Tần và đầu Hán. 849[7] Tôi dịch sát chữ cố trong nguyên văn. Nhƣng tôi nghĩ rằng chữ cố thời đó dùng để đánh dấu đầu đoạn nhiều hơn là để trỏ cái quả của của một cái nhân nhƣ từ ngữ cho nên của ta. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XVI SỬA TÍNH (Thiện tính) 1 Ngƣời nào muốn sửa tính mà dùng cái học thức thế tục để khôi phục bản thể của nó, ngƣời nào muốn chế dục mà dùng những tƣ tƣởng thế tục để đƣợc sáng suốt, những ngƣời đó là bọn mê muội. Ngƣời xƣa muốn tu đạo thì nuôi trí tuệ bằng sự điềm tĩnh. Trong phép dƣỡng sinh mà không dùng trí

265 tuệ thì mới thật là dùng trí tuệ để nuôi sự điềm tĩnh đấy 850 [1]. Trí tuệ và điềm tĩnh cùng nuôi lẫn nhau thì sự điều hoà, trật tự tự nhiên phát ra. Đức là điều hoà, đạo là trật tự. Cái đức bao dung đƣợc hết thảy, đó là nhân; cái đạo thích nghi với mọi ngƣời, đó là nghĩa. Trung là hiểu đƣợc cái nghĩa và thân với ngƣời khác. Nhạc giúp cho con ngƣời thuần khiết, thành thực mà trở về cái tính tự nhiên. Lễ giúp cho con ngƣời thành tín, trong hành vi, trong lời nói, nghiêm chỉnh, văn nhã trong dong mạo, cử chỉ. Nếu theo ý một ngƣời mà đặt ra lễ nhạc rồi bắt mọi ngƣời theo thì thiên hạ sẽ loạn. Gƣợng dùng đức hạnh của mình mà sửa đổi ngƣời khác thì làm cho ngƣời ta bất bình, mà bất bình thì là mất bản tính rồi. 2 Cổ nhân ở trong cảnh hỗn mang, hợp nhất với hoàn cảnh mà đƣợc điềm đạm, yên lặng. Thời đó, âm dƣơng điều hoà với nhau, quỉ thần không quấy nhiễu, bốn mùa ứng hợp với thời tiết, vạn vật không bị thƣơng tổn 851 [2], không chết yểu, ai cũng có trí tuệ nhƣng không dùng tới. Nhƣ vậy gọi là thời chí nhất (hợp nhất hoàn toàn), thời đó không ai hữu vi, cái gì cũng theo luật tự nhiên. 3 Rồi tới thời đạo đức suy vi. Toại Nhân và Phục Hi bắt đầu cai trị thiên hạ, biết thuận theo lòng dân mà không còn hợp nhất hoàn toàn (chí nhất) nữa 852 [3]. Kế đó đạo đức lại suy thêm, Thần Nông và Hoàng Đế lên trị dân, không thuận theo lòng dân mà chỉ làm cho thiên hạ đƣợc thái bình thôi. Đạo đức lại suy thêm, Nghiêu và Thuấn lên trị dân đặt ra cƣơng kĩ, giáo hoá, làm cho dân mất sự thuần khiết, chất phác, bỏ Đạo để làm điều thiện, hành động trái với Đức 853 [4], rồi tới bỏ thiên tính mà theo nhân tâm. Ngƣời ta lấy lòng dò xét nhau, nên không an định đƣợc thiên hạ. Rồi ngƣời ta dùng những lời hoa mĩ [để tô điểm], sự học rộng [để thuyết phục]. Lời hoa mĩ làm hại cái chất phác, sự học rộng làm chìm đắm tâm linh. Do đó dân chúng mê loạn, không trở về bản tính nguyên thuỷ đƣợc nữa. 4

266 Do đó ta thấy ngƣời đời đã đánh mất cái Đạo [chân chính] và cùng cái Đạo mà suy bại luôn. Đạo và đời làm hại lẫn nhau. Mà ngƣời hiểu Đạo làm sao xuất hiện đƣợc, ngƣời đời làm sao phát triển Đạo đƣợc? Đạo không phát triển đƣợc ở đời, đời không phát triển đƣợc Đạo thì bậc thánh nhân dù không ẩn trong rừng núi, Đức cũng bị che lấp, không sáng đƣợc. Ẩn không có nghĩa là giấu mình mà bị che lấp. Thời xƣa, ẩn sĩ không phải là ngƣời ẩn mình không cho ai thấy, hoặc ngậm miệng không nói, hoặc giấu trí tuệ không cho nó biểu lộ ra. Họ làm ẩn sĩ vì đời đã không thuận mà loạn. Nếu thời đó đời mà thuận thì họ đã ảnh hƣởng khắp thiên hạ, đã phục hồi đƣợc sự hợp nhất hoàn toàn mà không để lại một dấu vết nào. Vì không gặp thời nên bị cảnh khốn cùng, họ rán giữ vững bản nguyên, yên tĩnh đợi thời, bảo toàn đƣợc thân. Ngƣời xƣa biết bảo toàn cái thân thì không dùng lời phù hoa tô điểm cho trí tuệ, không dùng trí tuệ của mình làm cho thiên hạ khổ sở, không dùng trí tuệ làm hại cái Đức. Họ thận trọng xử thế để trở về với bản tính, chứ còn làm gì nữa bây giờ? 5 Đạo không thể hợp với một hành vi nhỏ mọn, Đức không thở hợp với những kiến thức hẹp hòi. Kiến thức hẹp hòi làm thƣơng tổn cái Đức, hành vi nhỏ mọn làm thƣơng tổn cái Đạo. Cho nên bảo: Phải sửa mình cho ngay, chỉ có thế thôi. Ngƣời nào bảo toàn đƣợc thiên tính là ngƣời ấy sung sƣớng. Cổ nhân bảo sung sƣớng không phải là có chức cao, bổng hậu 854 [5], mà là không làm tăng thêm niềm vui của mình đƣợc nữa. Ngày nay cho sung sƣớng là có chức cao bổng hậu, những cái đó thuộc về bản thân chứ không phải bản tính của mình; chúng là ngoại vật, tới với ta chỉ là tạm thời. Chúng tới, ta không thể cự tuyệt đƣợc mà chúng đi, ta cũng không ngăn cản đƣợc. Đừng nên vì chức cao bổng hậu mà khoái chí; đừng nên vì cảnh khốn cùng mà chạy theo thế tục. Ngƣời nào vui cả trong hai cảnh, chức cao bổng hậu và khốn cùng thì không lo lắng gì hết. Mất những cái gởi tạm đó đi mà mình mất vui thì đủ biết mình có vui cũng là đánh mất bản tính rồi 855 [6]. Cho nên bảo: Táng thân vì chức tƣớc, của cải, để cho thế tục làm mất bản tính của mình thì là hạng ngƣời lộn ngƣợc đi bằng đầu 856 [7]. NHẬN ĐỊNH VỀ HAI CHƢƠNG KHẮC Ý, THIỆN TÍNH

267 Hai chương này có nhiều điểm giống nhau: - đều rất ngắn, chỉ lí thuyết, chứ không dùng ngụ ngôn, cố sự, - nội dung đại khái như nhau: chỉ cho ta một phép tu dưỡng (mà cũng là phép dưỡng sinh), tức: sống hư tĩnh, vô vi, Tư tưởng hợp với Trang hơn hết thảy các chương trên, như khi bàn về cách sống chất phác, thanh tĩnh, theo luật tự nhiên (XV.1), nhất là bảo không nên đem ý riêng mà đặt ra lễ nhạc (nói chung là pháp độ) mà bắt mọi người theo, như vậy sẽ làm mất bản tính của người ta đi (XVI.1); ý đó đã được diễn trong Ứng đế vương 2. Tuy nhiên, cũng ngay trong bài XVI.1 đó, tác giả lại bảo: Nhạc giúp cho con người thuần khiết, thành thực mà trở về cái tính tự nhiên. Lễ giúp cho con người thành tín, trong hành vi, trong lời nói, nghiêm chỉnh, văn nhã trong dong mạo, cử chỉ ; cơ hồ tác giả chịu ảnh hưởng cả Khổng lẫn Trang. Đoạn dưới đây trong XV.1 càng khiến cho ta tin rằng tác giả không phải là Trang, mà là người thời sau: Hít, thở thật sâu và chậm, tống không khí độc ra, hít không khí trong sạch vô, treo mình lên như con gấu, duỗi mình ra như con chim để được sống lâu, đó chỉ là hành vi của kẻ sĩ đạo dẫn luyện khí, nuôi dưỡng thân thể, như ông Bành Tổ. Cuối thời Chiến Quốc hay đầu đời Hán mới có hạng đạo sĩ luyện cách trường sinh như vậy. Do lẽ đó, hầu hết các nhà phê bình đều cho tác giả hai chương này thuộc nhóm Đạo gia hay ẩn sĩ đời Tần hoặc đầu Hán. Chú thích: 857 [2] Nguyên văn: Vạt vật bất thương. Có sách dịch là: Không làm hại nhau. 858 [3] Theo truyền thuyết, Toại Nhân dạy cho dân dùng lửa, Phục Hi dạy dân đánh cá, nuôi súc vật, vạch ra bát quái, sáng lập ra văn khế.

268 859 [4] L.K.h. dịch là: hành động lấn cái đức. 860 [5] Nguyên văn: hiên miện là có xe dê đi, có mũ miện để đội. 861 [6] Câu này L.K.h. dịch là: nếu mất những cái gởi tạm đó đi mà mình mất vui thì cái vui đó quả là hảo huyền. 862 [7] Chứ không phải bằng chân. Ý nói lầm lộn ngọn với gốc, cái đáng trọng với cái đáng khinh. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XVII NƢỚC MÙA THU (Thu thuỷ) 1 Mùa thu khi nƣớc dƣng, cả trăm con sông đổ dồn ra Hoàng Hà, dòng nƣớc mênh mông, tới nỗi đứng bờ bên đây nhìn qua bờ bên kia không phân biệt đƣợc con bò với con ngựa. Hà Bá (thần sông Hoàng Hà) hoan hỉ, cho mình làm chủ đƣợc hết những cái đẹp trong thiên hạ. Nhƣng khi xuôi dòng qua phía Đông, tới Bắc Hải 863 [1] thấy làn nƣớc vô biên trải ra trƣớc mặt, mới quay lại, ngửng đầu lên nhìn [thần biển là] Nhƣợc, bảo: - Tục ngữ có câu: Ngƣời nào đƣợc nghe trăm điều về đạo 864 [2] thì tự cho là không ai bằng mình. Đó chính là trƣờng hợp của tôi. Tôi đã nghe ngƣời ta chê kiến văn của Trọng Ni không đƣợc bao nhiêu, khinh nghĩa khí của Bá Di là tầm thƣờng, mới đầu tôi không tin; bây giờ tôi mới thấy chỗ vô biên của Ngài, nếu tôi không đến cửa của Ngài [mà thụ giáo] thì nguy cho tôi, tôi sẽ vĩnh viễn bị bậc thức giả chê cƣời mất.

269 Thần Bắc Hải đáp: - Không thể nói về biển cho một con ếch ở đáy giếng nghe đƣợc, vì nó chỉ thấy một khoảng không gian hẹp quá. Không thể nói về băng tuyết cho một con trùng chỉ sống một mùa hè nghe đƣợc vì nó sống một khoảng thời gian ngắn quá. Không thể luận về đạo giáo cho một kẻ sĩ quê mùa 865 [3] nghe đƣợc vì họ bị trói buộc trong điều lễ giáo. Nay anh ra khỏi lòng sông, thấy biển cả mà nhận rằng mình tầm thƣờng thì ta có thể giảng cái chân lí lớn 866 [4] cho anh nghe đƣợc. Nƣớc trong thiên hạ, không đâu rộng bằng biển. Vạn con sông đổ hoài vào đó, không bao giờ ngừng mà nó cũng không hề vơi. Mùa xuân, mùa thu nó vẫn vậy, không biết nắng hạn (xuân) hay lụt lội (thu). Lƣu lƣợng nó hơn hẳn Trƣờng Giang và Hoàng Hà 867 [5] không biết bao nhiêu mà kể. Vậy mà ta không lấy thế mà tự đắc, vì so với trời đất, với tất cả những vật thụ khí âm dƣơng, thì ta có khác gì một hòn cuội, một cây nhỏ trong núi lớn. Biết rằng mình nhỏ rồi, đâu còn tự đắc nữa? So với trời đất, bốn biển khác gì cái hang nhỏ trong cái chằm lớn? So với bốn biển, Trung Quốc khác gì một hạt lúa trong cái kho lớn? Sinh vật có cả vạn loài mà loài ngƣời chỉ là một. Trong số những ngƣời sống ở chín châu (tức Trung Quốc), ăn lúa để sống, đi lại với nhau bằng thuyền và xe, thì cá nhân chỉ là một phần tử. Vậy ngƣời so với vạn vật có khác gì đầu sợi lông trên mình con ngựa? Cái mà ngũ đế kế thừa, cái mà tam vƣơng tranh giành nhau, cái mà hạng ngƣời có nhân lấy làm lo lắng, hạng ngƣời có tài năng phải lao khổ, rốt cục chỉ có vậy thôi ƣ! Bá Di từ nhƣợng mà đƣợc cái danh thơm, Khổng tử bàn luận mà đƣợc coi là bác học. Họ tự hào về đức về tài của họ, có khác gì lúc nãy anh khoe nƣớc của anh nhiều không? Hà Bá nói: - Vậy tôi có thể cho trời đất là lớn mà đầu sợi lông là nhỏ đƣợc không?

270 - Không. Vì cái lƣợng của vạn vật thì vô cùng mà thời gian thì không ngừng, nó biến đổi hoài 868 [6], không biết đâu là thuỷ đâu là chung 869 [7]. Cho nên bậc đại trí nhìn xa rồi nhìn gần, thấy nhỏ không cho là ít, thấy lớn không cho là nhiều, vì biết rằng cái lƣợng của vật vô cùng; hiểu lẽ xƣa cũng nhƣ nay, không tiếc thời xƣa mà cũng không cầu gì ở thời nay, vì biết rằng thời gian không ngừng; xét luật đầy vơi ở trên đời, khi đƣợc đã không mừng mà khi mất cũng không lo, vì biết rằng số phận bất thƣờng. Theo con đƣờng bằng phẳng 870 [8] rồi không cho sống là vui, chết là hoạ, vì biết rằng sống chết không có gì là vĩnh cửu. Cái ta biết ít hơn cái ta không biết, cuộc đời ta sống không dài bằng thời gian trƣớc khi ta sinh ra. Lấy cái cực nhỏ [tức trí tuệ và đời sống của ta] mà muốn hiểu đến cùng cái cực lớn [tức tất cả cái ta không biết và cả thới gian trƣớc khi ta sinh ra], nhƣ vậy là mê loạn, không bao giờ thoả mãn đƣợc. Đã vậy rồi thì làm sao có thể biết đƣợc đầu cái lông làm tiêu chuẩn cho cái cực nhỏ, mà trời đất làm tiêu chuẩn cho cái cực lớn? Hà Bá hỏi: - Bọn nghị luận ngày nay bảo cái cực nhỏ không có hình thể, cái cực lớn không có giới hạn, có thực vậy không? - Từ lập trƣờng nhỏ mà xem cái lớn thì không thấy khắp đƣợc, từ lập trƣờng lớn mà xem cái nhỏ thì không thấy rõ đƣợc. Cái cực nhỏ là cái nhỏ nhất trong những cái nhỏ, cái cực lớn là cái lớn nhất trong những cái lớn. Hai cái đó đều có ƣu điểm riêng, hiện tƣợng đó vốn có 871 [9]. Phân biệt tinh với thô là xét những vật hữu hình; những vật vô hình thì không thể phân chia ra đƣợc; cái gì không có giới hạn thì không thể tính đƣợc. Cái có thể diễn bằng lời đƣợc là cái thô của của sự vật, cái mà ý có thể đạt đƣợc là cái tinh của sự vật. Cái gì mà lời không thể diễn, ý không thể đạt thì vƣợt lên trên cái tinh và cái thô. Bậc đại nhân hành động không làm hại ai cũng không coi trọng lòng nhân và sự gia ân cho ngƣời. Họ hành động không vì lợi, không khinh ngƣời coi cửa, ngƣời đầy tớ, không tranh của cải, không coi trọng sự từ nhƣợng, làm việc thì không nhờ cậy ai, mà cũng không khoe rằng chỉ trông cậy ở sức mình, cũng không khinh bọn tham ô. Hạnh thì khác hẳn thế tục mà không tự hào rằng mình khác ngƣời; làm thì theo đám đông mà không khinh bọn siểm nịnh. Tƣớc lộc không khuyến khích đƣợc

271 họ, hình phạt không làm nhục họ đƣợc vì họ biết rằng không có gì định đƣợc phải trái, lớn và nhỏ. Ta nghe nói rằng: Bậc đạt Đạo thì không có danh tiếng, bậc chí đức thì không cần đƣợc gì cả, còn bậc đại nhân thì không biết có mình. Đó là tự thu giảm (từ nhƣợng) tới mức độ cực cao 872 [10]. Hà Bá hỏi: - [Vật không có tinh và thô, nhƣng có trong và ngoài], vậy lấy bề ngoài hay bề trong mà xét thì làm sao phân biệt đƣợc quí tiện, lớn nhỏ? Thần Bắc Hải đáp: - Theo lập trƣờng Đạo mà xét thì vật không có quí tiện. Theo lập trƣờng của vật mà xét thì vật nào cũng cho mình là quí mà vật khác là tiện. Theo thế tục mà xét thì quí tiện không tuỳ thuộc chính mình [mà tuỳ thuộc ý kiến của ngƣời khác về mình]. Lấy con mắt sai biệt mà xét, muốn nhấn vào chỗ lớn 873 [11] thì không vật nào không lớn; muốn nhấn vào chỗ nhỏ thì không vật nào là không nhỏ. Biết trời đất chỉ nhỏ bằng hột kê mà đầu chiếc lông lớn bằng đồi, núi, tức là hiểu rõ cái độ số sai biệt rồi. Xét về phƣơng diện công hiệu, muốn nhấn vào sự công dụng thì không vật nào không có công dụng ; muốn nhấn vào sự vô dụng thì không vật nào có công dụng. Biết đƣợc đông và tây đối lập nhau, mà phải có phƣơng này mới có phƣơng kia, tức là phân định đƣợc công dụng mỗi vật rồi. Xét về phƣơng diện ý hƣớng, muốn nhấn vào chỗ phải của mỗi vật thì không vật nào là không phải; muốn nhấn vào vào chỗ không phải của mỗi vật thì vật nào cũng là không phải. Biết rằng Nghiêu và Kiệt đều tự cho mình là phải mà đối phƣơng là quấy, tức là có ý niệm đúng về ý tƣởng, hành vi của mọi ngƣời rồi. Xƣa kia Nghiêu và Thuấn vì nhƣờng ngôi mà thành đế vƣơng, vua Yên và Khoái vì nhƣờng ngôi cho tể tƣớng là Tử Chi 874 [12] mà thân chết, nƣớc mất; Thang và Võ [vƣơng] nhờ tranh đoạt mà lên

272 ngôi vua, Bạch công 875 [13] vì tranh đoạt mà bị giết. Do đó mà xét, việc tranh đoạt hay nhƣờng ngôi, hành vi của Nghiêu và Kiệt, bên nào là cao quí, bên nào là đê tiện, đều là tuỳ thời, không có gì là nhất định. Cái đòn nóc hoặc cái rƣờng nhà có thể dùng để tông cửa thành mà không thể dùng để lắp cái lỗ nhỏ, vì mỗi việc có một khí cụ riêng. Loài ngựa tốt kí, kì, và con Hoa lƣu 876 [14] một ngày đi ngàn dặm mà bắt chuột không bằng con li tinh 877 [15], vì mỗi loài có một tài riêng. Ban đêm con cú, con vọ bắt đƣợc con mạt, thấy đƣợc đầu chiếc lông, mà ban ngày mở mắt ra cũng không thấy đƣợc ngọn đồi, ngọn núi, đó là bản tính của mỗi loài vật. Cho nên bảo chỉ muốn bắt chƣớc cái phải mà bỏ cái trái, chỉ muốn có trị mà không có loạn là chƣa hiểu cái lí của trời đất; cái bản thể của vạn vật. Nhƣ vậy không khác gì chỉ muốn bắt chƣớc trời mà không biết có đất, bắt chƣớc âm mà không biết có dƣơng, điều đó hiển nhiên là không thể đƣợc. Nếu cứ cố chấp giữ ý đó thì không phải là ngu muội cũng là lừa gạt. Ngủ đế nhƣờng ngôi mỗi vị mỗi khác, tam đại nhừng ngôi mỗi nhà mỗi khác. Kẻ nào chiếm quyền, mà không hợp thời nghi, trái với lòng dân thì gọi là kẻ cƣớp ngôi; nếu hợp thời nghi, thuận với lòng dân thì gọi là hợp nghĩa. Thôi đừng nói nữa, Hà Bá! Anh làm sao phân biệt đƣợc quí tiện, lớn nhỏ. Hà Bá hỏi: - Vậy thì tôi nên làm gì? Không nên làm gì? Nên từ bỏ hay nên nhận cái gì? Nên tiến hay nên lui? Phải làm sao đây? Thần Bắc Hải đáp: - Theo lập trƣờng Đạo mà xét thì có gì là quí, là tiện? Đó chỉ là tƣơng đối trái nhau thôi 878 [16]. Anh đừng nên câu chấp, nhƣ vậy trái với đạo. Cái gì là ít, là nhiều? Ít, nhiều chỉ là những nhận định nhất thời thôi. Anh đừng chấp nhất trong hành vi, nhƣ vậy là sai Đạo.

273 - Anh phải nghiêm nhƣ một ông vua, không có ân huệ thiên tƣ, phải tự tại 879 [17] nhƣ thần Xã trong lúc tế lễ, không ban phúc cho riêng ai; lòng phải rộng rãi nhƣ bốn phƣơng vô cùng, không có bờ cõi, ôm cả vạn vật, không che chở riêng cho vật nào. Nhƣ vậy là vô tƣ. Vạn vật đều ngang nhau, có vật nào dài, vật nào ngắn đâu? Đạo không có đầu có cuối. Vật sinh rồi chết, đừng trông cậy nó thành tựu vì vật có lúc đầy lúc vơi, không có hình thể bất biến. Tuổi không lùi lại đƣợc, thời gian không thể ngừng lại đƣợc. Có tăng thì có giảm, có đầy có vơi, có chung thì có thuỷ. Có thể coi đó là xu hƣớng của Đạo, tình lí của vạn vật. Đời vạn vật qua mau nhƣ ngựa chạy, không có cái động nào mà không biến, không lúc nào là không chuyển. Anh hỏi nên làm gì, không nên làm gì ƣ? Thì cứ để cho bản thân anh tự nhiên biến hoá. Hà Bá hỏi: - Đạo có gì mà quí vậy? Thần Bắc Hải đáp: - Ai hiểu Đạo thì tất biết lí 880 [18], biết đƣợc lí thì rõ phép quyền biến, rõ phép quyền biến thì không bị ngoại vật làm tổn thƣơng. Bậc chí đức thì vô lửa mà không nóng, xuống nƣớc mà không chìm, nóng và lạnh không làm cho đau đƣợc, cầm thú không làm hại đƣợc. Không phải bậc chí đức khinh suất coi thƣờng những cái đó; họ xét rõ an nguy, bình tĩnh trƣớc hoạ và phúc, thận trọng tiến lui, cho nên không cái gì làm hại đƣợc. Cho nên bảo: Trời ở trong, ngƣời ở ngoài 881 [19], mà Đức ở trời. Biết đƣợc tác dụng của trời, của ngƣời thì lấy trời làm gốc mà đứng vững ở Đức 882 [20] ; ngƣời nhƣ vậy có thể tiến lui, co duỗi, trở về cái cốt yếu mà bàn về cái cao nhất của Đạo. Hà Bá hỏi: - Thế nào là trời? Thế nào là ngƣời?

274 - Bò và ngựa có bốn chân, đó là trời [thiên nhiên], cột đầu ngựa, xỏ mũi bò là ngƣời [làm ra]. Đừng đem cái ngƣời mà mà diệt cái thiên nhiên, đừng đem hành động mà diệt trật tự vũ trụ [mệnh] 883 [21], đừng đem cái bản tính của mình mà hi sinh có danh tiếng. Cẩn thận giữ đúng nhƣ vậy mà dừng quên, thì là trở về cái bản chất [phản kì chân] của mình. 2 Con quì ƣớc ao đƣợc nhƣ con huyên, con huyên ƣớc ao đƣợc nhƣ con rắn; con rắn ƣớc ao đƣợc nhƣ gió; gió ƣớc ao đƣợc nhƣ mắt; mắt ƣớc ao đƣợc nhƣ tim 884 [22]. Con quì bảo con huyên: - Tôi lò cò một chân mà đi, không bằng anh đƣợc 885 [23]. Sao mà anh dùng đƣợc cả vạn chân nhƣ vậy? Con huyên đáp: - Không phải vậy. Anh có thấy một ngƣời nhổ nƣớc miếng không? Những giọt phun ra lớn thì nhƣ hạt châu, nhỏ nhƣ sƣơng mù, hết thảy đều rớt xuống, lẫn lộn, nhiều vô số kể. Tôi vận động theo bản tính tự nhiên [thiên cơ], không hiểu tại sao nhƣ vậy. Con huyên hỏi con rắn: - Tôi có nhiều chân nhƣ vậy, anh không có chân, mà tôi không đi nhanh bằng anh? Con rắn đáp: - Đó là do bản tính tự nhiên, không thể thay đổi đƣợc. Tôi có cần dùng gì đến chân đâu? Con rắn hỏi gió: - Tôi đi bằng xƣơng sống và hai bên sƣờn của tôi, nhƣ vậy là tôi có hình thể. Còn anh ù ù nổi lên ở Bắc Hải, thổi tới Nam Hải, mà cơ hồ không có hình thể. Tại sao vậy?

275 Gió đáp: - Phải, tôi ù ù nổi lên ở Bắc Hải, thổi tới Nam Hải, nhƣng ngƣời ta lấy ngón tay trỏ tôi, tôi không chống lại đƣợc, lấy chân đạp tôi, tôi cũng đành chịu. Tuy nhiên làm gẫy cây lớn, thổi bay nóc nhà lớn, thì chỉ tôi mới làm đƣợc. Vậy tôi biết dùng những cái thua nhỏ để thành một cái thắng lớn. Chỉ bậc thánh nhân mới tạo đƣợc những thắng lớn. 3 Khi Khổng Tử đi tới đất Khuông, bị một đám ngƣời bao vây vòng trong, vòng ngoài. Vậy mà ông vẫn đàn hát không ngừng. Tử Lộ lại gần hỏi: - Lúc này mà sao thầy vui đƣợc nhƣ vậy? Khổng Tử đáp: - Lai đây thầy nói cho nghe. Ta vốn tránh sự khốn cùng từ lâu, mà không thoát khỏi, đó là do số mệnh. Ta vốn mong đƣợc thông đạt từ lâu mà không sao đƣợc, đó là thời vận. Thời Nghiêu Thuấn không ai khốn khổ, đâu phải vì ai cũng khôn cả. Thời Kiệt, Trụ, không ai sung sƣớng, không phải vì ai cũng ngu cả. Thời thế khiến vậy. Xuống nƣớc mà không sợ con giao 886 [24], con rồng, đó là cái dũng của bọn chài lƣới; trên bộ mà không sợ con tê ngƣu, con cọp, đó là cái dũng của bọn thợ săn. Trƣớc mũi gƣơm đao, mà coi chết nhƣ sống, đó là cái dũng của liệt sĩ. Biết rằng khốn cùng do mệnh, thông đạt nhờ thời, gặp nạn lớn mà không sợ, đó là cái dũng của thánh nhân. Do [tức Tử Lộ], anh cứ yên tâm. Số mệnh thầy đã đƣợc an bài rồi. Một lát sau, một ngƣời đeo binh khí, tiến tới xin lỗi Khổng Tử: - chúng tôi lầm ngài là Dƣơng Hổ nên mới bao vây. Bây giờ biết là lầm, xin ngài thứ lỗi cho.

276 Nói rồi, ngƣời đó rút lui. 4 Công Tôn Long 887 [25] hỏi Nguỵ Mâu 888 [26] : - Hồi trẻ tôi học đạo tiên vƣơng, lớn lên hiểu rõ nhân nghĩa, biết hỗn hợp cái giống nhau và cái khác nhau, tách cái rắn và cái cứng (trong cục đá) ra, phủ nhận cái mà ngƣời khác xác nhận, chấp nhận cái ngƣời khác không chấp nhận, làmhoang mang trí tuệ bách gia, khuất phục đƣợc nhiều ngƣời khi biện thuyết, tôi tự cho nhƣ vậy là kiến thức tuyệt vời rồi. Nhƣng bây giờ nghe lời nghị luận của Trang tử, tôi ngạc nhiên, hoang mang, không biết tại tôi lí luận chƣa sâu sắc hay trí tuệ tôi không bằng ông ấy, mà đành câm miệng không nói gì đƣợc. Xin hỏi ông nhƣ vậy là nghĩa làm sao? Công tử Mâu ngồi dựa vào cái kỉ, thở dài, ngƣớc mắt lên trời mà cƣời: - Ông có đƣợc nghe kể chuyện này không? Một con ếch nhỏ ngồi trong một cái giếng sụp nói với một con rùa lớn Biển đông: Tôi sung sƣớng quá, tôi có thể ra khỏi giếng, nhảy lên miệng giếng, rồi lại vô giếng, ngồi nghỉ trong những kẽ gạch của thành giếng. Bơi trong nƣớc thì nƣớc đở nách và cằm tôi, nhảy xuống bùn thì bùn lấp chân tôi tới mắc cá. Ngó lại phía sau, thấy con lăng quăng, con cua, con nòng nọc, không con nào sƣớng bằng tôi. Vã lại một mình chiếm một chỗ nƣớc tụ, tự do bơi lội trong một cái giếng sụp, còn vui gì hơn nữa? Sao anh không vô giếng tôi một lát coi cho biết? Con rùa Biển đông vừa mới muốn đút cái chân bên trái vô giếng thì thấy không còn chỗ vì cái đùi bên phải đã bít cái giếng rồi. Nó từ từ rút chân ra, lùi lại, bảo con ếch: - Biển đông mênh mông, ngàn dậm đã thấm gì, sâu thăm thẳm, ngàn nhẫn 889 [27] đã thấm gì. Thời vua Vũ, cứ mƣời năm thì chín năm lụt, vậy mà mực nƣớc biển không lên. Thời vua Thang, tám năm thì bảy năm hạn hán, vậy mà bờ biển không lùi ra xa. Không vì thời gian ngắn hay dài mà thay đổi, không vì mƣa nhiều hay ít mà tăng giảm, đó là cái vui lớn của Biển đông.

277 Con ếch trong cái giếng sụp nghe vậy ngạc nhiên, thu hình lại, hoảng hốt, bối rối. [Công tử Mâu nói tiếp:] - Vả lại, ngƣời nào mà trí tuệ chƣa biết đƣợc đâu là phải đâu là trái mà đòi xét thuyết của Trang tử thì khác gì con muỗi muốn khiêng núi trên vai hoặc con rết muốn chạy đua với sông Hoàng Hà. Không thể nào đƣợc. Ngƣời nào trí tuệ không nhận đƣợc những sâu sắc tế nhị, kì diệu trong nghị luận mà chỉ tìm những thắng lợi nhất thời thì khác gì con ếch nhỏ trong cái giếng súp đó? Trang tử, chân đạp vào suối vàng mà bay bỗng lên trời xanh, không phân biệt Nam, Bắc, tinh thần bàn bạc khắp vũ trụ, nhập vào chỗ thâm áo không lƣờng đƣợc, không phân biệt Đông, Tây, xuất phát từ chỗ tối tâm nguyên thuỷ (huyền minh) rồi trở về với Đạo. Mà ông hẹp hòi muốn lấy nhãn quang thế tục để phân tích, dùng biện luận để tìm hiểu, có khác gì nhìn trời qua một ống trúc, đâm 890 [28] mặt đất bằng một cây dùi. Nhƣ vậy có nhỏ mọn quá không? Ông nên thôi đi. Ông có nghe nói bọn thanh niên [quê mùa] ở Thọ Lăng [một ấp ở nƣớc Yên] lại Hàm Đan [kinh đô của Triệu] học dáng đi uyển chuyển của ngƣời Triệu không? Chƣa học đƣợc thì đã quên cách đi cũ của họ rồi, đành phải bỏ mà trở về. Nhƣ ông không về ngay đi thì sẽ quên hết những điều ông đã biết mà mất cái nghề nguỵ biện của ông. Công Tôn Long mở miệng không đƣợc, lƣỡi ríu lại, vội vàng chạy đi. 5 Trang tử câu trên sông Bộc.Vua Sở 891 [29] phái hai vị đại phu lại báo trƣớc sẽ xin đem việc nƣớc lại làm phiền ông. Trang tử vẫn cầm cần câu, không ngoảnh lại, mà đáp:

278 - Tôi nghe nƣớc Sở có một con rùa thần, chết đã ba ngàn năm, nhà vua gói nó vào chiếc khăn, cất trong cái hộp ở trên miếu đƣờng. Con rùa ấy chịu chết mà lƣu lại bộ xƣơng cho ngƣời ta thờ hay thích sống mà lết cái đuôi trong bùn? Hai vị đại phu đáp: - Thà sống mà lết cái đuôi trong bùn còn hơn. Trang tử bảo: - Vậy hai ông về đi! Tôi cũng thích lết cái đuôi trong bùn đây. 6 Huệ tử [tức Huệ Thi] làm tể tƣớng nƣớc Lƣơng. Trang tử qua thăm. Có kẻ nói với Huệ tử rằng Trang tử lại để tranh ngôi tể tƣớng. Huệ tử sợ hải, sai ngƣời tìm Trang tử khắp nƣớc suốt ba ngày đêm. Khi tới, Trang tử bảo: - Ông có biết một con chim ở phƣơng Nam ngƣời ta gọi là con uyên sồ 892 [30] không? Khi nó cất cánh từ Nam hải mà lên Bắc hải, không phải là cây ngô đồng thì nó không đậu, không phải là hột luyện thì nó không ăn, không phải là nƣớc suối ngọt thì nó không uống. Một con chim cú đƣơng rỉa xác một con chuột thấy nó bay ngang [sợ nó tranh ăn], ngửng lên nhìn nó, kêu lên một tiếng lớn doạ nó. Nay ông vì [cái ngôi tể tƣớng] nƣớc Lƣơng mà cũng muốn kêu lên để doạ tôi sao? [31] Trang tử cùng với Huệ tử đi dạo trên cầu sông Hào. Trang tử bảo:

279 - Đàn cá du 894 [32] kia thung thăng bơi lội, đó là cái vui của cá. Huệ tử bẻ: - Ông không phải là cá, làm sao biết đƣợc cái vui của cá? Trang tử đáp: - Ông không phải là tôi, làm sao biết đƣợc rằng tôi không biết cái vui của cá? - Tôi không phải là ông, dĩ nhiên tôi không biết đƣợc ông, nhƣng ông không phải là cá thì hiển nhiên là ông không biết đƣợc cái vui của cá. Trang tử bảo: - Xin trở lại câu hỏi đầu tiên. Ông hỏi tôi làm sao biết đƣợc cái vui của cá. Nhƣ vậy tức là ông nhận rằng tôi đã biết cái vui đó rồi [nên mới hỏi làm sao tôi biết đƣợc?]. Làm sao biết tôi đƣợc ƣ? Thì đây: tôi đứng trên cầu sông Hào này mà biết đƣợc. NHẬN ĐỊNH Các học giả từ Vương Phu Chi, Diệp Quốc Khánh tới La Căn Trạch, Hoàng Cẩm Hoành đều cho rằng chương này không phải của Trang tử viết. Như bài 5 (Trang tử câu trên sông Bộc, không chịu giúp vua Sở), bài 6 (Trang tử ví mình như con uyên sồ, cho Huệ tử là con cú) đều là của người đời sau viết về Trang. Hiển nhiên nhất là bài 4 trong đó Nguỵ Mâu cực lực đề cao Trang. Trang tử chân đạp vào suối vàng mà bay bổng lên trời xanh tinh thần bàn bạc khắp vũ trụ, nhập vào chỗ thâm áo không lường được.

280 Một lẽ nữa là bút pháp có chỗ nặng về biện thuyết, lô gích, khác xa bút pháp của Trang, như bài 7. Lẽ thứ ba, trong bài 1 có câu: Xưa kia, vua Yên là Khoát nhường ngôi cho Tử Chi. Việc đó xảy ra vào thời Tề Tuyên vương, tức đương thời Trang tử. Người viết bài đó phải sinh sau Trang tử nên mới dùng hai chữ xưa kia (tích giả). Nhưng xét về nội dung thì những tư tưởng chính trong chương, không có lớn nhỏ, sang hèn, thị phi (bài 1); vật nào cũng có khả năng riêng, hoạt động theo bản tính, vậy không nên ganh tị, ước ao được như những vật khác (bài 2), biện luận không giúp ta tìm được chân lí (bài 4) thì đúng là tư tưởng của Trang trong Tề vật luận và Tiêu dao du. Đặc biệt là những đoạn dưới đây trong bài 1: - Không thể cho trời đất là lớn mà sợi lông là nhỏ vì cái lượng của vật thì vô cùng mà thời gian thì không ngừng, nó biến đổi hoài, không biết đâu là thuỷ là chung. - Theo lập trường Đạo mà xét thì vật không có quí tiện Lấy con mắt sai biệt mà xét, muốn nhấn vào chỗ lớn thì không vật nào không lớn; muốn nhấn vào chỗ nhỏ thì không vật nào là không nhỏ Xét về phương diện ý hướng, muốn nhấn vào chỗ phải của mỗi vật thì không vật nào là không phải, muốn nhấn vào chỗ không phải thì không vật nào là không phải. - Vạn vật đều ngang nhau, có vật nào dài, vật nào ngắn đâu? Đạo không có đầu có cuối. Vật sinh rồi chết, đừng trông cậy nó thành tựu vì vật có lúc đầy lúc vơi, không có hình thể bất biến. Tuổi không lùi lại được, thời gian không thể ngừng lại được. Có tăng thì có giảm, có đầy có vơi, có chung thì có thuỷ. Có thể coi đó là xu hướng của Đạo, lí của vạn vật. Chỉ là khai triển tư tưởng của Trang, nhưng phải là môn đệ thông minh, trung thành của Trang mới viết được. Có nhà đoán rằng hạng môn đệ đó sống đời Tần hoặc Hán. Tuy nhiên, trong bài 1 đó, cũng có điểm khác Trang. Tác giả có vẻ không chấp nhận sự huyền bí, bảo hạng chí đức vô lửa mà không nóng, xuống nước mà không chìm, nóng lạnh không làm cho đau được, không làm hại được chỉ là vì thận trọng tiến lui, xét rõ an nguy, bình tĩnh trước hoạ phúc.

281 Chương này được nhiều người thích vì giọng khoáng đạt trong bài 1 và những cố sự về Trang (bài 5, 6, 7) tuy không chắc là đúng, nhưng lí thú. Chú thích: 895 [1] Bắc hải đây là phía bắc Đông hải. 896 [2] Nghĩa là chƣa đƣợc bao nhiêu mà tự cho là nhiều. 897 [3] Nguyên văn: khúc sĩ, kẻ sĩ ở chốn quê mùa, hẻo lánh; có sách giảng là kẻ tiểu nhân. 898 [4] Nguyên văn: đại lí. L.K.h. dịch là cái trật tự trong xã hội. 899 [5] Hai con sông lớn nhất Trung Hoa. 900 [6] Vật biến đổi hoài nên lƣợng của nó vô cùng. 901 [7] Thời gian trôi hoài nên không biết đâu là đầu là cuối. 902 [8] Câu này mỗi sách hiểu mỗi khác, tôi dịch theo ý riêng, không chắc đã đúng. 903 [9] Nguyên văn: Cố di tiện, thử thế chi hữu dã. Mỗi sách giảng mỗi khác. Có sách dịch là: đều có tiện lợi riêng, do hình thể mà nói. 904 [10] Nguyên văn cũng rất tối nghĩa: ước phận chi chí dã. Có sách dịch là: từ bỏ tới cực độ. Sách khác dịch là hợp tất cả làm một.

282 905 [11] Nguyên văn: nhân kì sở đại nhi đại chi. Có sách dịch là: nhân cái lớn của mỗi vật. [Trong sách, những lời này dùng để chú giải câu muốn nhấn vào chỗ lớn và cả hai câu ở hai đoạn tiếp theo: muốn nhấn mạnh vào sự công dụng và muốn nhấn mạnh vào chỗ phải của mỗi vật ; nhƣng đối chiếu với bản Nguyễn Duy Cần và bản chữ Hán trên trang thì nguyên văn ba câu tƣơng ứng lần lƣợt là: nhân kì sở đại nhi đại chi 因其所大而大之 ; nhân kì sở hữu nhi hữu chi 因其所有而有之 ; nhân kỳ sở nhiên nhi nhiên chi 因其所然而然之 - Goldfish]. 906 [12] Việc này xảy ra vào thời Tề Tuyên vƣơng (coi Chiến Quốc sách VIII.9 trang 626 Lá Bối 1972), vậy là xảy ra ở thời Trang tử. Nhƣng ngƣời viết bài này sống sau Trang tử, nên mới sắp vào việc thời xƣa (tích giả - xƣa kia). 907 [13] Tên là Thắng, cháu nội của Sở Bình vƣơng, dấy binh tranh ngôi, bị Diệp công giết. 908 [14] Hoa lưu: tên một con ngựa tốt trong số tám con ngựa tốt của Chu Mục vƣơng. [Goldfish]. 909 [15] Một loài chồn. 910 [16] Nguyên văn: phản diễn. Có sách dịch là hợp nhất, tức là tuy hai mà một. Có sách giảng là quí, tiện tuần hoàn nhau. 911 [17] Nguyên văn: diêu diêu là tƣơi tỉnh. 912 [18] Theo L.K.h., lí đây là trật tự của vũ trụ. 913 [19] Nghĩa là thiên cơ ở trong lòng, hành vi của ngƣời hiện ra ở ngoài. 914 [20] Theo L.K.h., chữ đắc (trong vị hồ đắc) phải sửa là chữ đức. 915 [21] Nguyên văn: vô dĩ cố diệt mệnh. H.C.H. dịch là đừng vì sự cố mà huỷ diệt tính mệnh. Tôi theo L.K.h. 916 [22] Có thể hiểu nhƣ vầy: con quì (một quái vật tƣợng trƣng có một chân) đi chậm hơn con huyên (một loài trùng có trăm chân, con rết chẳng?) có trăm chân, con huyên bò chậm hơn con rắn không có chân, rắn đi nhanh không bằng gió, gió còn thua mắt vì mắt thấy liền, mắt thua tim (tinh thần) vì tim nghĩ tới đƣợc những cái mà mắt không thấy. Do dó con quì ƣớc ao đƣợc nhƣ con huyên,

283 con huyên ƣớc ao đƣợc nhƣ con rắn 917 [23] Nguyên văn: dư vô như hĩ. Có sách dịch: không gì tiến bằng tôi. 918 [24] Con giao, theo tự điển, cùng một loại với con rồng. 919 [25] Công Tôn Long ở trong phái danh gia (khoảng ), kém Trang tử khoảng ba chục tuổi. Trong chƣơng Tề vật luận, Trang tử đã chỉ trích thuyết của Công Tôn Long. Công Tôn Long tách cái cứng và cái trắng (li kiên bạch); còn Huệ Thi thì hỗn hợp cái giống nhau và cái khác nhau (hợp đồng dị). Tác giả bài này không phải Trang tử, đã lầm, cho thuyết hợp đồng dị cũng của Công Tôn Long. 920 [26] Công tử nƣớc Nguỵ, tên Mâu, chính là môn đệ Dƣơng Chu, ở đây tác giả cho là môn đệ Trang tử. 921 [27] Mỗi nhẫn là tám thƣớc đời Chu. 922 [28] Nguyên văn: chỉ. H.C.H. dịch là đo. 923 [29] Sở Uy vƣơng. Sử kí của Tƣ Mã Thiên cũng chép truyện này, nhƣng lời khác hẳn. 924 [30] Một loài chim phƣợng 925 [31] Trong sách in thiếu (tên bài) 1, 2, 7. Về sau, với các lỗi nhƣ thế, tôi chỉ sửa mà không chú thích. [Goldfish] 926 [32] Một loại cá trắng. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XVIII CHÍ LẠC (Cực vui)

284 1 Trên đời có cái gì cực vui làm cho ngƣời ta bảo toàn cái thân đƣợc không? [Muốn có cái cực vui đó] nên làm gì? Dựa vào cái gì? Nhận cái gì? Tránh cái gì? Lại gần cái gì? Xa lánh cái gì? Yêu cái gì? Ghét cái gì? Cái mà mọi ngƣời trọng là phú, quí, thọ, điều tốt; cái mà mọi ngƣời lấy làm vui thích là mạnh khoẻ, ăn ngon, mặc đẹp, đƣợc hƣởng thanh sắc. Cái mà mọi ngƣời khinh là sự bần tiện, chết yểu, ác tật 927 [1] ; cái mà mọi ngƣời lấy làm đau khổ là thân không đƣợc an vui, miệng không đƣợc ăn ngon, mình không đƣợc mặc đẹp, tai không đƣợc hƣởng thanh sắc. Ai không đƣợc những cái đó thì rầu rĩ, lo sợ. Nhƣ vậy chẳng ngu sao, vì những cái đó chỉ là vui về hình hài. Ngƣời giàu lao khổ, làm việc cho nhiều để tích trữ tiền của mà họ tiêu không hết, nhƣ vậy là đối với hình hài, họ quá cầu cái vật chất ở ngoài 928 [2]. Ngƣời sang [có chức vụ quan trọng], hết ngày tới đêm, suy nghĩ, lo lắng hoài không biết việc mình làm tốt hay xấu, nhƣ vậy là đối với hình hài, họ coi thƣờng quá. Ngƣời ta mới sinh ra đời đã phải lo lắng rồi; nếu trƣờng thọ thì tinh thần mê muội đi, lo lắng nhiều mà vẫn không chết cho, sao mà khổ thế! Nhƣ vậy là xa lạ với hình hài 929 [3], quên không bảo toàn nó. Bậc liệt sĩ hi sinh cho ngƣời khác, đƣợc thiên hạ khen, nhƣng không bảo toàn đƣợc sinh mệnh. Tôi không biết nhƣ vậy cái thiện có thực là thiện không? Hay là bất thiện đấy? Bảo nó là thiện thì sao nó không bảo toàn đƣợc sinh mệnh của mình? Bảo là không thiện thì tại sao nó bảo toàn đƣợc tính mệnh của ngƣời khác? Cho nên bảo: Nếu can gián trung thực mà không đƣợc nghe thì thôi, làm thinh, mặc kệ, đừng can gián nữa. Vậy mà Tử Tƣ 930 [4] cứ cố can gián đến nỗi tàn hại thân thể; ông ấy can gián để đƣợc tiếng là trung. Nhƣ vậy là tốt hay không? Khi tôi xét hành vi của ngƣời đời cùng cái họ lấy làm vui thì tôi biết cái vui đó có thực là vui không. Cái mà ngƣời ta lấy làm thú, hăm hở tranh nhau, nhƣ không thể làm khác đƣợc và đƣợc mọi ngƣời cho là vui; cái đó tôi tự hỏi có là vui thực hay không?

285 Tôi cho rằng vô vi mới thực là vui, nhƣng mọi ngƣời cho nó là rất khổ. Cho nên bảo: Cực vui thì không vui, cực có danh dự thì không có danh dự. Cái phải, cái trái trong thiên hạ, quả là chƣa định đƣợc; nhƣng vô tri thì quyết định đƣợc phải trái. Nếu cái cực vui là làm cho ngƣời ta sống thì chỉ có vô vi mới bảo toàn đƣợc thân mệnh. Tôi xin thử giải thích: trời vô vi nên mới trong xanh, đất vô vi nên mới yên tĩnh. Hai cái vô vi đó phối hợp nhau mà vạn vật mới sinh hoá. Thấp thoáng mập mờ (hoảng hốt) 931 [5] không biết đâu mà ra, thấp thoáng mập mờ mà không có hình tƣợng. Vạn vật phồn tạp, đều từ vô vi mà ra. Cho nên bảo: Trời đất không làm gì cả mà không có gì là không làm. Ai là ngƣời có thể vô vi đƣợc đây? 2 Vợ Trang tử chết, Huệ tử lại điếu, thấy Trang tử ngồi xoạc chân ra, gõ nhịp vào một cái vò 932 [6] mà hát, bèn bảo: - Ăn ở với ngƣời ta, ngƣời ta nuôi con cho, nay ngƣời ta chết, chẳng khóc đã là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ƣ? Trang tử đáp: - Không phải vậy. Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thƣơng xót? Nhƣng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa; chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ 933 [7] mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn vận hành đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái Nhà lớn 934 [8] mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc. 3

286 Chú Chi Li và chú Hoạt Giới 935 [9] cùng ngắm mộ ông Hoàng Đế ở trên núi Minh Bá 936 [10], trong miền hoang dã Côn Lôn. Một lát họ bỗng thấy một cái bƣớu 937 [11] mọc ở khuỷu tay trái họ ra. Chi Li vừa sợ, vừa khó chịu, hỏi bạn: - Anh thấy ghét cái bƣớu này không? Hoạt Giới đáp: - Không. Sao lại ghét nó? Sống chỉ là gởi thôi; ta sinh ra là gởi tạm ở đời này. Đời sống chỉ là bụi rác. Sống với chết, cũng nhƣ ngày và đêm, nối tiếp nhau. Vả lại anh và tôi đƣơng quan sát sự biến hoá của tự nhiên, mà bây giờ sự biến hoá xảy đến cho tôi thì sao tôi lại ghét nó? 4 Trang tử đi qua nƣớc Sở thấy một sọ ngƣời đã khô nhƣng còn nguyên vẹn, cầm roi ngựa gõ vào, hỏi: - Ai đó vì tham sinh, trái với thiên lí mà tới nỗi này? Hay là làm điều hại nƣớc mà bị chết chém? Hay là có những hành vi bất lƣơng, làm xấu hổ cha mẹ vợ con mà tới nỗi vậy? Hay là vì chết đói chết rét mà tới nỗi vậy? Hay là đƣợc sống hết tuổi trời rồi chết? Nói xong, Trang tử lấy cái sọ đó kê đầu mà ngủ. Nửa đêm, sọ ngƣời hiện lên trong mộng, bảo: - Nghe ông nói tựa nhƣ một biện sĩ. Ông chỉ nói đến những hệ luỵ của ngƣời sống; mà chết rồi thì hết. Ông muốn nghe tôi nói cái vui sau khi chết không? - Dạ, xin cho nghe. Cái sọ bèn nói: - Chết rồi thì không có vua ở trên, bề tôi ở dƣới nữa, không có công việc trong bốn mùa nữa, thung

287 dung cùng thọ với trời đất 938 [12], dù làm vua cũng không vui bằng. Trang tử không tin, bảo: - Nếu tôi xin vị thần coi việc sống chết cho hình thể ông sống lại với đủ da thịt, xƣơng, gân, để ông gặp lại cha mẹ vợ con, bạn bè, hàng xóm thì ông có muốn không? Cái sọ cau mày nhăn nhó đáp: - Làm sao tôi chịu bỏ cái vui nhƣ ông vua mà chịu trở lại cảnh lao khổ của cõi ngƣời đƣợc? 5 Nhan Uyên qua phƣơng đông, tới nƣớc Tề. Khổng Tử có vẻ lo. Tử Cống rời cái chiếu, hỏi thầy: - Con xin hỏi, anh Hồi qua nƣớc Tề mà thầy có vẻ lo, là tại sao? Khổng Tử đáp: - Anh hỏi nhƣ vậy là phải. Xƣa Quản tử (tức Quản Trọng) nói câu này mà thầy khen là rất đúng: Cái đẫy nhỏ không chứa đƣợc một vật lớn, sợi dây ngắn không thể thòng xuống giếng sâu mà múc nƣớc. Lời đó nghĩa là số mệnh đã định rồi, mỗi vật thích nghi với công dụng của nó, không thể thay đổi đƣợc. Thầy sợ anh Hồi đem đạo Nghiêu, Thuấn, Hoàng Đế, rồi lại đem lời của Toại Nhân, Thần Nông giảng cho vua Tề nghe, những lời đó trái với tâm ý vua Tề, vua Tề không hiểu đƣợc, không hiểu đƣợc thì mê hoặc mà nghi ngờ, rồi giết anh Hồi mất. Vả lại, anh không đƣợc nghe chuyện này sao? Xƣa có một con chim biển đáp xuống ngoài thành nƣớc Lỗ. Vua Lỗ ngự ra bắt nó, rƣớc nó về thái miếu, đặt tiệc mừng nó, cho tấu nhạc Cửu Thiều, làm lễ thái lao [mổ bò, cừu và heo] khoản đãi nó. Nhƣng con chim dớn dác, âu sầu, không ăn một miếng thịt, không uống một giọt rƣợu, ba ngày sau chết. Đó là lấy cách phụng dƣỡng mình mà nuôi chim. Muốn lấy cách nuôi chim mà nuôi chim thì phải cho nó ở trong rừng sâu, tự do dạo trong đồng lầy, trôi nổi trên sông hồ; phải cho nó ăn lƣơn hoặc ăn cá nhỏ, để nó bay cùng hàng với những con chim khác, đáp xuống đâu thì đáp, tự do, tự tại. Chỉ nghe tiếng nói của ngƣời nó đã ghét rồi, huống hồ

288 tiếng nhạc ồn ào đó, làm sao nó chịu nổi? Nếu tấu khúc Hàm Trì hoặc Cửu Thiều ở cánh đồng Động Đình 939 [13] thì loại chim nghe thấy tất bay đi, loài thú nghe tất chạy, loài cá nghe tất lặn xuống sâu, mà ngƣời thì bu lại nghe. Cá dƣới nƣớc thì sống, ngƣời ở dƣới nƣớc thì chết; vì mỗi loài một khác nên nhu cầu 940 [14] cũng khác. Vì vậy thánh nhân thời xƣa nhận rằng mỗi ngƣời có một khả năng riêng mà không dùng mọi ngƣời vào chung một việc. Danh phận phải hợp với thực tế, bổn phận phải thích nghi với khả năng. Nhƣ vậy gọi là đạt đƣợc lẽ tự nhiên mà duy trì đƣợc hạnh phúc. 6 Liệt tử trong khi qua Vệ, ngồi ăn bên đƣờng, bỗng thấy một cái sọ ngƣời đã đƣợc một trăm năm, bèn vạch cỏ, trỏ nó, bảo: Chỉ có ông và tôi hiểu rằng không có gì thực là sinh, thực là tử. Ông có thực là khổ không, mà tôi có thực là sƣớng không? 941 [15] 7 Phôi chủng có bộ phận cực nhỏ gọi là cơ. Cái cơ đó gặp nƣớc thì thành một thứ cỏ tựa nhƣ tơ, gọi là tuyệt 942 [16] gặp chỗ đất giáp nƣớc thì thành rêu xanh, gặp chỗ khô trên gò thì thành một thứ cỏ gọi là xa tiền thảo. Xa tiền thảo ở chỗ có phân thì thành ô túc thảo [cỏ chân quạ], rễ ô túc thảo biến thành bọ ray, còn lá thì biến thành bƣớm. Chỉ trong một thời gian ngắn, bƣớm biến thành con sâu nhỏ, sống ở dƣới bếp lò, hình nó giống con ve mới thoát xác, tên nó là con cù xuyết. Sau một ngàn ngày, con cù xuyết biến thành một con chim gọi là con Can dƣ cốt. Nƣớc bọt con này biến thành con tƣ di, con tƣ di biến thành con miệt mông [con ăn giấm], con miệt mông lại sinh ra con di lộ 943 [17], con cửu du lại sinh ra con hoàng huống, con hoàng huống sinh ra con đom đóm, con đom đóm sinh ra con mậu nhuế [một loại sâu ở trong trái dƣa]; rễ cỏ dƣơng hè kết với thứ trúc lâu năm không đâm măng sinh ra con thanh ninh [một loại sâu ở rễ trúc], con thanh ninh

289 sinh ra con trình 944 [18], con trình sinh ra con ngựa; ngựa sinh ra ngƣời, ngƣời lại trở về cái cơ. Nhƣ vậy là vạn vật đều từ cái cơ, rồi lại về cái cơ. NHẬN ĐỊNH Chỉ trừ bài 5 mà đại ý là mỗi người có một khả năng riêng; nhiệm vụ phải hợp với khả năng thì con người mới sung sướng, còn sáu bài kia nói đến sự sống chết, luật biến hoá và có thể tóm tắt trong mấy chữ này: Chết là vui. Chết là vui vì sống là khổ: Người ta mới sinh ra ở đời đã phải lo lắng rồi, nếu trường thọ thì tinh thần mê muội đi, lo lắng nhiều mà vẫn không chết cho, sao mà khổ thế!. (bài 1) Sống chỉ là gởi thôi; ta sinh ra là gởi tạm ở đời này. Đời sống chỉ là bụi rác.. (bài 3) Trái lại, Chết rồi thì không có vua ở trên, bề tôi ở dưới, không có công việc trong bốn mùa nữa, thung dung cùng thọ với trời đất, dù làm vua cũng không vui bằng. (bài 4) Cho nên trong bài 2, khi vợ chết, Trang tử chẳng những không buồn mà còn ngồi xoạc chân ra, gõ nhịp vào một cái vò mà hát. Vui đó là vui cho vợ, khỏi phải cực khổ trên kiếp bụi rác này mà được yên nghỉ trong cái nhà Nhà lớn (tức vũ trụ). Tư tưởng đó không phải của Trang mà truyện Trang tử cổ bồn nếu không phải là truyện tưởng tượng thì cũng không hoàn toàn đúng sự thực. Chúng ta nhớ lại, trong Đại tôn sư, Trang tử viết: Sống hay chết đều do mạng trời, cũng như có đêm, có ngày. Ông tề sinh tử, coi sống chết ngang nhau, không trọng cái nào hơn cái nào. Hơn nữa, trong Dưỡng sinh chủ, ông còn chỉ cho ta cách dưởng sinh, như vậy là ông ta coi trọng sự sống, muốn được vui vẻ hưởng trọn tuổi đời, chứ đâu có bảo nó là bụi rác.

290 Mà lời ông đáp sứ giả nước Sở, thích làm con rùa sống lết cái đuôi trong bùn chứ không chịu làm con rùa chết được thờ trong miếu đường (XVII.5), tuy không bàn về lẽ sống chết, chỉ tỏ ý khinh hư danh mà trọng sự an nhàn, nhưng cũng rất hợp với chủ trương không ghét sự sống của ông. Do đó chúng ta có thể kết luận rằng chương này không phải của Trang tử, cũng không phải của môn phái ông (như chương trên) mà có lẽ là của môn phái Lão. Chương 13, Đạo Đức kinh, Lão tử có viết: Ta sở dĩ phải lo lớn là vì có cái thân, nếu không có cái thân thì còn lo gì nữa. Mà muốn cho không có cái thân thì chỉ có cách là chết. Vậy cơ hồ là Lão tử chứ không phải Trang tử cho chết là vui. Bài 7 chép về sự biến hoá của vạn vật, có một giá trị đặt biệt: Về triết học, nó muốn chứng minh rằng không có sự phân biệt sống với chết, chết tức biến thành một loài khác, bắt đầu sống một cuộc sống khác; về khoa học nó đi trước Buffon, Lamark, Darwin, tuy không giảng sự biến hoá từ giống này ra giống khác, nhưng cũng nhận được sự liên hệ giữa vạn vật từ một bộ phận cực nhỏ mà tác giả gọi là cái cơ tức là một tế bào hay một phản ứng hoá học? tiến lần lên thực vật, động vật, sau cùng là loài người. Các học giả Trung Hoa đoán bài đó của phái Hoàng Lão (Đạo giáo) hay âm dương gia viết, chứ không phải của Trang tử vì theo Trang tử vật có thể hoá thành người, người có thể hoá vật, còn bài này chủ trương rằng chỉ có vật lần lần hoá thành người thôi. Chú thích: 945 [1] Nguyên văn: ác. Có sách dịch là tiếng xấu.

291 946 [2] Nguyên văn: kì vị hình dã, diệt ngoại hĩ. H.C.H. dịch là: đối với hình thể hà khắc quá. 947 [3] Nguyên văn: kì vị hình dã, diệc viễn hĩ. Câu này cũng nhƣ câu trong chú thích trên rất tối nghĩa, mỗi sách giảng mỗi khác. 948 [4] Coi chú thích chƣơng X: Khƣ khiếp. 949 [5] Hai chữ hoảng hốt này nguyên ở Đạo Đức kinh của Lão tử. L.K.h. dịch là: vụt qua, không bắt đƣợc, không hiểu đƣợc. 950 [6] Ta thƣờng dịch là vỗ vào cái bồn. Chính là cái vò bằng đất mà thời đó, nƣớc Tần là nhạc khí. 951 [7] Coi chú thích bài trên. Có thể dịch là cái hƣ không. 952 [8] Tức trời đất. 953 [9] Chi Li tƣợng trƣng cho sự quên hình hài; Hoạt Giới tƣợng trƣng sự quên trí tuệ. 954 [10] Tƣợng trƣng sự tối tăm. 955 [11] Nguyên văn là chữ liễu (cây liễu); nhƣng các bản đều bảo chính là chữ lựu (cái bƣớu). 956 [12] Nguyên văn: dĩ thiên địa vi xuân thu (lấy trời đất làm mùa xuân mùa thu). 957 [13] Cũng nhƣ bài 3 chƣơng Thiên vận, Động Đình ở đây chỉ là một tên tƣợng trƣng. 958 [14] Nguyên văn là hiếu ố: thích và ghét. 959 [15] Bài này trong bộ Liệt tử, trang 96 Lá Bối [16] H.C.H. bảo đọc là tuyệt, D.N.L. đọc là kế. Không có trong các tự điển. 961 [17] Ở đây chắc thiếu mấy chữ: con di lộ lại sinh ra con cửu du. 962 [18] Trình: D.N.L. cho là một loại sâu màu hong; H.C.H. lại bảo là con báo (Ngƣời nƣớc Việt thời đó gọi con báo là trình).

292 Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XIX HIỂU ĐƢỢC SỰ SỐNG (Đạt sinh) 1 Ngƣời nào thực hiểu đƣợc sự sống 963 [1] thì không quan tâm tới những cái mà sự sống của mình không làm gì đƣợc; ngƣời nào thực hiểu đƣợc vận mạng thì không quan tâm tới những cái mà trí tuệ của mình không làm gì đƣợc. Muốn nuôi thân thể thì trƣớc hết phải có thức ăn thức uống; nhƣng có ngƣời dƣ thức ăn thức uống mà thân thể vẫn không đƣợc nuôi (vì ngoại vật chƣa đủ để nuôi thân thể). Muốn sống thì trƣớc hết phải săn sóc thân thể; nhƣng ngƣời có thân thể đƣợc săn sóc kĩ mà vẫn chết yểu. Khi sự sống xuất hiện thì không ai ngăn trở nó đƣợc; khi nó mất thì không ai níu nó lại đƣợc. Vậy mà buồn thay, ngƣời đời tin rằng cứ nuôi thân thể là giữ đƣợc sự sống. Nuôi thân thể đã không đủ giữ đƣợc sự sống thì trên đời này có gì đáng làm nữa? Cái gì không đáng làm mà không thể không làm đƣợc, cái đó ngƣời ta bảo là không thể tránh đƣợc. Ai muốn tránh sự di dƣỡng hình thể thì tốt hơn là nên bỏ thế tục đi. Bỏ thế tục thì không còn hệ luỵ nữa. Không còn hệ luỵ thì giữ đƣợc sự quân bình, yên ổn. Giữ đƣợc sự quân bình, yên ổn thì sống một đời sống mới và đạt đƣợc mục đích. Tại sao những việc thế tục lại đáng bỏ đi? Tại sao đời sống lại đáng phóng khí (không quan tâm đến)? Là vì bỏ những việc thế tục đi thì không lao tổn thể xác, mà phóng khí đời sống thì tinh thần không bị suy tổn 964 [2]. Thể xác không hao tổn, tinh thần không suy tổn thì hợp nhất đƣợc với trời. Trời đất là cha mẹ của muôn loài. Trời đất (tức ngũ hành, âm dƣơng) hợp thành hình thể [của muôn loài], tán thì muôn loài trở về nguồn gốc [lúc chƣa sinh]. Ai giữ đƣợc toàn vẹn hình thể và tinh thần thì biết thích ứng với mọi hoàn cảnh thay đổi 965 [3]. Mỗi ngày một thích ứng hơn lên (?) 966 [4] mà trở về bản nguyên, nhƣ vậy là giúp đƣợc Đạo trời [tức đạo tự nhiên].

293 2 Liệt tử hỏi Quan Doãn 967 [5] : - Bậc chí đức lặn dƣới nƣớc mà không ngạt, đi trong lửa mà không bỏng, bay bổng lên trên vạn vật mà không run sợ. Xin ông giảng cho tôi làm sao mà lại đƣợc nhƣ vậy? Quan Doãn đáp: - Nhƣ vậy là nhờ giữ đƣợc cái khí thuần hoá, chứ không nhờ trí xảo hay quả cảm. Ông ngồi xuống, tôi giảng cho ông nghe. Hễ có hình dáng, thanh âm, khí sắc thì đều là sinh vật cả. Sinh vật khác nhau ở đâu? Làm sao có vật này hơn vật khác đƣợc? Chỉ là nhờ không có hình sắc mà thôi. Nhƣng vật nào không có hình sắc thì đạt đƣợc cảnh giới không biến hoá nữa. Đạt đƣợc cùng cực của cảnh giới ấy thì không bị các vật khác khống chế nữa. Nhƣ vậy là đạt đƣợc cái trung độ 968 [6], cái cƣơng kỉ vô thuỷ vô chung, mà tiêu giao cảnh giới sơ thuỷ của vạn vật 969 [7], hợp nhất bản tính, hàm dƣỡng nguyên khí, trở về với cái Đức nguyên thuỷ mà cảm thông với tự nhiên. Một ngƣời nhƣ vậy bảo toàn đƣợc thiên tính, tinh thần không suy tổn, ngoại vật làm sao xâm nhập mà làm hại ngƣời đó đƣợc? Nhƣ trƣờng hợp ngƣời say rƣợu mà té xe, tuy bị thƣơng mà không chết. Xƣơng và khớp xƣơng cũng nhƣ mọi ngƣời mà không bị hại nhƣ mọi ngƣời, là nhờ [say rƣợu] mà giữ đƣợc cái thần, lên xe đã không biết, té xe cũng không hay. Tử sinh, kinh cụ không xâm nhập lòng ngƣời đó, cho nên tiếp xúc 970 [8] với ngoại vật mà không biết sợ. Kẻ nhờ rƣợu giữ toàn đƣợc cái thần mà còn nhƣ vậy, huống hồ là ngƣời tự nhiên vô tâm. Thánh nhân hoà hợp với tự nhiên, nên không vật gì làm hại nổi. Kẻ muốn phục thù không lẽ lại bẻ cây gƣơm 971 [9] của kẻ thù [vì cây gƣơm vốn vô tâm]; mà dù có nóng tính, cũng không ai lại oán phiến ngói rơi nhằm đầu mình [vì phiến ngói vô tâm]. Theo đƣợc đạo [qui tắc] đó thì thiên hạ đƣợc quân bình, không có loạn chiến tranh, không có cái hoạ chém giết. Không nên dùng trí tuệ mà truy cầu tự nhiên, cứ thuận theo bản tính mà ứng hợp với tự

294 nhiên. Thuận theo bản tính thì cái Đức sẽ phát, dùng trí tuệ thì sự tàn hại sẽ sinh. Đừng ém cái tự nhiên, đừng diệt cái thiên tính ở ngƣời, nhƣ vậy thì may ra dân chúng trở về bản chân đƣợc. 3 Bài này kể chuyện Khổng Tử gặp ông lão bắt ve sầu và khuyên ta nên chuyên tâm nhất trí. Tôi đã dịch trong Liệt tử (II.10) trg Lá Bối Nhƣng trong cuối bài còn thêm câu chê Khổng tử. 4 Nhan Uyên hỏi Trọng Ni: - Con có lần qua cái vực chén sâu. Ngƣời đƣa đò lái thuyền giỏi nhƣ thần. Con hỏi có học đƣợc thuật của chú ấy không. Chú ấy đáp rằng đƣợc: một ngƣời giỏi lội mà chịu tập nhiều lần thì lái thuyền đƣợc, còn ngƣời biết lặn thì chẳng thấy chiếc thuyền lần nào cũng lái đƣợc. Con hỏi tại sao, chú ấy không đáp. Xin thầy giảng cho con chú ấy muốn nói gì vậy? Trọng Ni đáp: - Ngƣời giỏi lội tập ít lần là lái đƣợc thuyền vì ngƣời ấy không nghĩ tới nƣớc; còn ngƣời biết lặn chƣa hề thấy chiếc thuyền mà cũng lái đƣợc là vì coi vực sâu nhƣ một cái gò, mà thuyền có lật thì cũng nhƣ xe phải lùi lại thôi. Cả vạn cách lật hay lui cũng không làm cho ngƣời ấy động tâm, cho nên xảy ra gì thì ngƣời đó cũng ung dung. Đánh bạc mà ăn thua bằng viên ngói [chứ không bằng tiền] thì ai đánh cũng cao hết; nếu ăn thua bằng cái móc dây lƣng thì con bạc đã ngại ngại rồi; nếu ăn thua bằng vàng thì con bạc sẽ mê loạn. Tài cao thấp của con bạc trƣớc sau vẫn vậy, chỉ vì trọng ngoại vật mà sinh ra xúc động. Trọng ngoại vật thì nội tâm sẽ mê loạn mà hoá vụng. 5 Điền Khai 972 [10] lại yết Chu Uy Công 973 [11], Uy Công hỏi:

295 - Tôi nghe nói ông Chúc Hiền học đƣợc phép dƣỡng sinh, ông theo học ông ấy, có nghe đƣợc điều gì không? Điền Khai đáp: - Khai tôi chỉ cần chổi đứng hầu ở cửa, có đƣợc nghe thầy tôi nói gì đâu. - Điền tiên sinh đừng khiêm nhƣợng, xin cho quả nhân đƣợc nghe mà. Điền Khai đáp: - Tôi đƣợc nghe thầy tôi dạy rằng ngƣời biết dƣỡng sinh thì nhƣ ngƣời chăn cừu, quất những con trụt lại phía sau. - Nhƣ vậy nghĩa là làm sao? - [Tôi xin lấy thí dụ]. Nƣớc Lỗ có ngƣời tên Thiện Báo sống ở trong núi, chỉ uống nƣớc lã, không tranh lợi với ai, bảy chục tuổi mà khí sắc còn nhƣ một em bé. Chẳng may một hôm gặp một con hổ đói, bị hổ vồ và ăn thịt. Lại có ngƣời tên là Trƣơng Nghị, nơi nào phú quí, cửa cao che rèm cũng mon men tới, bốn chục tuổi bị chứng nội nhiệt mà chết. Thiện Báo tu dƣỡng nội tâm mà bị hổ vồ cái ngoại hình, Trƣơng Nghị săn sóc cái ngoại hình mà bị bệnh xâm nhập bên trong. Cả hai đều không biết quất những con cừu trụt lại phía sau. Trọng Ni bảo: Đừng quá giấu mình, đừng quá khoe mình, cứ giữ mức trung, theo đƣợc ba điều đó thì cái danh tột bực. Những ngƣời quá sợ tai nạn giữa đƣờng, khi thấy một ngƣời bị giết trong số mƣời ngƣời đi là đã cha con, anh em cảnh giới nhau, tụ họp thành đám đông rồi mới dám ra khỏi cửa, nhƣ vậy chẳng là sáng suốt, thận trọng ƣ? Nhƣng cái mà ngƣời ta đáng lo ngại nhất tức là việc chăn gối, ăn uống thì lại không biết tự răn mình. Đó thực là lầm lớn.

296 6 Viên quan chủ tể bận lễ phục đen lại chỗ nhốt heo, rán thuyết phục chúng: - Chúng bay tại sao lại sợ chết? Ta sắp nuôi mập chúng bây ba tháng, rồi ta sẽ giữ giới 974 [12] trong mƣời ngày, ăn chay ba ngày, sau đó đặt vai và chân chúng bây lên một cái chiếu bằng bằng cỏ mao trắng, bày trên một cái bàn trổ đẹp đẽ để cúng. Chúng bây có chịu không? Ngƣời ta nếu nghĩ tới cái lợi của heo thì tất nuôi chúng bằng cám và hèm rƣợu mà để chúng ở yên trong chuồng. Vậy mà nghĩ tới cái lợi của chính mình thì lại rán làm sao cho đƣợc vẻ vang phú quí khi còn sống, chết rồi đƣợc liệm trong cái quan tài trang sức đẹp đẽ, đặt lên cái linh xa sang trọng. Thì ra cái gì ngƣời ta mƣu tính cho heo lại không làm cho mình. Tại sao xử với mình lại khác xử với heo nhƣ vậy 975 [13]. 7 Tề Hoàn Công săn bắn trong chằm lớn, Quản Trọng đánh xe. Hoàn Công thấy một hồn quỉ bèn vỗ vào vai Quản Trọng hỏi: - Trọng phụ 976 [14] thấy gì không? Quản Trọng đáp: - Thần không thấy gì hết. Về tới cung, Hoàn Công phiền muộn rồi phát bệnh mấy ngày không ra triều. Một bậc sĩ của Tề tên Hoàng tử Cáo Ngao 977 [15] vô thăm, tâu:

297 - Nhà vua tự làm cho mình sinh bệnh chứ hồn quỉ nào làm cho nhà vua sinh bệnh đƣợc. Khi giận dữ, tà khí tụ lại mà tinh thần li tán không phản hồi thì nguyên khí hoá ra bất túc; nếu tà khí bốc lên mà không hạ xuống thì ngƣời ta sinh ra dễ giận, nếu nó chỉ hạ xuống mà không bốc lên thì ngƣời ta mau quên; nếu nó không lên xuống, kết lại vào khoảng tim thì sinh bệnh. Hoàn Công hỏi: - Nhƣng, có quỉ hay không? - Có. Chỗ đất bùn 978 [16] thì có quỉ Lí, bếp thì có ông Táo, đám phân phía trong cổng thì có thần sấm, ở dƣới tƣờng phía Đông Bắc thì có thần Dật Dƣơng, dƣới nƣớc có quỉ Võng Tƣợng, trên gò có quỉ Săn, trên núi có quỉ Quì, đồng ruộng có quỉ Bàng Hoàng, chằm lớn có quỉ Uy Di. Hoàn Công hỏi: - Xin cho biết hình dáng quỉ Uy Di ra sao. Hoàng tử Cáo Ngao đáp: - Quỉ đó lớn nhƣ cái trục xe, dài nhƣ cái tay xe, áo tía, mũ đỏ. Nó ghét nghe tiếng xe chạy ầm ầm nhƣ tiếng sấm, nghe thấy thì nó ôm đầu [bịt tai] mà đứng dậy. Ai trông thấy nó thì sẽ thành bá vƣơng. Hoàn Công mừng rỡ, cƣời và bảo: - Quả nhân đã trông thấy nó. Nói xong, ông sửa áo mũ cho ngay ngắn, ngồi nói chuyện với Cáo Ngao. Chƣa hết ngày đó, bệnh ông biến mất lúc nào không hay 979 [17]. 8

298 Kỉ Sảnh Tử 980 [18] luyện gà đá cho vua 981 [19]. Mới đƣợc mƣời ngày vua vua đã hỏi xong chƣa. Đáp: Chƣa, gà còn kiêu khí, tự thị. Mƣời ngày sau lại hỏi. Đáp: Chƣa, mắt nhìn còn hăng, khí còn thịnh. Mƣời ngày sau lại hỏi. Đáp: Gần đƣợc, nghe gà khác gáy, nó không xúc động nữa. Coi nó tựa nhƣ gà bằng gỗ, đức nó toàn bị rồi, gà lạ không dám đƣơng đầu với nó, thấy nó là quay đầu chạy. 9 Bài này gần y hệt II.9 (Thuật lội trong nƣớc) trong Liệt tử (trg. 196) nên chúng tôi không dịch lại. Đại ý là tập hoài cho thành một bản tính, thành tự nhiên rồi để cho nƣớc đƣa mình đi chứ không theo ý riêng của mình. 10 Ngƣời thợ mộc tên Khánh đẽo gỗ làm một cái giá chuông, ai coi cũng phục là khéo nhƣ thần. Lỗ hầu trông thấy hỏi thuật đẽo ra sao. Đáp: - Thần là một ngƣời thợ thƣờng, có thuật nào đâu. Nhƣng có điều này: Trƣớc khi đẽo cái giá đó, thần không dám để cho hao tổn nguyên khí mà phải trai giới để tĩnh tâm. Trai giới đƣợc ba ngày thì không nghĩ tới khen thƣởng, tƣớc lộc nữa. Trai giới đƣợc năm ngày thì không nghĩ tới lời phê bình khen chê khéo vụng nữa. Trai giới đƣợc bảy ngày thì quên rằng thân có hình thể tay chân. Lúc đó, thần không biết có triều đình của nhà vua nữa. Thần chuyên tâm vào nghệ thuật mà bao nhiêu phiền loạn ở ngoài tiêu tan hết. Sau, thần mới vô rừng, quan sát tính chất của các cây. Thấy đƣợc cây nào hình chất hoàn toàn thích hợp rồi thì hình cái giá chuông mới hiện rõ trong óc thần và thần bắt tay

299 vào việc. Không vậy thì không làm 982 [20]. Nhờ sự hoà hợp giữa cái tự nhiên của thần với cái tự nhiên của cây mà giá chuông mới khéo nhƣ thần 983 [21] đẽo, có lẽ vậy chăng? 11 Đông Dã Tắc 984 [22] yết kiến [Vệ] Trang Công để tỏ tài đánh xe. Ngựa tiến lui nhƣ trên một đƣờng thẳng vạch bằng dây nẩy mực, lƣợn qua phải qua trái thành những vòng tròn nhƣ vẽ bằng cái qui [com-pa]. Trang Công cho rằng những đƣờng thêu cũng không điều đặn hơn vậy đƣợc 985 [23], và bảo Đông Dã Tắc đánh xe chạy một trăm vòng trên con đƣờng nhƣ một cái móc câu. Nhan Hạp 986 [24] đi ngang qua thấy vậy, vô yết kiến Trang Công, bảo: - Ngựa của Đông Dã Tắc kiệt lực mất. Trang Công làm thinh không đáp. Quả nhiên một lát sau ngựa kiệt lực, phải cho về. Trang Công hỏi: - Tại sao ông biết trƣớc đƣợc vậy? Nhan Hạp đáp: - Là vì thần thấy ngựa đã đuối sức rồi mà còn thúc chúng nữa. 12 Ngƣời thợ mộc tên là Thuỳ 987 [25] dùng tay mà tiện đồ vật khéo hơn là dùng cái qui, cái củ. Ngón tay hoà hợp với món đồ mà không phải dụng tâm. Đƣợc vậy là nhờ tập trung tinh thần mà tâm trí không bị câu thúc.

300 Giày mà thật thích hợp thì làm cho ta quên chân mình đi, dây lƣng mà thật thích hợp thì làm cho ta quên ngang lƣng mình đi, tâm tình thật thích hợp thì ta quên cái phải cái trái đi [không phân biệt phải trái nữa]. Không thay đổi trong lòng, không theo ngoại vật, luôn luôn thích hợp với việc. Có khả năng thích hợp thì không gì không thích hợp đƣợc mà không hay rằng mình đã thích hợp với vật. 13 Có một ngƣời tên là Tôn Hƣu đích thân lại Biển Khánh Tử 988 [26] phàn nàn rằng: - Trong làng tôi không ai bảo rằng tôi không sửa mình; gặp cảnh hoạn nạn không ai bảo rằng tôi không can đảm, vậy mà tôi làm ruộng thì không trúng mùa, thờ vua thì không gặp thời vận, lại bị làng mạc bài xích, châu quận đuổi bỏ. Tôi có tội gì mà gặp nhiều xui xẻo nhƣ vậy hởi trời? Biển Tử bảo: - Chú có biết hành vi sửa mình của bậc chí nhân không? Bậc chí nhân quên mình có gan, có mật, không để ý tới tai và mắt, vƣợt ra ngoài cỏi trần tục, không biết gì cả, tiêu dao ở cảnh giới vô vi. Nhƣ vậy là hành động mà không trông ở kết quả, cải hoá vạn vật mà không bó buộc chúng. Nay chú khoe tri thức của chú để loè kẻ ngu, sửa mình để làm nổi bậc những lỗi của ngƣời khác, ra vẻ rực rỡ nhƣ ngƣời cầm mặt trời mặt trăng mà dạo ngoài đƣờng. Thân thể chú còn toàn vẹn, chú còn đủ chín lỗ 989 [27], vào tuổi trung niên mà không điếc, đui, thọt, so với nhiều ngƣời, chú nhƣ vậy là có phƣớc đấy, sao còn oán trời? Thôi, chú đi đi. Tôn Hƣu về rồi, Biển Tử trở vô, ngồi một lát, ngƣớc lên nhìn trời, thở dài. Đệ tử hỏi: - Sao thầy thở dài vậy? Biển Tử đáp: - Lúc nãy Tôn Hƣu tới, thầy đem đức hạnh của bậc chí nhân ra giảng cho hắn nghe. Thầy sợ hắn sẽ kinh hoảng mà đâm ra mê hoặc mất.

301 Đệ tử thƣa: - Chúng con không nghĩ vậy. Nếu lời của Tôn Hƣu đúng, lời của thầy sai thì lời sai làm sao mê hoặc đƣợc lời đúng. Nếu lời của Tôn Hƣu sai, lời của thầy đúng thì ông ta tới, ông ta đã mê hoặc rồi, có gì đâu mà thầy phải tự trách mình. - Không phải vậy. Trƣớc kia có một con chim đáp xuống ngoài thành nƣớc Lỗ. Vua Lỗ mừng lắm, làm lễ thái lao, đặc tiệc khoảng đãi nó, bảo tấu nhạc Cửu Thiều để cho nó vui. Nhƣng con chim dớn dát, âu sầu, không dám ăn, không dám uống. Đó là dùng cách phụng dƣỡng mình mà nuôi chim. Muốn lấy cách nuôi chim mà nuôi chim thì phải cho nó ở trong rừng sâu trôi nổi trên sông hồ, tự nó lựa thức ăn, rồi bay lƣợn trong đồng. 990 [28] Tôn Hƣu là kẻ kiến thức hẹp hòi, mà thầy đem đức hạnh của bậc chí nhân giảng cho hắn thì không khác gì dùng xe ngựa để chở một con chuột nhỏ, hoặc nổi chuông trống mà tấu nhạc cho chim án 991 [29] nghe. Làm sao những con vật đó không hoảng sợ cho đƣợc? * (Chương này và chương sau có nhiều điểm giống nhau nên sẽ có nhận định chung ở cuối chương sau) Chú thích: 992[1] Nguyên văn: là chữ sinh (sống), có tác giả bảo phải đọc là tính. [Sinh: 生, Tính: 性 - Goldfish] 993[2] Đại ý bài này này là: Ai hiểu đƣợc sự sống thì đừng quan tâm tới sức khoẻ, tuổi thọ, tức những cái không luôn luôn tuỳ theo ý muốn của ta. Nhƣ vậy tránh đƣợc lo lắng mà vui sống và sống lâu đƣợc.

302 994[3] Nguyên văn: năng di. H.C.H. dịch là chuyển di đƣợc tạo hoá. 995[4] Nguyên văn: tinh nhi hựu tinh. Chẳng sách nào giảng cho xuôi. 996[5] Họ Doãn, tên Hi, môn đệ của Lão tử, làm quan coi cửa ải Hàm Cốc, nên gọi là Quan (coi cửa ải) Doãn. 997[6] Nguyên văn là bất dâm chi độ. Dâm đây nghĩa là quá mức. 998[7] Quách Tƣợng giảng là biến hoá, mỗi ngày một mới (?). 999[8] Nguyên văn là ngộ, có sách giảng là chống đối. L.K.h. dịch thoát là té xe. Truyện này có chép trong Liệt tử, chƣơng Hoàng Đế bài 4, trong bản của nhà Lá Bối chúng tôi không dịch. 1000[9] Nguyên văn là Mạc, Can, tức hai thanh gƣơm nổi tiếng Mạc Da và Can Tƣơng. 1001[10] Một ngƣời theo đạo Lão. 1002[11] Con vua Hoàn Công nƣớc Chu. 1003[12] Nghĩa là hết sức kính cẩn, thành tâm cầu nguyện. 1004[13] Tác giả muốn nói: không nghĩ tới cái lợi của heo thì mới nuôi cho chúng mập để rồi bắt chúng làm vật hi sinh; nếu nghĩ tới cái lợi của chúng thì cho chúng sống bình thƣờng trong chuồng. Đối với heo thì nhƣ vậy. Mà có ngƣời đối với chính mình lại trái hẳn: không cần hạnh phúc trong đời sống giản dị, bình thƣờng mà lao tâm khổ tứ cầu cảnh phú quí, chết thì ma chay long trọng nhƣ con heo để cúng tế, nhƣ vậy có phải là biết mƣu tính cho con heo mà không biết mƣu tính cho chính mình không? 1005[14] Quản Trọng là tể tƣớng đƣợc Hoàn Công trọng nhƣ cha chú, nên gọi nhƣ vậy. 1006[15] Hoàn tử là họ, Cáo Ngao là tên. 1007[16] Có sách dịch là bếp lò. 1008[17] Tác giả bài này rất sành tâm lí.

303 1009[18] Tôi đoán là Kỉ Sảnh Tử vì trong sách in chữ Sảnh mờ quá. Bản Nguyễn Duy Cần - Phần Hạ (do bạn Fatman1702 cung cấp, không có chữ Hán) ghi là Kỷ Tỉnh tử; các trang tiếng Hán tôi tìm thấy đều chép là 纪渻子, nghĩa là phù hợp với phiên âm của cụ Nguyễn Duy Cần. [Goldfish]. 1010[19] Bài này có trong bộ Liệt tử, tức bài 20 chƣơng Hoàng Đế. Trong bản của nhà Lá Bối, chúng tôi không dịch. Theo Liệt tử thì đây là vua Chu Tuyên vƣơng. 1011[20] Nguyên văn: Bất nhiên, tắc dĩ. L.K.h. dịch là: Không vậy thì công trình của thần sẽ hỏng. 1012[21] Nguyên văn: 神 thần (thánh). [Goldfish]. 1013[22] Tuân tử gọi là Đông Dã Tất. 1014[23] Nguyên văn: Dĩ vi văn phất quá dã. Tƣ Mã Bƣu chú thích nhƣ vậy. Nhƣng có tác giả bảo chữ văn đó chính là chữ phù và nghĩa là: Tháo Phù cũng không hơn. Tháo Phù là một ngƣời đánh xe giỏi thời trƣớc. [Văn: 文 ; Tháo Phù: 造父 - Goldfish]. 1015[24] Có sách chép là Nhan Uyên, hay Nhan Hồi. Nhan Hạp là thái phó của Vệ Linh Công. 1016[25] Tức Công Thuỳ, coi chú thích bài 5 chƣơng Khƣ Khiếp. 1017[26] Một ngƣời hiền nƣớc Lỗ. 1018[27] Tức lỗ tai, lỗ mũi, mắt, miệng. 1019[28] Đoạn nuôi chim này gần giống hệt một đoạn trong bài 5 chƣơng Chí lạc. 1020[29] L.K.h. dịch là chim cút. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XX

304 CÂY TRONG NÚI (Sơn mộc) 1 Trang tử đi trong núi, thấy một cây lớn, cành lá sum suê, mà nột ngƣời đƣơng tìm cây để đốn, đứng ngay bên cạnh lại không đụng tới. Trang tử hỏi tại sao. Ngƣời đó đáp: Tại gỗ nó không dùng đƣợc vào việc gì. Trang tử bảo: Cây đó nhờ vô dụng mà hƣởng hết tuổi thọ của trời. Ra khỏi núi, thầy ghé nhà một ngƣời bạn cũ. Ông bạn mừng rỡ, sai một đứa ở giết ngỗng đãi khách. Đứa ở hỏi: - Giết con nào, con biết kêu hay con không biết kêu? - Giết con không biết kêu. Sáng hôm sau, môn đệ Trang tử hỏi thầy: - Hôm qua, cây trong núi vì vô dụng mà đƣợc hƣởng hết tuổi trời mà bây giờ con ngỗng của chủ nhà vì vô dụng mà bị giết. Thầy muốn ở cảnh nào? Trang tử cƣời đáp: - Thầy muốn ở giữa hữu dụng và vô dụng; nhƣng ở giữa trung gian nhƣ vậy, chỉ mới gần Đạo thôi chứ chƣa phải là Đạo, cho nên chƣa tránh khỏi luỵ. Ai mà hoá hợp với Đạo Đức, mà tiêu dao thì không vậy [không nghĩ tới hữu dụng hay vô dụng]. Vƣợt ra ngoài sự khen chê, hoặc xuất hiện nhƣ con rồng, hoặc ẩn nấp nhƣ con rắn, cùng biến hoá với thời, không cố chấp chuyên theo một thái độ nào, lúc lên lúc xuống mà hoà đồng với vũ trụ, trở về cái thời chƣa sinh ra vạn vật, sai khiến vạn vật mà không bị vạn vật sai khiến, nhƣ vậy thì có cái gì làm luỵ mình đƣợc nữa? Đó là phép tắc của Hoàng Đế, Thần Nông. Còn ngƣời nào theo cái tình lí của vạn vật, cái truyền thống của nhân luân thì không nhƣ vậy. Có hợp thì có tan, có thành thì có bại, tôn quí thì bị công kích, hành động thì bị chê, hiền năng thì bị mƣu hại, bất tài thì bị khinh bỉ. Ôi! Nhƣ vậy thì biết riêng theo cách nào? Các con nhớ lấy: [Xử thế muốn

305 khỏi bị luỵ thì] chỉ nên tiêu dao ở cảnh giới Đạo Đức thôi! 2 Một ngƣời tên là Nghi Liêu (ở phía nam chợ nên gọi là Thị Nam tử), lại yết kiến vua Lỗ, thấy nhà vua có vẻ ƣu sầu, hỏi tại sao. Vua Lỗ đáp: - Quả nhân học đạo của tiên vƣơng, sửa công nghiệp của tiên quân 1021 [1], kính thờ quỉ thần, tôn sùng hiền sĩ, tự theo đạo đó, không dám rời một lúc, vậy mà vẫn gặp tai hoạ, cho nên quả nhân ƣu sầu. Thị Nam tử bảo: - Cách trừ tai hoạ của nhà vua nông cạn lắm! Kìa nhƣ con chồn có lớp da lông dầy, con báo có những vằn đẹp, chúng ở trong rừng núi, nấp trong hang, nhƣ vậy là yên ổn chứ; ngày chúng trốn, đêm mới ra, nhƣ vậy là thận trọng chứ. Khi nào đói khát quá, chúng đợi lúc sáng sớm mới ra bờ suối, bờ hồ kiếm ăn, còn gì đáng lo nữa [vì lúc đó không gặp ngƣời], vậy mà tránh không khỏi cái hoạ mắc bẫy, mắc lƣới. Lỗi của chúng ở đâu? Chỉ tại cái da của chúng. Nay nƣớc Lỗ chẳng là cái da của nhà vua sao? Tôi mong nhà vua quên hình hài, bỏ lớp da đi, rửa lòng, diệt dục mà tiêu dao ở cõi tịch mịch không ngƣời. Miền Nam Việt 1022 [2] có một thành ấp gọi là nƣớc Kiến Đức, dân ngu muội mà thuần phác, ít tƣ tâm, ít vật dục, sản xuất mà không biết trữ của, cho mà không cầu ngƣời ta đáp lại, không biết những bó buộc của lễ nghĩa, cứ vô tâm hành động mà lại hợp với đại Đạo [thuận với tự nhiên], sinh đẻ thì mừng, chết thì chôn. Tôi mong nhà vua rời nƣớc này đi, bỏ thế tục mà sống theo Đạo. Vua Lỗ bảo: - Đƣờng đi tới đó xa mà hiễm trở, lại có núi sông ngăn cách, mà quả nhân không có thuyền có xe thì làm sao?

306 - Nhà vua đừng tự cho mình là tôn quí, đừng khó tính thì không phải dùng đến xe, thuyền. - Nhƣng đƣờng đi hẻo lánh, dài mà vắng vẻ. Ai cùng đi với quả nhân? Quả nhân không có lƣơng thực. Làm sao mà tới nơi đƣợc? - Nhà vua bớt tiêu pha đi, giảm dục vọng đi thì không có lƣơng thực cũng tự túc đƣợc. Nhà vua qua sông, lênh đên trên biển, nhìn lại không thấy đâu là bờ; càng ra xa càng không biết tới đâu là cùng. Những ngƣời đi tiễn nhà vua, tới bờ biển rồi trở về. Lúc đó nhà vua mới vƣợt thế tục thật xa. Hễ có dân thì có luỵ, mà bị dân chi phối thì phải ƣu sầu. Cho nên vua Nghiêu không có dân [không chi phối dân] mà cũng không bị dân chi phối. Nhà vua nên bỏ cái luỵ, trừ nỗi ƣu sầu của mình đi, mà một mình với Đạo tiêu dao ở khoảng mênh mông vô cùng. Nhƣ một chiếc đò đƣơng qua sông, bị một chiếc thuyền đụng phải, ngƣời chủ đò dù bụng dạ có hẹp hòi cũng không giận. Nếu trên thuyền có ngƣời thì tất ngƣời chủ đò đã la lớn: Tránh ra! La một lần không nghe thì la lần thứ nhì, vẫn không nghe thì la tới lần thứ ba tất chửi rủa. Trƣớc kia không giận mà sao bây giờ giận là tại sao? Là vì trƣớc thuyền không có ngƣời, bây giờ thuyền có ngƣời. Biết hƣ tâm xử thế thì ai hại mình đƣợc? 3 Bắc Cung Xa đƣợc Vệ Ling Công giao cho việc thu thuế để đúc chuông,bèn sai dựng một đàn tế ở ngoài cửa thành. Ba tháng sau trên đàn đã thấy treo cả chuông trên chuông dƣới. Thấy vậy, Khánh Kị, một ngƣời con vua Chu, hỏi Xa dùng thuật nào [mà đƣợc mau nhƣ vậy]. Xa Đáp: - Tôi chỉ chuyên nhất tâm trí mà thôi, không dám dùng thuật nào cả. Tôi nghe nói: Sau khi chạm trổ rồi thì nên trở về thuần phác. Tôi chỉ đứng đó, nhƣng không biết gì, không suy nghĩ, nghi ngờ gì. Dân tụ họp lại rất đông, ngƣời ta tới tôi không cấm, ngƣời ta đi tôi không cản, ai ƣơng ngạnh không đóng thuế cũng đƣợc, ai mềm mỏng đóng thuế cũng đƣợc, tuỳ theo sức mỗi ngƣời. Nhờ vậy, tôi thu thuế từ sáng đến chiều, mà dân chúng không thấy khó chịu chút nào. Ai dùng đại Đạo mà cảm hoá

307 nhân dân còn thành công hơn nữa. 4 Khổng Tử bị vây ở khoảng giữa hai nƣớc Trần và Thái, bảy ngày không ăn đồ chín. Thái Công 1023 [3] Nhiệm lại an ủi, hỏi: - Thầy sắp chết chăng? Khổng Tử đáp: - Phải - Thầy sợ chết không? - Sợ. - Tôi để kể cách của tôi để không chết. Biển đông có một con chim tên là ý đãi, bay chậm mà thấp, cơ hồ nhƣ bay dỡ. Khi bay thì nhập đàn với con khác, khi đậu thì sát cánh với con bên. Khi tiến, nó không dám xông lên trƣớc, khi lùi không dám ở lại sau. Lúc ăn, không dám ăn trƣớc mà chỉ ăn đồ thừa của con khác. Nhờ vậy mà trong đoàn không bị chim khác bài xích, mà ngƣời cũng không làm hại gì nó, nó tránh đƣợc mọi tai hoạ. Cây mà thẳng thì bị đốn đầu tiên, giếng mà ngọt thì bị cạn trƣớc hết. Thầy có ý trang sức kiến thức để loè kẻ ngu, sửa mình để làm nổi bật cái xấu của ngƣời, rực rỡ nhƣ ngƣời cầm mặt trời mặt trăng mà đi ngoài đƣờng, nhƣ vậy mà không thoát chết đƣợc. Tôi nghe bậc đại đức bảo: Ngƣời tự khoe thì không thành công 1024 [4], công thành [mà không thoái] thì thất bại, danh thành rồi thì bị mờ [bị chê bai]. Ai là ngƣời bỏ công và danh đi mà trở về với đám ngƣời thông thƣờng đây? Đạo đức lƣu hành thiên hạ rồi mà vẫn ẩn danh, thuần phác, giản dị bình thƣờng, tựa nhƣ ngƣời cuồng. Xoá hình tích của mình đi, từ bỏ quyền thế; không cầu công danh nên không trách ngƣời, cũng không bị ngƣời trách. Bậc chí nhân thì không ai biết cả. Tại sao thầy lại

308 thích đƣợc ngƣời ta biết? Khổng Tử đáp: - Lời đó hay. Rồi ông không giao du nữa, từ biệt đệt tử, trốn vào một cái chằm lớn, bận áo cầu thô, ăn trái trữ, trái lật, nhập đoàn với bầy thú, bầy thú không kinh loạn, nhập đoàn với bầy chim, bầy chim cũng thản nhiên. Cầm thú còn không ghét ông, huống hồ là ngƣời. 5 Khổng Tử hỏi thầy Tang Hô 1025 [5] : - Tôi hai lần bị đuổi ra khỏi nƣớc Lỗ, ở nƣớc Tống ngƣời ta đốn cây dƣới đó tôi đã ngồi, tôi bị cấm đặt chân vào nƣớc Vệ, bị khốn cùng ở nƣớc Thƣơng và nƣớc Chu, bây vây ở giữa hai nƣớc Trần và Thái. Vì gặp những tai hoạ đó mà thân thích càng ngày càng xa tôi, học trò và bạn bè ngày càng li tán. Nguyên do tại đâu? Thầy Tang Hô đáp: - Ông có nghe thời nƣớc Cá suy vong không? Khi trốn đi, Lâm Hồi liệng một ngọc bích đáng giá ngàn vàng, cõng đứa con nhỏ mà chạy. Có ngƣời bảo Lâm Hồi: Xét về giá trị tiền bạc thì đứa bé đó không bằng ngọc bích; xét về sự cồng kềnh thì nó cồng kềnh hơn ngọc bích nhiều. Vậy tại sao lại liệng ngọc bích mà cõng đứa con chạy. Lâm Hồi đáp: Ngƣời ta quí ngọc là vì lợi, mà yêu con là do tính trời. Vì lợi mà kết hợp với nhau thì khi gặp khốn cùng hoạn nạn sẽ bỏ nhau, còn kết hợp với nhau vì tính trời thì khi gặp khốn cùng hoạn nạn sẽ nâng đỡ nhau. Nâng đỡ nhau và bỏ nhau, hai cái đó khác nhau rất xa. Ngƣời quân tử giao du với nhau, tình nhƣ nƣớc lã; kẻ tiểu nhân giao du với nhau nồng nhƣ rƣợu. Tình ngƣời quân tử nhạt mà càng thân, tình kẻ tiểu nhân nồng mà sẽ tới sự tuyệt giao. Không vì lợi mà hợp nhau thì cũng không vì lợi mà chia rẽ nhau. Khổng Tử bảo:

309 - Tôi xin kính cẩn nghe lời Thầy. Rồi ông vui vẻ đi chầm chậm về nhà, thôi không dạy học, đọc sách nữa. Môn đệ không xa ông nữa nhƣng yêu ông hơn trƣớc nhiều. Hôm khác Tang Hô lại bảo Khổng Tử: - Vua Thuấn lúc lâm chung khuyên ông Vũ: Phải cẩn thận đấy. Dáng điệu động tác phải tự nhiên mà tình cảm phải thành thực. Dáng điệu tự nhiên thì không rời bản tính của mình 1026 [6], tình cảm thành thực thì không lao tâm. Không rời bản tính, không lao tâm thì không phải dùng lễ văn để trau chuốt bề ngoài mà không phải tuỳ thuộc ngoại vật. 6 Bận áo vải thô mà vá, đi giày thủng cột lại bằng dây gai, Trang tử lại yết kiến vua nƣớc Nguỵ. Vua Nguỵ bảo: - Sao tiên sinh khốn khổ nhƣ vậy? - Trang tử đáp: - Nghèo chứ không khốn khổ. Kẻ sĩ không thi hành đạo đức thì mới khốn khổ. Áo vá, giày thủng thì là nghèo chứ không phải khốn khổ. Nhƣ vậy là vì không gặp thời. Nhà vua có thấy con vƣợn nó leo nhảy không? Khi nó lên tới ngọn cây nam, cây tử, cây dự, cây chƣơng 1027 [7], nắm chắt cành cây, tự đắc một cõi, dù Nghệ hay Bồng Mông 1028 [8] cũng không làm gì nó đƣợc. Nhƣng khi nó đi trong đám những cây chá, cây có gai, cây bƣởi đắng, cây cẩu kỉ 1029 [9] thì nó lo sợ, không dám ngó thẳng, trong lòng chấn động, run sợ, không phải vì gân cốt nó co lại, không mềm mại nữa mà vì hoàn cảnh bất tiện nên không thi thố đƣợc khả năng. Ngày nay kẻ sĩ ở vào cái thời hôn

310 quân loạn thần thì làm sao mà khỏi khốn khổ cho đƣợc. Chứng cớ là Tỉ Can bị moi tim đấy. 7 Khổng tử bị vây ở khoảng giữa hai nƣớc Trần và Thái, bảy ngày không ăn đồ chín, tay phải cầm một cành khô gõ vào một khúc cây khô trong tay trái mà hát một khúc ca dao của Tiêu Thị1030[10]. Có nhạc cụ mà không có tiết tấu, có âm thanh mà không có âm luật. Vậy mà tiếng gỗ với tiếng ngƣời cũng làm cho những ngƣời chung quanh vui thích. Nhan Hồi đứng ngay ngắn, chắp tay, liếc mắt nhìn thầy. Khổng tử sợ Nhan Hồi 1031 [11] tự mãn mà tới nỗi tự đại, tự ái mà tới nỗi buồn cho mình 1032 [12] nên bảo: - Anh Hồi này, an phận nhận tai hoạ của trời [không để cho nó làm thƣơng tổn tới mình] là điều dễ, không nhận lợi lộc của ngƣời mới khó. Không có bƣớc đầu nào mà không phải là chung cục 1033 [13]. Việc ngƣời là việc trời đều nhƣ vậy. Ngƣời đƣơng ca hát đây là ai vậy? - Con xin thầy giảng cho tại sao lại dễ an phận nhận tai hoạ của trời. Khổng Tử đáp: - Nhƣ đói khát, nóng lạnh, cùng khốn, đều thuộc vào sự vận hành của trời đất, phát hiện ra ở vạn vật, ta chỉ nên thuận ứng những biến hoá tự nhiên là đƣợc. Bề tôi không dám trái lệnh vua, huống hồ là chúng ta lại dám trái lệnh của trời sao? - Còn nhƣ không nhận lợi lộc của ngƣời mới khó, là nghĩa làm sao? - Một ngƣời mới đƣợc bổ dụng, tới đâu cũng đƣợc tiếp đón, tƣớc lộc tới hoài, những cái đó đều là ngoại vật, không phải tự ngƣời đó có. Nhờ vận mạng ngẫu nhiên mà đƣợc vậy. Nhƣng quân tử thì không ăn cƣớp, hiền nhân thì không ăn trộm, thế thì sao lại nhận tƣớc lộc ở ngoài tới [vốn không

311 phải của ta] đó? Ngƣời ta nói ý nhi 1034 [14] là loài chim khôn nhất. Chỗ nào nguy hiểm nhất không nên đâu nó không nhìn tới, dù có đánh rớt ở đó một vật gì, nó cũng bỏ mà bay đi. Nó sợ ngƣời nhƣ vậy, mà lại ở chung với ngƣời, coi nhà cửa với ngƣời là xã tắc của nó 1035 [15]. Nhan Hồi lại hỏi: - Thế nào là không có bƣớc đầu nào mà không phải là chung cục? Khổng Tử đáp: - Vạn vật đều biến hoá, nhƣng không biết cái gì làm chủ tế những diễn biến đó. Làm sao biết đƣợc đâu là kết thúc, đâu là khởi thuỷ? [Nhƣ vậy tức là có bƣớc đầu thì có chung cục]. Chỉ thuận theo tự nhiên mà đợi thôi. - Thế nào là việc ngƣời và việc trời đều nhƣ nhau? - Việc ngƣời do trời an bài cho nên bảo là tự nhiên, mà việc trời là tự nhiên rồi. Không thể cải tiến đƣợc tự nhiên, vì cái tính của ngƣờibị hạn chế nhƣ vậy. Cho nên thánh nhânsuốt đời thuận ứng với tự nhiên rồi yên ổn chết. 8 Một hôm Trang Chu dạo chơi trong vƣờn ở Điêu Lăng, thấy một con chim khách kì lạ ở phƣơng Nam bay lại, cánh rộng bảy thƣớc, mắt tròn một tấc, bay sát trán Trang Chu rồi đậu ở một cây giẻ. Trang Chu tự hỏi: Loài chim nào đây? Cánh lớn nhƣ vậy mà không bay đi chỗ khác, mắt lớn nhƣ vậy mà không thấy gì cả. Ông bèn vén áo tiến nhanh lại, giƣơng cung nhắm thì thấy một con ve đƣơng hƣởng bóng mát mà quên thân nó đi [không để ý chung quanh] và một con bọ ngựa núp sau một cái lá, rình bắt con ve mà quên chính thân nó đi; còn con chim khách kì dị kia thì muốn thừa cơ vồ mồi, tham lợi mà quên tính mạng. Trang tử kinh hoảng, bảo: Ôi! Vật vẫn làm hại lẫn nhau, mƣu hại vật khác mà khiến vật khác nữa

312 lại mƣu hại chính mình 1036 [16]. Rồi ông liệng cây cung, trở về nhà, ngƣời coi vƣờn [tƣởng ông là kẻ trộm] đuổi theo mắng ông. Về nhà, Trang tử ba ngày không vui 1037 [17]. Một môn đệ tên là Lận Thƣ lấy làm lạ hỏi: - Sao mấy ngày rồi thầy không đƣợc vui? Trang tử đáp: - Ta giữ cái hình hài của ta mà quên cái chân thân, nhìn dòng nƣớc đục mà quên cái vực trong. Vả lại ta nghe thầy ta dạy rằng: vô miền nào thì theo tục lệ miền đó. Khi dạo chơi ở Điêu Lăng, ta quên mất thân ta, cũng nhƣ con chim khách kì dị kia bay sát trán ta để lại cây giẻ mà quên mất thân nó. Ngƣời giữ vƣờn tƣởng ta ăn trôm giẻ. Vì vậy mà ta không vui. 9 Truyện ngƣời đàn bà đẹp bị ghét mà ngƣời đàn bà xấu đƣợc quí, Dƣơng tử khuyên môn đệ: làm điều tốt đừng nên khoe khoang, tôi đã đã dịch trong Liệt tử (II.16), trang 257. NHẬN ĐỊNH VỀ HAI CHƢƠNG ĐẠT SINH, SƠN MỘC Hai chương này đều phụ diễn một số tư tưởng của Trang tử và có thể coi tác giả thuộc môn phái Trang. Chương Đạt sinh diễn thêm những ý trong Dưỡng sinh chủ và Đại tôn sư.

313 Theo Trang tử, thuật dưỡng sinh là thuận theo tự nhiên, cứ vô tâm mà thích ứng với mọi việc, mọi hoàn cảnh, mọi biến đổi, không dụng trí, không dụng tâm. Chúng ta gặp lại những ý đó trong: - bài 1: Người nào thực hiểu được sự sống thì không quan tâm đến những cái mà sự sống của mình không làm gì được; người nào thực hiểu được vận mạng thì không quan tâm đến những cái mà trí tuệ mình không hiểu được. - bài 2: Không nên dùng trí tuệ mà truy cầu tự nhiên, cứ thuận bản tính mà ứng hợp với tự nhiên. - bài 12: Không thay đổi trong lòng, không theo ngoại vật, luôn luôn thích ứng với việc. Người thợ mộc khéo thì ngón tay hoà hợp với món đồ mà không phải dụng tâm; người khéo dưỡng sinh cũng vậy, khéo hoà hợp với tự nhiên mà không phải dụng tâm. Không dụng trí, không dụng tâm là coi thường ngoại vật, quên ngoại vật đi vì hễ còn chú ý tới ngoại vật, tâm sẽ còn mê loạn (bài 4) Mức cao hơn nữa là quên mình đi, như người thợ mộc tên Khánh, sau khi trai giới bảy ngày, quên rằng mình có hình thể, tay chân (bài 10). Khi quên được mình có gan, có mật, không để ý đến tai mắt, vượt ra ngoài cõi trần tục, không biết gì cả, tiêu dao ở cảnh giới vô vi (bài 13) thì thành bậc chí nhân, lặn dưới nước mà không ngạt, đi trong lửa mà không bỏng, bay bổng lên trên vạn vật mà không run sợ. Trong Đại Tôn sư (bài 7), chúng ta đã gặp hai tiếng toạ vong : ngồi mà quên hết thảy, tức cởi bỏ thân thể, trừ tuyệt sự thông minh, rời hình thể, bỏ trí tuệ, hợp nhất với Đại Đạo, và tám chữ vong kì can đảm, di kì nhỉ mục 1038 [18] trong bài 13 chương Đạt sinh là chữ của Trang tử trong bài 4 chương Đại tôn sư. Nhưng trong Đại Tôn sư 1, Trang chỉ bảo: Bậc chân nhân thời cổ lên cao không run sợ, vô nước không ướt, vô lửa không bỏng, chứ không giảng tại sao. Trong Đạt sinh 2, tác giả giảng là nhờ bảo toàn được thiên tính, tinh thần không suy tổn, ngoại vật không làm sao xâm nhập mà làm hại được rồi lại kể trường hợp người say rượu té xe mà không chết để chứng minh.

314 Vậy tác giả chương này dùng một số chữ của Trang, diễn ý của Trang mà giảng cho rõ thêm, tất phải thuộc môn phái của Trang. Ngoài ra chương Đạt sinh còn chỉ cho ta vài cách luyện tập hoặc giữ mình để dưỡng sinh, như: - phải tiết độ trong việc ăn uống, chăn gối, giữ mực mực trung (bài 5). - đừng ham phú quí, danh lợi mà làm vật hi sinh (bài 6). - dừng lo sợ mà sinh bệnh (bài 7). - luyện cái khí để khỏi xúc động vì ngoại vật (bài 8) - đừng làm quá sức (bài 11). Tuy không sâu sắc gì, nhưng những lời khuyên đó đều thực tế mà được diễn bằng thể ngụ ngôn, có bài đọc cũng hứng thú. * * * Chương Sơn mộc cũng của phái Trang (bài 1, người viết gọi Trang là phu tử ) nhưng theo tôi, không phải của một mà của nhiều người viết, vì trong ba bài về Khổng Tử, khi thì khen Khổng Tử là đạt nhân (bài 7: Khổng Tử bị vây ở giữa hai nước Trần và Thái mà vẫn vui), khi là chê là tầm thường (bài 5: Khổng Tử than thân vì gặp nhiều tai hoạ, nhất là bàu 4: Khổng Tử sợ chết khi bị vây ở Trần Thái). Hoàng Cẩm Hoành đoán chắc rằng các tác giả chương này sống trước đời Hán vì bài 1, đoạn ông bạn của Trang tử sai giết ngỗng để đãi khách, cũng chép trong Lã Thị Xuân Thu, thiên Tất kỉ, lời chỉ hơi khác một chút. Về nội dung, những tư tưởng trong Sơn mộc cũng là tư tưởng trong Nhân gian thế. Nhân gian thế bảo cây nào vô dụng thì được thọ (bài 4), hữu dụng thì bị hoạ (bài 6, 9). Sơn mộc 1 cũng bảo cây thân thẳng thì bị đốn đầu tiên; giếng mà ngọt thì bị cạn trước hết (bài 4); con chồn vì có lớp da lông

315 dày, con báo vì có những vằn đẹp nên bị cái hoạ mắc bẫy, mắc lưới (bài 2). Nhưng tác giả Sơn mộc còn tiến thêm một bước, bảo hữu dụng (có tài) thì gặp hoạ đã đành rồi, mà vô dụng cũng gặp hoạ như con ngỗng không biết kêu tring bài 1. Chỉ có hạng người biết cùng biến hoá với thời, không cố chấp theo một thái độ nào, lúc lên lúc xuống mà hoà đồng với vũ trụ thì mới khỏi bị hoạ (bài 1). Bài đó hay, có thể nói là phát huy được tư tưởng của Trang. Luận về phương pháp xử thế, Nhân gian thế đưa ra tiêu chuẩn hư và thuận : hư tức là hư tâm (bài 1), thuận tức là thuận theo thiên tính của mỗi người (bài 3). Trong chương Sơn mộc này, tác giả lấy chiếc thuyền không có người (hư thuyền) làm tỉ dụ để giải nghĩa hư tâm, tức vô tâm (bài 2); còn thuận thì được diễn trong bài 3: cứ để cho dân chúng tự ý góp sức, không ép buộc, và bài 7: ta chỉ nên thuận ứng những biến hoá tự nhiên là được. Hư kỉ và thuận nhân đó là phép xử thế của Trang, nhưng thuận nhân mà vẫn giữ được bản tính của mình chứ không để cho sự vật sai khiến, trái lại thuận theo bản tính của vật chính là để sai khiến vật. Vật vật nhi bất vật ư vật (bài 1) đó là một đặc sắc của học thuyết Trang tử. Ngoài ra chương Sơn mộc còn khuyên ta đừng nghĩ tới danh (bài 4), lợi (bài 5), đừng theo đuổi ngoại vật (bài 8) và đừng khoe khoang (bài 9). Chú thích: 1039[1] Tiên vƣơng ở đây trỏ Vƣơng Quí và Văn Vƣơng đời Chu, còn tiên quân trỏ Chu công và Bá Cầm nƣớc Lỗ. 1040[2] Tức Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay.

316 1041[3] Có sách nói Thái Công là tên họ, có sách lại bảo thái công là tiếng để gọi một vị đại phu, hoặc một ông già. 1042[4] Nguyên văn: vô công. L.K.h. dịch là: thì làm mất công của mình. 1043[5] Tử Tang Hô, một ẩn sĩ, họ Tang, tên Hô. Chữ tử đứng trƣớc là để tỏ ý trọng nhƣ thầy. 1044[6] Nguyên văn: duyên tắc bất li. H.C.H. dịch là dáng điệu tự nhiên, thì hợp với ngoại vật. 1045[7] Những loại cây cao. 1046[8] Hai ngƣời bắn rất giỏi: Nghệ là thầy của Bồng Mông. 1047[9] Những loại cây có gai. 1048[10] Tức Thần Nông. 1049[11]L.K.h. dịch là: Khổng Tử sợ Nhan Hồi hiểu lầm là ông tự mãn. 1050[12] Tự đại và buồn cho mình là hai thái độ không nên có khi gặp hoạn nạn. 1051[13] Bây giờ là bƣớc đầu của cái sau thì lúc này là chung cục của cái trƣớc. 1052[14] Một loại chim én. 1053[15] H.C.H. giảng nhƣ vậy: Tƣớc lộc là ngoại vật, không nên lấy mà có lúc phải lấy để giúp xã tắc, cũng nhƣ con ý nhi sợ ngƣời mà vẫn ở chung với ngƣời đƣợc. Nhƣ vậy mới là khôn. Từ đấy đến cuối bài, ý hơi tối, mỗi sách giảng mỗi khác, tôi châm chƣớc H.C.H. mà dịch. 1054[16] Nguyên văn: vật cố tương luỵ, nhị loại tương triệu dã. H.C.H. dịch là: loài vật đều nghĩ đến cái lợi trƣớc mắt mà quên cái hại sau lƣng, hai cái đó (lợi và hại) chỉ là tƣơng đối. 1055[17] Có sách chép là tam nguyệt bất đình và dịch là ba tháng không ra tới sân. Các bản tôi có đều dịch ba ngày không vui, cho rằng chính ra là tam nhật bất sinh. [Các bản trên mạng mà tôi tìm thấy, đều chép: tam nhật bất đình 三日不庭. Goldfish]

317 1056[18] Tức 忘其肝胆, 遗其耳目 : quên mình có gan, có mật, không để ý tới tai và mắt. [Goldfish] Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XXI ĐIỀN TỬ PHƢƠNG (Điền Tử Phƣơng) 1 Điền Tử Phƣơng khi hầu chuyện Nguỵ Văn Hầu thƣờng khen Khê Công 1057 [1]. Văn Hầu hỏi: - Khê Công có phải là sƣ phụ của thầy không? Tử Phƣơng đáp: - Không. Ông ấy là ngƣời đồng hƣơng của thần, vì thấy ông nghị luận hợp đạo lí, nên thần xƣng tán. - Vậy thầy không học ai cả sao? - Có chứ. - Ai vậy? - Đông Quách Thuận Tử [2] - Sao không nghe thầy xƣng tán ông ấy?

318 - Sƣ phụ thần là một bực thuần chạn, diện mạo nhƣ ngƣời thƣờng mà lòng thì hợp với trời 1059 [3], thuận với mọi ngƣời mà vẫn giữ đƣợc thiên chân [bản tính], thanh khiết mà bao dung mọi ngƣời, thấy ngƣời nào có lỗi thì [không trách], chỉ sử lại thái độ, dong mạo của chính mình để ngƣời đó thấy mà tự nhiên giác ngộ, bỏ ý xấu đi. Thần đâu có xứng đáng để xƣng tán một bậc nhƣ vậy. Tử Phƣơng ra rồi, Văn Hầu ngây ngƣời ra, suốt ngày không nói, sau cùng gọi quan hầu cận lại, bảo: - Đức nhƣ vậy thực là cao, thật là bậc quân tử toàn đức. Trƣớc kia ta cho những lời thánh trí, những hành vi nhân nghĩa là cực cao rồi, nay nghe nói về sƣ phụ của Điền Tử Phƣơng, thân thể ta rã rời không muốn cử động nữa, miệng ta nhƣ bị khớp lại, không muốn nói nữa; những điều ta học đƣợc chỉ nhƣ một khối đất 1060 [4]. Nƣớc Nguỵ này đối với ta quả là một cái luỵ. 2 [Ngƣời nƣớc Sở là] Ôn Bá Tuyết Tử trên đƣờng qua nƣớc Tề, ngừng lại ở nƣớc Lỗ. Có ngƣời nƣớc Lỗ xin yết kiến, ông bảo: - Không đƣợc. Ta nghe nói ngƣời quân tử ở Trung Quốc 1061 [5] chỉ hiểi Lễ nghĩa thôi mà không biết gì về lòng ngƣời, cho nên ta không muốn tiếp họ. Tới Lỗ rồi, khi trở về, lại ngừng ở Lỗ, cũng những ngƣời nƣớc Lỗ đó lại xin yết kiến nữa. Ôn Bá Tuyết Tử bảo: - Lần trƣớc đã xin yết kiến, lần này lại xin nữa, chắc họ có điều gì hữu ích muốn nói với ta chăng? Tiếp một ngƣời khách xong rồi, ông trở vô, thở dài. Hôm sau, tiếp một ngƣời khác nữa, trở vô cũng lại thở dài. Ngƣời đầy tớ hỏi: - Lần nào tiếp khách rồi ông cũng thở lài là tại sao?

319 Ôn Bá Tuyết Tử bảo: - Ta đã bảo trƣớc: Ngƣời quân tử ở Trung Quốc chỉ hiểu lễ nghĩa thôi mà không biết gì về lòng ngƣời. Những ông khách đó tiến thoái có qui củ, cử động nhƣ rồng nhƣ hổ 1062 [6], họ can ngăn ta nhƣ con đối với cha, dạy dỗ ta nhƣ cha đối với con, vì vậy mà ta thở dài. Trọng Ni cũng lại thăm Ôn Bá Tuyết Tử mà không nói gì cả. Tử Lộ hỏi: - Từ lâu thầy đã muốn gặp ông Ôn Bá Tuyết Tử mà sao khi gặp mà thầy không nói gì cả? Trọng Ni đáp: - Ngƣời đó, thầy mới nhìn qua đã biết ngay là đạt đạo rồi, bất tất phải dùng lời nói nữa 1063 [7]. 3 Nhan Uyên thƣa với Trọng Ni: - Khi thầy đi một bƣớc, con bƣớc theo, thầy chạy con chạy theo, thầy phi tới con phi theo, nhƣng thầy nhảy vù tới thì con chỉ trố mắt ra ngó, không theo kịp đƣợc thầy. Phu tử hỏi: - Hồi, con muốn nói gì vậy? Nhan Uyên đáp: - Thƣa, thầy đi bƣớc một, tức là lúc thầy nói, con theo đƣợc; thầy chạy, tức lúc thầy biện thuyết, con theo đƣợc; thầy phi tới, tức thầy luận về đạo, con theo đƣợc; còn thầy nhảy vù tới mà con không theo kịp là lúc thầy không nói gì cả mà làm cho ngƣời ta tin, không thân cận với ai mà tính ý san sẻ đƣợc khắp, không có chức vị gì mà mọi ngƣời qui phục, và không ai hiểu tại sao nhƣ vậy.

320 Trọng Ni bảo: - Phải xét lại kĩ điều đó. Bi thảm nhất là tinh thần ta chết, thứ nhì mới tới thể xác chết. Mặt trời mọc ở phƣơng Đông, lặn ở phƣơng Tây. Vạn vật đề theo cái hƣớng đó. Phàm là những động vật có mắt có chân đều hành động theo mặt trời: mặt trời mọc thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ; hễ tạo hoá đi thì vạn vật thuận ứng mà chết, tạo hoá tới thì thuận ứng mà sinh. Chúng ta đã nhận đƣợc hình hài của tạo hoá thì giữ nó tới khi chết, thuận ứng với vạn vật mà vận động cả ngày lẫn đêm, không biết chung cục sẽ ra sao. Tự nhiên ta có đƣợc một hình thể mà không biết trƣớc đƣợc vận mạng sẽ ra sao, cứ mỗi ngày thay đổi với vạn vật. Thầy với con ở cạnh nhau từ trƣớc tới nay, mà con chƣa hiểu đƣợc lẽ đó, chẳng đáng buồn ƣ? Con chỉ thấy những hình tƣợng bề ngoài của thầy, nhƣng khi thấy thì chúng qua rồi, và con không khác gì ngƣời tìm [mua] ngựa khi chợ đã tan và vắng. Con không thấy lại đƣợc thái độ cũ của thầy, thầy cũng không thấy lại đƣợc thái độ cũ của con. Có gì mà buồn? Tuy con quên quá khứ của thầy nhƣng vẫn có cái gì ở ta nó còn lại hoài, không quên đƣợc [8] 4 Khi Khổng Tử lại tham Lão Đam [tức Lão tử] thì Lão Đam mới gội đầu xong, còn đƣơng xoã tóc ra cho khô, mà đứng trơ trơ, không ra một ngƣời sống nữa. Khổng Tử bèn lui ra, đứng đợi. Một lát sau, vô nói với Lão Đam: - Ảo giac chăng hay thực chăng? Lúc nãy thân thể tiên sinh trơ trơ nhƣ cây khô, nhƣ thể tiên sinh rời bỏ ngoại vật, thoát li nhân gian mà một mình một cõi vậy. Lão Đam bảo: - Tôi tiêu dao ở thời vạn vật chƣa sinh. - Nhƣ vậy nghĩa là sao? - Tinh thần tôi bị chặn lại mà không biết đƣợc, miệng tôi mở ra mà không nói đƣợc. Tôi rán giảng cho thầy hiểu. Cái khí cực âm thì lạnh, cái khí cực dƣơng thì nóng. Khi cái lạnh phát ra ở trên trời thì cái nóng phát ra ở dƣới đất, hai cái đó giao hoà với nhau mà sinh ra vạn vật. Nhƣ có cái gì chi phối,

321 nhƣng không thấy hình của nó. Giảm và tăng, đầy và vơi, tối rồi sáng, biến đổi theo ngày và tháng, mỗi ngày một khác, nhƣng không thấy đƣợc tác động của nó. Sự sống có manh nha của nó, sự chết có chỗ về của nó. Sống và chết trƣớc sau tƣơng phản nhau mà vẫn nối tiếp nhau hoài, không biết tới đâu là cùng. Nếu không phải cái đó [tức cái Đạo] thì ai là chủ tể sinh ra vạn vật? Khổng Tử hỏi: - Xin tiên sinh giảng cho tôi biết tiêu dao ở thời vạn vật chƣa sinh thì thấy ra sao? - Thì đạt đƣợc cái cực đẹp, cực vui; ai đạt đƣợc cái cực đẹp, tiêu dao ở cái cực vui, thì là bậc chí nhân [hoàn toàn]. - Có cách nào đạt đƣợc? - Những loài thú ăn cỏ không sợ đổi đồng cỏ, những loài ở dƣới nƣớc cũng không sợ đổi sông hồ; đổi chỗ nhƣ vậy chỉ là biến đổi nhỏ, mà không làm mất cái bất biến. [Hiểu đƣợc lẽ đó thì] mừng giận, vui buồn không xâm nhập lòng ta đƣợc. Vũ trụ là mộ đối với vạn vật. Hoà đồng với cái một đó rồi thì coi chân tay, thân thể 1065 [9] nhƣ bụi rác; sống với chết, khởi thuỷ và chung cục nối tiếp nhau nhƣ ngày với đêm, đâu có thể làm rối loạn lòng mình đƣợc; huống hồ là sự đƣợc mất, hoạ phúc [ở ngoài cái thân của ta], ta đâu còn quan tâm tới nữa. Liệng những cái nô lệ đó đi nhƣ liệng bùn, vì biết thân mình quí hơn những cái đó; quí cái thân mình mà coi thƣờng những cái thay đổi thất thƣờng ấy [tức sự đƣợc và mất, hoạ và phúc]. Vả lại vạn vật biến hoá tới vô cùng thì có cái gì đâu mà khiến cho ta buồn? Chỉ bậc đạt đạo mới hiểu đƣợc lẽ ấy. Khổng Tử hỏi: - Tiên sinh đức ngang với trời đất mà còn dùng những lời cực thâm thuý để tu tâm, bậc quân tử thời xƣa có ai khỏi phải dùng cách đó không? - Không phải. Nƣớc kia vọt ra mà thành giếng 1066 [10], tự nhiên mà vậy. Đức của ngƣời chí nhân cũng thế, không phải tu tâm gì cả, mà vạn vật đều qui phụ, nhƣ trời tự nó cao, đất tự nó dày, mặt trời mặt trăng tự nó sáng, có phải tu gì đâu.

322 Khổng Tử ra về, kể lại cho Nhan Hồi nghe và bảo: - Thầy biết về Đạo cũng nhƣ con ruồi trong vò dấm. Nếu phu tử (tức Lão tử) không mở nắp vò cho thì làm sao thầy biết đƣợc toàn thể vũ trụ vĩ đại. 5 Trang tử lại yết kiến Lỗ Ai Công 1067 [11]. Ai Công bảo: - Nƣớc Lỗ có nhiều nho sĩ, nhƣng ít ai bằng đƣợc tiên sinh. Trang tử bảo: - Nƣớc Lỗ ít nho sĩ. - Khắp nƣớc Lỗ đâu cũng có những ngƣời bận áo nhà nho, sao tiên sinh lại bảo là ít? - Chu [tên Trang tử] tôi nghe nói nhà nho nào đội cái mũ tròn là biết đƣợc thiên thời, đi giày vuông là biết đƣợc địa hình 1068 [12], đeo ngọc bằng chỉ ngũ sắc là biết quyết đoán khi hữu sự. Thực ra ngƣời quân tử có những tài đó không nhất thiết ăn bận nhƣ vậy mà những kẻ ăn bận nhƣ vậy vị tất đã có những tài đó. Nhà vua không tin thì cứ ra lệnh ở trong nƣớc Lỗ: kẻ nào không có đủ tài mà ăn bận nhƣ vậy sẽ bị tử hình. Ai Công làm y lời. Năm ngày sau, nƣớc Lỗ không còn ai dám bận y phục nhà nho nữa. Chỉ có mỗi một ông già dám mặc đồ đó mà đứng trƣớc cửa cung của Ai Công: Ai Công dời vô hỏi việc nƣớc, ngƣời đó thiên biến vạn hoá, ứng đối thao thao bất tuyệt. Trang tử bảo: - Vậy cả nƣớc Lỗ chỉ có một nhà nho, làm sao gọi là nhiều đƣợc?

323 6 Bách Lý Hề 1069 [13] không quan tâm tới tƣớc lộc, nên nuôi bò mà bò mập, nên Tần Mục Công quên địa vị thấp hèn của ông mà giao việc nƣớc cho. Vua Thuấn không quan tâm tới sống chết cho nên làm cảm động đƣợc lòng ngƣời 1070 [14]. 7 Tống Nguyên Quân muốn vẽ một tấm bản đồ, nhiều thợ vẽ tới, rồi nhận lệnh, vái rồi đứng đó, mút ngọn bút và mài mực; họ đông quá, một nửa phải đứng ở ngoài. Một ngƣời thợ vẽ tới sau, ung dung, không hề vội vàng, nhận lệnh, vái rồi, không đứng đó mà về nhà. Tống Nguyên Quân sai ngƣời đi theo coi thì thấy ngƣời đó [về tới nhà] cởi áo ra, ngồi xếp bằng tròn, ở trần. Ông bảo: Đƣợc đấy, ngƣời đó thực là hoạ sĩ. 8 Vua [Chu] Văn vƣơng đi tuần thú đất Tạng [ở gần sông Vị], thấy một ông lão ngồi câu mà cần câu không có lƣỡi câu. Ông lão câu không phải để đƣợc cá, đó là cách câu cao minh nhất 1071 [15]. Vua Văn vƣơng muốn đề cử ông, giao cho ông việc nƣớc, nhƣng sợ các đại thần và hoàng tộc không an tâm. Đã định bỏ ý đó, rồi lại ái náy rằng quốc dân mất sự che chở của trời 1072 [16]. Sáng hôm sau nhà vua vời các đại phu lại bảo: - Đêm qua, quả nhân nằm mộng thấy có một vị có vẻ hiền lƣơng, nƣớc da sậm, có râu quai nón, cƣỡi một con ngựa đốm, chân có một cái móng đỏ. Vị đó ra lệnh cho quả nhân: Giao quyền bính cho ông lão đất Tạng đi thì dân chúng sẽ đƣợc cứu vớt. Các đại phu kính sợ tâu: - Vị đó là tiên quân đấy.

324 - Vậy thì bói bằng mu rùa xem. - Đã là lệnh của tiên quân, đại vƣơng còn phải nghi ngờ gì nữa mà bói? Vua Văn Vƣơng bèn đón ông lão đất Tạng, giao cho quyền bính. Ông lão không thay đổi điển pháp, không ban một lệnh nào riêng. Sau ba năm, nhà vua đi tuần thú trong nƣớc thì các đảng đã giải tán hết 1073 [17], các quan lớn không khoe công mình, các đồ đo lƣờng ở nƣớc ngoài không dám đem dùng trong nƣớc nữa 1074 [18], các chƣ hầu không còn hai lòng nữa. Thế rồi vua Văn Vƣơng phong ông lão làm thái sƣ, quay mặt về phƣơng Bắc 1075 [19] và hỏi: - Chính sách ấy có thể áp dụng cho khắp thiên hạ đƣợc không? Ông lão làm vẻ ngớ ngẩn không đáp, thản nhiên từ chối, rồi đêm đó trốn đi, suốt đời không nghe nói tới ông nữa 1076 [20]. Nhan Uyên hỏi Trọng Ni: - Đức của vua Văn vƣơng chƣa đƣợc hoàn toàn sao? Trọng Ni bảo: - Im, đừng nói nữa. Hành động của Văn vƣơng rất phải rồi, sao còn chê bai? Ông ấy biết tuỳ thời mà thuận nhân tình. 9 Liệt Ngự Khấu (tức Liệt tử) bắn cung cho Bá Hôn Vô Nhân coi, giƣơng hết sức cây cung, mà tay thật cứng, không nhúc nhích, giá có đặt một chén nƣớc đầy lên khuỷ tay trái thì nƣớc cũng không sóng sánh khi phát mũi tên; ông lại bắn mau tới nỗi mũi tên đầu vừa phát thì mũi tên thứ nhì đã đặt vào chỗ, rồi tới mũi tên thứ ba. Lúc đó, ông nhƣ pho tƣợng. Bá Hôn Vô Nhân bảo:

325 - Nhƣ vậy còn là hữu tâm mà bắn, chứ không phải là vô tâm mà bắn. Tôi muốn thử cùng với ông lên núi cao, tới một mỏm đá nguy hiểm ở bờ một vực thẳm một trăm nhẫn (mỗi nhẫn là tám thƣớc), xem ở đó ông còn bắn đƣợc nữa không. Thế rồi Vô Nhân lên núi cao, tới một mỏm đá nguy hiểm ở bờ một vực thẳm trăm nhẫn, quay lƣng lại mà đi lùi, khi hai phần ba bàn chân ở ngoài bờ vực rồi, mới cúi xuống mời Liệt Ngự Khấu lại. Liệt Ngự Khấu sợ quá, nằm rạp xuống đất, mồ hôi chảy xuống tận gót chân. Bá Hôn Vô Nhân bảo: - Bậc chí nhân trên thì đo trời xanh, dƣới thì đạt tới suối vàng, vùng vẫy ở chỗ bát cực (tám góc xa nhất của vũ trụ) mà thần khí bất biến. Mới có vậy mà ông đã run sợ, mờ mắt, không làm chủ cái tâm của ông đƣợc, nguy rồi, làm sao mà bắn đƣợc? 1077 [21] 10 Kiên Ngô hỏi Tôn Thúc Ngao 1078 [22] : - Ông ba lần làm lệnh doãn nƣớc Sở mà không lấy vậy làm vinh, ba lần mất chức đó mà không lo buồn; mới đầu tôi không tin nhƣng bây giờ tôi thấy hơi thở ở mũi ông thật thƣ thái. Ông trị nội tâm cách nào mà đƣợc nhƣ vậy? Tôn Thúc Ngao đáp: - Tôi có gì hơn ngƣời đâu? Chức lệnh doãn tới, tôi không từ chối nó; nó đi, tôi không ngăn cản nó. Tôi cho sự đƣợc hay mất không tuỳ thuộc tôi, cho nên tôi không lo buồn, thế thôi. Tôi có hơn gì ngƣời đâu? Với lại tôi không biết nó là của ngƣời hay của tôi? 1079 [23] Nếu nó là của ngƣời thì không liên quan gì tới tôi; nếu nó là của tôi thì nó không liên quan gì tới ngƣời. Khi còn trù trừ nghi ngờ nhƣ vậy, tôi nhìn khắp chung quanh (để tìm hiểu) thì còn thì giờ đâu mà nghĩ đến vấn đề sang và hèn của ngƣời đời nữa?

326 Trọng Ni nghe đƣợc lời đó, bảo: - Ông ấy là bậc chân nhân thời cổ. Trí tuệ không thuyết phục đƣợc ông ấy, sắc đẹp không dụ dỗ ông ấy đƣợc, đạo tặc không cƣớp của ông ấy đƣợc. Hoàng Đế và Phục Hi có muốn làm bạn với ông ấy cũng không đƣợc. Sống chết là việc lớn mà không làm đổi lòng ông ấy đƣợc, huống hồ tƣớc lộc! Một ngƣời nhƣ vậy, nhờ tinh thần, vƣợt núi Thái Sơn mà không bị trở ngại, xuống vực sâu mà không bị ƣớt, ở địa vị thấp hèn mà không khốn khổ, tinh thần tràn ngập khắp trời đất, càng cho ngƣời thì mình càng có nhiều thêm. 11 Vua Sở ngồi nói chuyện với vua Phàm 1080 [24]. Đƣợc một lát, kẻ tả hữu của vua Sở bảo rằng nƣớc Phàm có ba lần mất (tức mất hẳn rồi). Vua Phàm nói với vua Sở: - Nƣớc Phàm mất, cái đó không ảnh hƣởng gì tới sự tồn tại của tôi. Nếu nƣớc Phàm mất không ảnh hƣởng gì đến sự tồn tại của tôi thì nƣớc Sở còn cũng không đủ để bảo rằng vua Sở còn tồn tại hay không 1081 [25]. Xét nhƣ vậy thì nƣớc Phàm vị tất đã mất mà nƣớc Sở vị tất đã còn. NHẬN ĐỊNH Chương này nội dung phức tạp và do nhiều người viết. So sánh đoạn đầu bài 4, từ: Lão Đam mới gội đầu xong, còn đương xoã tóc cho khô mà đứng trơ trơ, không ra một người sống nữa tới: Lão Đam đáp: Tôi tiêu dao ở thời vạn vật chưa sanh. với đoạn đầu Tề vật luận 1, từ: Nam Quách Tử Kì ngồi tựa bàn con, ngước mắt lên nhìn trời thở dài như người mất hồn tới: Anh Yển, anh hỏi như vậy là phải, thầy đã tự quên thầy. Chúng ta thấy từ ý đến lời đều giống nhau. Rồi đoạn này trong bài 3:

327 Trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây. Phàm là những động vật có mắt có chân đều hành động theo mặt trời: mặt trời mọc thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ; hễ tạo hoá đi thì vạn vật thuận ứng mà chết, tạo hoá tới thì thuận ứng mà sinh. Chúng ta đã nhận được hình hài của tạo hoá thì giữ nó tới khi chết, thuận ứng với vạn vật mà vận động cả ngày lẫn đêm, không biết chung cục sẽ ra sao. Cũng giống với câu: Ngày đêm nối tiếp nhau, ai biết được từ đâu mà có? Hỡi ơi, hỡi ơi; bao giờ chúng ta mới hiểu được lẽ sinh hoá trong vũ trụ?... Khi ta đã nhận được cái hình hài của ta rồi thì ta giữ nó cho tới khi chết. Nó với những vật khác đâm nhau,mài cọ vào nhau, cùng bôn tẩu như những con ngựa, mà không có gì làm cho ngừng được. Buồn thay!. trong bài 2 Tề vật luận. Lại có đoạn giống với Đức sung phù. Như lời Trọng Ni trong bài 10: Sống chết là việc lớn mà không làm đổi lòng ông ấy được, huống hồ tước lộc! Một người như vậy, nhờ tinh thần, vượt núi Thái Sơn mà không bị trở ngại, xuống vực sâu mà không bị ướt. Gần giống hệt lời cũng của Trọng Ni trong bài 1 Đức sung phù: Sống và chết mà ông ấy coi thường, trời đất có sập, ông ấy cũng không bị huỷ diệt. Ngoài ra, bài 5 diễn đúng ý y phục không đủ làm thành một nhà nho và bài 7 diễn ý nghệ sĩ có chân tài thì ung dung, tự nhiên, càng làm cho nội dung chương càng thêm phức tạp. Vì những lẽ đó chúng ta có thể kết luận rằng chương này do nhiều người viết, một số thuộc môn phái Trang phụ diễn lại ý của Trang chứ không phát minh thêm được gì; một số có thể là theo đạo Nho và chịu ảnh hưởng lớn của Trang, cho nên tuy gọi Khổng Tử là phu tử mà ý và lời thì của Trang, như tác giả bài 3. Xét chung, giá trị chương này tầm thường.

328 Chú thích: 1082 [1] Điền Tử Phƣơng, tên là Vô Trạch (Tử Phƣơng là tên tự), là một ngƣời hiền nƣớc Nguỵ, đƣợc Văn Hầu coi nhƣ thầy. Khuê Công cũng là ngƣời hiền nƣớc Nguỵ [2] Là thầy dạy Tử Phƣơng, vì ở lớp thành ngoài phía Đông nên gọi là Đông Quách [3] Nguyên văn: nhân mạo như thiên hư. Theo Hoài Nam tử thì chữ hư đây có nghĩa là tâm (lòng) [4] Có thể hiểu là vô sinh khí, hoặc dễ rã rời (nhƣ đất gặp nƣớc) [5] Trung Quốc ở đây trỏ những nƣớc ở lƣu vực sông Hoàng Hà, nhƣ Lỗ, Tề, Nguỵ, Chu. Miền đó văn minh sớm nhất. Các nƣớc ở chung quanh nhƣ Sở, Tần kém văn minh [6] Có thể hiểu là trịnh trọng lắm [7] Nguyên văn: vô khí. L.K.h. dịch là: không phục vụ ai [8] Bài này thật khó hiểu, mỗi sách giải thích một khác. L.K.h. tóm tắt đại ý nhƣ sau: Mặt trời trong bài này gợi cho ta cái ý vũ trụ biến chuyển hoài không một lúc nào ngừng, và vạn vật phải theo nó. Ngƣời nào không biến đổi hoài để thích ứng với hoàn cảnh thì là chết về tinh thần rồi (tuy thể xác còn sống). Kẻ đó thật đáng thƣơng, vì cho cái cũ là cái mới, lầm những lời nói đã ngƣng kết rồi với cái tinh thần linh động biến chuyển hoài [9] Nguyên văn là bách thể, có sách dịch là: trăm cái xƣơng, đại ý cũng là thân thể [10] Giếng: theo bác Vvn, chữ Hán là thác 汋. Trong sách in sai chữ giếng thành chữ tiếng. [Goldfish] [11] Bài này chỉ là một ngụ ngôn. Lỗ Ai Công mất năm -468, trƣớc khi Trang tử sinh khoảng

329 100 năm [12] Vì thời đó ngƣời ta cho rằng trời tròn đất vuông [13] Bách Lý Hề là tên tự, họ là Mạnh. Ông là một hiền nhân, vốn ở nƣớc Ngu, từ khi Ngu mất nƣớc, ông qua Tần [14] Ám chỉ cha ông sai ông lợp lại lẫm và đào giếng, tính hảm hại ông vì ghét ông mà thƣơng một ngƣời em khác mẹ của ông; ông có hiếu, biết vậy mà vẫn vâng lời cha, sau thoát nạn. Coi bài Tượng tử kí của Vƣơng Thủ Nhân, Cổ văn Trung Quốc Tao Đàn, [15] Nguyên văn: nhi kì điếu mạc điếu, phi trì kì điếu hữu điếu giả dã, thƣờng điếu dã. H.C.H. theo chú thích của Vƣơng Niệm Tôn, bảo hai chữ điếu in nghiêng là chữ câu (lƣỡi câu), và dịch nhƣ vậy. L.K.h. dịch là: ông lão câu mà không câu, nghĩa là không phải làm nghề đánh cá, mà bỏ thì giờ ra để câu, và giảng rằng: ngƣời câu cá không dùng mồi để câu cá, cũng nhƣ ngƣời trị nƣớc không hứa cho dân chúng đƣợc hƣởng những lợi vật chất này nọ. Ngƣời câu cá thật sự là ngƣời tìm sự an ổn tâm hồn trong việc câu cá; nhà cai trị giỏi là ngƣời chỉ tìm sự an ổn và thái bình cho thiên hạ. [Theo bác Vvn: cụ NHL có lẽ do ảnh hƣởng truyện Lã Vọng câu cá trong Phong Thần nên đã dịch nhƣ trên; nguyên văn cả đoạn: 見一丈夫釣, 而其釣莫釣, 非持其釣, 有釣者也, 常釣也 kiến nhất trượng phu điếu, nhi kì điếu mạc điếu, phi trì kì điếu, hữu điếu giả dã, thường điếu dã, nghĩa là: "... gặp một ngƣời câu cá, nhƣ câu mà không phải câu, không có ý câu giống nhƣ những kẻ câu cá thƣờng câu". [Goldfish] [16] Ý nói trời sai hiền nhân đó xuống che chở cho dân [17] Nghĩa là không còn trộm cƣớp [18] Nghĩa là không còn gian tƣớng [19] Làm vua thì ngồi quay mặt về phƣơng Nam. Văn vƣơng quay mặt về Bắc là tỏ ý tôn trọng ông lão đó lắm [20] Có lẽ đây là truyện Khƣơng Tử Nha (Lã Vọng) mà tác giả đã sửa đổi cho thành ngụ ngôn. Khƣơng Tử Nha giúp nhà Chu diệt vua Trụ, đƣợc phong đất ở Tề, không hề nửa đêm trốn đi [21] Bài này có trong Liệt tử II.5 bản Lá Bối không dịch. Đại ý là làm chủ đƣợc cánh tay, bắp

330 thịt chƣa đủ, phải làm chủ đƣợc cái tâm mới là đạt Đạo. Bá Hôn Vô Nhân có chỗ gọi là Bá Hôn Mâu Nhân [22] Kiên Ngô là một ẩn sĩ. Tôn Thúc Ngao là một hiền sĩ nƣớc Sở [23] Nguyên văn: bất tri kì tại bỉ hồ, kì tại ngã hồ? H.C.H. dịch là: tôi không biết cái đáng quí đó là ở chức lệnh doãn hay là ở tôi? 1105 [24] Phàm là một nƣớc mà vua thuộc dòng dõi Chu Công. Kinh đô nƣớc đó nay thuộc tỉnh Hà Nam [25] Chúng tôi dịch sát nguyên văn. L.K.h. đề nghị đổi một chút: Nƣớc Phàm mất (bị nƣớc khác chiếm), cái đó không ảnh hƣởng gì sự tồn tại của nó (nghĩa là non sông của Phàm vẫn còn đó). Nếu nƣớc Phàm mất mà không ảnh hƣởng gì đến sự tồn tại của nó thì nƣớc Sở còn cũng không đủ để bảo tồn nó. Đổi nhƣ vậy thì nghĩa gắn với câu sau hơn. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: Chương XXII TRÍ ĐI CHƠI PHƢƠNG BẮC (Trí bắc du) 1 Trí đi chơi phƣơng Bắc, tới Huyền Thuỷ, lên núi Ẩn Phân, gặp Vô Vi Vị, 1107 [1] bảo: - Tôi muốn hỏi ông ít điều: Muốn biết Đạo thì phải suy nghĩ những gì, ra sao? Muốn ở yên trong Đạo thì phải cƣ xử ra sao, hành động ra sao? Muốn đắc Đạo thì phải theo cách nào, đƣờng nào? Trí hỏi ba câu đó mà Vô Vi Vị không đáp câu nào cả, không phải không muốn đáp mà vì không biết đáp ra sao.

331 Không đƣợc đáp lại, Trí quay về Bạch Thuỷ ở phƣơng Nam, lên núi Hồ Khuyết, thấy Cuồng Khuất cũng lại đem ba câu đó ra hỏi. Cuồng Khuất đáp: À tôi biết, để tôi nói cho nghe. Nhƣng vừa muốn nói thì Cuồng Khuất đã quên mình muốn nói gì. Trí lần này cũng không hỏi đƣợc, trở về đế cung, vô yết kiến Hoàng Đế để hỏi. Hoàng Đế đáp: Đừng suy nghĩ gì cả thì mới biết đƣợc Đạo, đừng cƣ xử hành động gì cả thì mới ở yên trong Đạo đƣợc; không theo đâu, không nói đƣờng nào thì mới đắc Đạo. Trí lại hỏi: - Tôi và ông biết điều đó, còn hai ngƣời kia [tức Vô Vi Vị và Cuồng Khuất] không biết, nhƣ vậy là ai phải? Hoàng Đế đáp: - Vô Vi Vị mới thật là phải, Cuồng Khuất chỉ tựa nhƣ phải thôi, còn ta và ngƣơi thì không bao giờ gần đƣợc Đạo. Vì ngƣời biết thì không nói, kẻ nói thì không biết [2] Cho nên thánh nhân dùng cách dạy mà không cần nói 1109 [3]. Đạo không thể nhận đƣợc, Đức không thể đạt đƣợc, mà lòng nhân có thể thi hành đƣợc, nghĩa có thể tồn tại đƣợc, lễ có thể hoá ra giả dối đƣợc. [vì những cái đó thuộc về hữu vi]. Cho nên bảo: Mất Đạo rồi mới có Đức, mất Đức rồi mới có nhân, mất nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ [4] Lễ là cái phù hoa của Đạo, là đầu mối của loạn. Cho nên bảo: Theo Đạo thì mỗi ngày một bớt [hành động đi]. Bớt rồi lại bớt nữa, cho đến vô vi [không làm gì cả]. Vô vi mà không có gì là không làm [5] Nay đã là vật rồi mà muốn trở về bản nguyên, điều đó thực khó, chỉ bậc chí nhân hoạ chăng mới dễ dàng trở về đƣợc. Sống đƣa tới chết, chết là đầu mối của sống. Ai biết đƣợc thứ tự trƣớc sau của sống chết? Ngƣời ta sinh ra là do cái khí tụ lại. Khí tụ thì sinh, khí tán thì chết. Tử sinh đã tuần hoàn thì còn có gì mà lo? Vạn vật là một. Cái gì ngƣời ta cho là tốt đẹp thì gọi là thần kì, cái gì cho là xấu xa thì gọi là xú hủ

332 [thối, nát]. Sự thực thì cái xú hủ lại biến hoá ra thành thần kì, mà cái thần kì lại biến hoá thành xú hủ 1112 [6]. Cho nên bảo rằng: Khắp thiên hạ chỉ có một cái khí lƣu thông mà thôi. Do dó thánh nhân trọng cái nhất thể 1113 [7]. Trí hỏi Hoàng Đế: - Tôi đã hỏi Vô Vi Vị, Vô Vi Vị không đáp, không phải vì không muốn đáp mà vì không biết đáp ra sao. Tôi lại hỏi Cuồng Khuất, Cuồng Khuất muốn đáp mà rồi không đáp vì vừa định đáp thì quên mất mình muốn nói gì. Nay tôi hỏi ông, ông biết mà đáp tôi, thế thì tại sao bảo là ông không gần đƣợc Đạo? Hoàng Đế đáp: - Vô Vi Vị thực đạt Đạo vì ông ta không biết đáp ra sao; Cuồng Khuất tựa nhƣ đạt Đạo vì ông quên điều mình muốn nói; còn ta và ngƣơi không bao giờ gần đƣợc Đạo cả vì biết nói về Đạo. Cuồng Khuất nghe kể lại lời đó của Hoàng Đế, cho rằng Hoàng Đế biết sự hạn chế của ngôn ngữ [8] 2 Trời đất tuyệt đẹp mà không nói, bốn mùa tuần hoàn theo một luật rõ ràng mà không nghị luận, vạn vật sinh thành theo một trật tự mà không biện thuyết. Thánh nhân trở về bản nguyên cái đẹp của trời đất, thấu đƣợc đạo lí của vạn vật. Bậc chí nhân vô vi, bậc thánh nhân không tạo ra cái gì là vì theo phép tắc tự nhiên của trời đất. Cái thần minh của Đạo cực tinh diệu, hoà hợp với mọi sự biến hoá của vạn vật. Sự sinh tử, vuông tròn của vạn vật đều là diễn biến tự nhiên, nên không biết đƣợc căn nguyên, vì vậy mà vạn vật tự nhiên sinh tồn từ xƣa tới nay. Trời đất và bốn phƣơng tuy rộng thật mà vẫn nằm ở trong Đạo; cái đầu lông tơ mùa thu tuy nhỏ thật mà cũng nhờ Đạo mới thành hình. Vạn vật đều chìm nổi biến hoá hoài suốt đời. Âm dƣơng, bốn mùa vận hành theo thứ tự. Đạo mê muội, tựa nhƣ không có mà có; mới đầu nó không có hình tích mà lại có tác dụng thần diệu, vạn vật nhờ nó

333 sinh hoá mà không tự biết 1115 [9]. Ngƣời ta gọi nó là căn bản của vũ trụ. Hiểu đƣợc lẽ đó thì có thể quan sát đạo trời (đạo tự nhiên). 3 Niết Khuyết hỏi Bị Y 1116 [10] về Đạo. Bị Y đáp: - Anh ngay ngƣời lên, chuyên nhất thị giác thì hoà khí của trời sẽ xuống. Gom trí lại, chuyên nhất ý niệm thì thần minh sẽ tới. Cái Đức làm cho anh đẹp lên, cái Đạo sẽ hiện rõ trong anh. Con ngƣời của anh sẽ nhƣ con ngƣời còn bé mới sanh, anh sẽ không tìm nguyên do của mọi việc nữa 1117 [11]. Bị Y chƣa nói xong thì Niết Khuyết đã ngủ say. Bị Y mừng lắm, bỏ đi, vừa đi vừa hát: Hình thể nhƣ cây khô, lòng nhƣ tro tàn. Thực là chân trí, không còn chút thành kiến. Mê mê muội muội, không còn tâm tƣ, không cùng [với anh ấy] mƣu tính gì đƣợc. Quí thay ngƣời đó!. 4 Bài này y hệt bài 12 chƣơng I Liệt tử, chúng tôi đã dịch rồi Lá Bối trang 105, nên không chép lại. Đại ý: thân ta do khí trời vận chuyển mà có, vậy là của trời đất kí thác cho ta. 5 Khổng Tử nói với Lão Đam: - Hôm nay an nhàn, xin ông giảng cho tôi về cái Đạo tối cao. Lão Đam đáp: - Ông nên trai giới, gột rửa cái tâm, tinh khiết cái thần, trừ bỏ trí tuệ đi. Cái Đạo thật sâu thẳm, mờ mịt, khó giảng lắm. Tôi cho thầy biết cái đại khái. Cái sáng sủa phát sinh từ cái tối tâm; cái hữu hình phát sinh từ cái vô hình; tinh thần phát sinh từ cái Đạo, hình thể phát sinh từ tinh thần; vạn vật do

334 hình thể mà sinh ra: những vật có chín lỗ sinh từ cái thai, những vật có tám lỗ 1118 [12] sinh ra từ cái trứng. Khi Đạo xuất hiện, nó không để một dấu vết gì cả, nó không biến mất sau một giới hạn nào cả 1119 [13], nó không có phòng, có cửa, bốn mặt thông ra ngoài, mênh mông vô cùng. Ngƣời nào đạt đƣợc nó thì chân tay cứng mạnh lên, tƣ tƣởng thông đạt, tai mắt sáng suốt, dƣỡng tâm mà không biết mệt, thuận ứng vạn vật, không có thành kiến. Không có nó thì trời không cao đƣợc, đất không rộng đƣợc, mặt trời mặt trăng không vận hành đƣợc, vạn vật không phồn thịnh đƣợc. Học vấn quảng bác chƣa chắc đã biết đƣợc nó, biện luận chƣa chắc hiểu đƣợc nó, cho nên thánh nhân đã bỏ trí tuệ [không dùng trí tuệ để hiểu Đạo]. Nó là cái không thể tăng, không thể giảm đƣợc, cái mà thánh nhân quí trọng. Thăm thẳm nhƣ biển, vòi vọi nhƣ núi, hết rồi lại bắt đầu [bất tuyệt], vận chuyển vạn vật mà không bao giờ kiệt. Cái Đạo của ngƣời quân tử ở ngoài nó đƣợc chăng? Thí dụ một ngƣời Trung Quốc, chẳng cần biết âm hay dƣơng 1120 [14], ở vào khoảng giữa trời đất, làm ngƣời rồi sau trở về nguồn gốc. Tự bản thể mà xét, ngƣời ấy sinh ra là do cái khí tụ lại, ngƣời đó có thể thọ hay yểu, nhƣng thọ yểu thì có khác nhau bao nhiêu. Chẳng qua chỉ là một khoảnh khắc, có đáng gì mà khen vua Nghiêu, chê vua Kiệt! Quả cây lớn và hạt loài cỏ đều có đạo lí sinh trƣởng riêng của chúng. Nhân luân tuy phức tạp nhƣng cũng có đạo lí [15] Gặp hoàn cảnh nào thánh nhân cũng không phản kháng, bỏ qua mà không cố chấp. Điều hoà mà thuận ứng, nhƣ vậy là Đức; vô tâm 1122 [16] mà thuận ứng, nhƣ vậy là Đạo, nhờ vậy mà các đế, vƣơng thời xƣa hứng khởi đƣợc. Con ngƣời ở trong khoảng trời đất cũng nhƣ con ngựa trắng, vụt qua cái khe hở, một nháy mắt rồi biến mất. Vạn vật hốt nhiên xuất hiện rồi lại hốt nhiên trở vô. Do sự biến hoá tự nhiên mà sinh, rồi do sự biến hoá tự nhiên mà chết. Các sinh vật lấy vậy làm buồn, loài ngƣời cho vậy là thảm. Sự thực, cái chết chỉ là trút cái túi (cung) tự nhiên, bỏ cái bao (kiếm) tự nhiên của trời, phân vân tiêu tán, hồn

335 phách rời đi, thể xác tan rã, cái đó gọi là đại qui (cuộc trở về quan trọng). Từ vô hình mà thành hữu hình (sinh), lại từ hữu hình mà thành vô hình (tử), điều đó ai cũng biết, không phải gắng sức mới hiểu đƣợc; ai cũng bàn luận tới. Nhƣng đạt Đạo thì không bàn luận, bàn luận thì không đạt Đạo. Trên con đƣờng sáng sủa [tức nghị luận] thì không gặp đƣợc Đạo. Cho nên biện luận lại không bằng đừng nói gì cả. Không thể nghe thấy Đạo đƣợc, muốn nghe nó thì thà bịt tai còn hơn. Nhƣ vậy gọi là đắc Đạo. 6 Đông Quách Tử 1123 [17] hỏi Trang tử: - Cái ông gọi là Đạo ấy, nó ở đâu? Trang tử đáp: - Ở khắp nơi. - Phải chỉ ra ở chỗ nào mới đƣợc chứ. - Trong con kiến. - Sao mà thấp vậy? - Trong cọng cỏ. - Còn thấp hơn nữa ƣ? - Trong mảnh sành. - Sao càng thấp quá vậy? - Trong cục phân.

336 Đông Quách Tử không hỏi nữa. Trang tử bảo: - Những câu hỏi của ông không đi tới thực chất của vấn đề. Nhƣ viên xét thuế hỏi ngƣời coi chợ về cách dẫm lên con heo để biết nó mập hay không: chân càng lún xuống thì heo càng mập 1124 [18]. Ông đừng chỉ hắn một vật nào (phải bao quát) mà hỏi, nhƣ vậy ông sẽ không bỏ sót. Cái Đạo tối cao nhƣ vậy, mà lời nói cao cả cũng vậy: bao hàm, phổ biến và đủ cả. Ba danh từ đó tuy khác nhau mà ý nghĩa nhƣ nhau [19] Ngƣời nào đã tiêu dao ở cõi Hƣ vô, bao gồm mà nghị luận thì biết đƣợc Đạo là vô cùng. Ngƣời nào đã vô vi thì điềm đạm mà an tĩnh, tịch mịch mà thanh hƣ, điều hoà mà nhàn dật. Bỏ tham vọng của ta đi, đi mà không biết để tới đâu, về mà không biết sẽ ngừng ở đâu, đi và về đều không có mục đích. Bàng hoàng ở trong cảnh giới mênh mông hƣ vô mà bậc đại trí cũng không biết đƣợc giới hạn của nó. Chủ tể của vật [tức Đạo] với vật đều không có giới hạn [vì Đạo ở trong vật, nhƣng vật đối với vật thì có giới hạn, đó là giới hạn của vật 1126 [20]. Cái không có giới hạn [tức Đạo] nằm trong cái có giới hạn [tức vật], Đạo tuy nằm trong vật có giới hạn mà chính nó không có giới hạn. Nhƣ cái ngƣời ta gọi là đầy, rỗng, suy diệt. Đạo tuy ở trong cái đầy, rỗng mà không phải đầy, rỗng; ở trong cái suy diệt mà không phải suy diệt; ở trong gốc và ngọn mà không phải gốc, ngọn; ở trong cái tích tụ và tiêu tán mà không phải là tích tụ, tiêu tán. 7 A Hà Cam cùng với Thần Nông học Lão Long Cát, Thần Nông tựa vào cái kỉ (bàn con), để ngó ra cửa mà ngủ trƣa. Giữa trƣa, A Hà Cam đẩy cửa vô cho hay thầy đã mất. Thần Nông tựa vào cái kỉ, chống gậy đứng dậy, rồi liệng gậy đánh rầm một tiếng, cƣời vang: - Biết rằng tôi thiên lệch, ngu muội, chậm chạp và biếng nhác nên trời [tức Lão Long Cát] bỏ tôi mà đi. Thế là hết. Thầy không còn một lời cuồng nào 1127 [21] để mở trí cho tôi nữa. Thầy mất rồi. Yểm Cƣơng lại điếu, nghe thấy, bảo:

337 - Ngƣời nào ngộ Đạo 1128 [22] thì đƣợc các quân tử trong thiên hạ qui phụ. Nay, về Đạo thầy anh chƣa biết đƣợc một phần vạn cái đầu lông mùa thu chứ cũng đã biết trƣớc khi chết không phát lộ một lời cuồng nào về Đạo cho anh hay, huống hồ là ngƣời ngộ Đạo. Thầy anh nhìn Đạo, không thấy nó có hình thể nào cả; nói về Đạo thì bảo nó mờ mờ mịch mịch. Vì nghị luận về Đạo tức là trái với Đạo. 8 Cực Thanh 1129 [23] hỏi Vô Cùng: - Anh biết Đạo không? Vô Cùng đáp: - Không. Cực Thanh lại hỏi Vô Vi: - Anh biết Đạo không? - Biết. - Anh biết Đạo, vậy có thể nói đƣợc nó ra sao không? 1130 [24] - Đƣợc, - Vậy nó ra sao? - Theo tôi, nó có thể quí hay tiện, tụ hay tán, đó nó nhƣ vậy.

338 Cực Thanh kể những lời của Vô Cùng và Vô Vi cho Vô Thuỷ 1131 [25] nghe và hỏi: - Vô Cùng không biết Đạo mà Vô Vi biết. Nhƣ vậy ai phải ai trái? Vô Thuỷ đáp: - Ngƣời nào không biết mới là sâu sắc, ngƣời nào biết thì nông cạn. Không biết là cảm đƣợc cái bề trong, biết chỉ là thấy bề ngoài. Cực Thanh gật đầu, than: - Vậy không biết mới là biết, mà biết lại không biết. Ai biết đƣợc cái biết mà là không biết? Vô Thuỷ bảo: - Đạo không thể nghe đƣợc; cái gì nghe đƣợc thì không phải là Đạo. Đạo không thể thấy đƣợc; cái gì thấy đƣợc thì không phải là Đạo. Đạo không thể đem ta giảng đƣợc; cái gì giảng đƣợc thì không phải là Đạo. Ai biết đƣợc rằng cái gì sinh ra hình thể thì không có hình thể. Đạo, không thể dùng tên gọi đƣợc. Vô Thuỷ nói tiếp: - Có ngƣời hỏi về Đạo mà mình trả lời tức là không biết Đạo. Nội cái việc hỏi về Đạo thì đủ tỏ rằng chƣa nghe gì về Đạo. Đạo thì không thể đem ra hỏi đƣợc, mà hỏi thì không trả lời đƣợc. Đã không thể hỏi mà còn hỏi thì câu hỏi đó rỗng không, đã không đáp đƣợc mà còn đáp thì lời đáp đó vô nghĩa. Dùng lời vô nghĩa mà đáp một câu hỏi rỗng không, nhƣ vậy là ngoài thì không quan sát vũ trụ, trong thì không biết nguồn gốc, tất không vƣợt đƣợc núi Côn Lôn 1132 [26], mà mà ngao du ở cõi Thái Hƣ. 9

339 Ánh Sáng Rực Rỡ hỏi Không Có 1133 [27] : - Thầy là có hay không có? Hỏi mà không đƣợc đáp, Ánh Sáng Rực Rỡ bèn chăm chú nhìn trang mạo của Không Có, chỉ thấy tối tăm và hƣ không. Suốt ngày nhìn Không Có mà không thấy gì cả, nghe mà không thấy gì cả. Ánh Sáng Rực Rỡ thán phục: - Thật là cao xa! Ai mà đạt đƣợc. Tôi có thể hiểu đƣợc cái hƣ không, nhƣng không thể cho cái hƣ không là không có, đến nhƣ không có mà là có thì làm sao đạt đƣợc cảnh giới ấy [28] 10 Một ngƣời thợ gọt móc dây lƣng cho quan Đại tƣ mã [nƣớc Sở], tám chục tuổi rồi mà gọt vẫn đúng, không sai chạy mảy may. Quan Đại tƣ mã hỏi: - Ông già khéo tay thật, có thuật nào không? Ngƣời thợ đó đáp: - Tôi có cách 1135 [29] này. Hồi hai mƣơi tuổi tôi thích gọt đai lƣng đến nỗi không nhìn, không xem bất kì vật gì khác ngoài cái đai lƣng ra. Sở dĩ dụng tâm đƣợc nhƣ vậy là nhờ không để ý vào các vật khác, mà phát huy hoài đƣợc cái dụng tâm của mình. Huống hồ là dùng cái tâm không dụng tâm thì vạn vật, có vật nào là không nhờ mình mà phát huy đƣợc cái diệu dụng của nó [30] 11 Nhiễm Cầu (một môn đệ của Khổng Tử) hỏi Trọng Ni: - Có thể biết đƣợc khi chƣa có trời đất thì ra sao không?

340 Trọng Ni đáp: - Biết đƣợc. Xƣa cũng nhƣ nay. Nhiễm Cầu không hỏi thêm, lui ra. Hôm sau gặp Trọng Ni lại hỏi: - Hôm qua con hỏi thầy có thể biết đƣợc khi chƣa có trời đất thì ra sao không. Thầy đáp: Biết đƣợc. Xƣa cũng nhƣ nay. Lúc đó con hiểu rõ, bây giờ con lại mù mờ. Nhƣ vậy nghĩa làm sao, xin thầy giảng cho con. Trọng Ni đáp: - Hôm qua anh hiểu rõ là dùng tinh thần 1137 [31] mà lĩnh hội đƣợc cái nghĩa rồi. Hôm nay anh mù mờ là gì anh không dùng tinh thần mà dùng lí luận (hay hình tƣợng) để tìm hiểu. Không có cổ, không có kim, không có thuỷ, không có chung. Trƣớc kia không có con cháu mà bây giờ có con cháu đƣợc không? Nhiễm Cầu không đáp, Trọng Ni nói thêm: - Thôi, đừng hỏi nữa. Không phải cái sống sinh ra cái chết, không phải cái chết làm mất cái sống. Sống và chết chẳng phải tuỳ thuộc vào một cái gì khác đấy ƣ? Vì sống và chết chỉ là một. Có vật gì có trƣớc khi trời đất sinh ra không? Cái làm chủ tể vật đó không phải là vật. Vật nào sinh ra (vạn vật) không phải là vật có trƣớc hết thảy, vì trƣớc đó còn có vật khác nữa, cứ nhƣ vậy tới vô cùng, cũng là theo luật tự nhiên đó [32] 12 Nhan Uyên hỏi Trọng Ni: - Con đã có lần nghe thầy bảo: Đừng đón cái gì cả, đừng đuổi cái gì cả. Xin thầy giảng cho con nghe.

341 Trọng Ni đáp: - Cổ nhân thích ứng với biến hoá ở ngoài mà trong lòng không thay đổi. Ngày nay ngƣời ta thay đổi trong lòng mà không thích ứng với biến hoá ở ngoài. Ai muốn thích ứng với biến hoá ở ngoài thì phải biết cái luật bất biến hoá. Yên tĩnh biến hoá, mà cũng là yên tĩnh không biến hoá; yên tĩnh tiếp xúc với vật nhƣng đừng nhiều quá. 13 Vua Hi Vi có cái vƣờn cây, vua Hoàng Đế có cái vƣờn hoa, vua Thuấn có cung điện, vua Thang và vua Võ có cung thất. Các bậc quân tử nhƣ các thầy Nho, thầy Mặc [tuy học thuyết trái nhau] mà còn dùng điều phải điều trái để điều hoà lẫn nhau, huống hồ là ngƣời ngày nay. Thánh nhân ở với vật mà không làm hại vật. Không là hại ai nên không ai có thể làm hại mình đƣợc. Chỉ ngƣời nào không làm hại ai mới có thể giao thiệp với mọi ngƣời đƣợc. Rừng núi, gò đống làm cho ta vui vẻ, hăng hái. Vui chƣa dứt thì đã buồn. Vui, buồn tới ta không đuổi chúng đƣợc, mà chúng đi ta cũng không ngăn chúng đƣợc. Hởi ơi! Đời ngƣời nhƣ cái quán trọ vậy, ghé đó rồi đi. Ta biết đƣợc cái ta gặp mà không biết cái ta không gặp; ta làm đƣợc những cái ta làm đƣợc mà không làm đƣợc những cái khác. Có những cái mình không biết, mình không làm đƣợc, đó là điều không ai tránh khỏi. Muốn tránh những cái không tránh đƣợc, điều đó chẳng đáng thƣơng tâm ƣ? Lời nói thực đúng thì không dùng lời, hành vi thật hoàn toàn thì không dùng hành vi. Đem cái mình biết mà bao quát tất cả những cái mình không biết, thiển cận thay! * (Xin coi nhận định ở cuối chương sau)

342 1139 [1] Đây toàn là những tên tƣợng trƣng. Trí tƣợng trƣng trí tuệ, Vô Vi Vị tƣợng trƣng ngƣời hiểu Đạo vì Đạo không làm, không nói. Huyền Thuỷ là nƣớc đen, tức sông hay biển ở phƣơng Bắc, Ẩn Phân là nổi lên mà không hiện rõ, tƣợng trƣng sự mù mờ, không phân biệt đƣợc. Ở dƣới cũng đƣợc hiểu: Bạch Thuỷ là nƣớc trắng, tức sông hay biển phƣơng Nam, miền sáng sủa; Hồ Khuyết tƣợng trƣng sự hồ nghi; Cuồng Khuất, có lẽ nhƣ H.C.H. giải thích, tƣợng trƣng ngƣời hơi hiểu Đạo [2] Câu này ở đầu chƣơng 56 Đạo đức kinh [3] Năm chữ hành bất ngôn chi giáo ở chƣơng 11 Đạo đức kinh [4] Câu này ở chƣơng 38 Đạo đức kinh [5] Câu này ở đầu chƣơng 48 Đạo đức kinh [6] Nhƣ thức ăn biến hoá thành phân, phân lại dùng để bón cây mà biến hoá thành những hoa quả tốt [7] Tác giả bài này, mà cả Lão, Trang cũng vậy, tuyệt đối chủ trƣơng nhất nguyên luận [8] Đại ý bài này là Đạo chỉ hiểu bằng trực giác đƣợc thôi, không thể giảng đƣợc, vì vậy ngƣời thật đạt Đạo (Vô Vi Vị) không giảng gì về Đạo, hạng thấp nhất (Hoàng Đế) mới dùng lời để giảng về Đạo; hạng ở giữa (Cuồng Khuất) còn có ý muốn giảng mà không giảng đƣợc [9] Nguyên văn: vạn vật súc nhi bất tri. L.K.h. dịch là: vạn vật mang Đạo ở trong mình mà không biết là có nó [10] Coi chú thích hai nhân vật tƣợng trƣng này ở chƣơng VII bài [11] Nguyên văn: vô cầu kì cố. L.K.h. dịch là: sẽ không theo thế tục nữa (?). [Nguyên văn chữ Hán là: 无求其故. Sách in sai chữ cố thành có Goldfish].

343 1150 [12] Vật có chín lỗ (mắt, mũi, miệng, tai ) là loài ngƣời, vật có tám lỗ là loài chim vì đại tiện và tiểu tiện đều chung một lỗ [13] Nguyên văn: kì vãng dã vô nhai. H.C.H. dịch là: nó chết rồi không có giới hạn nào cả. Dịch nhƣ vậy sát từng chữ nhƣng khó hiểu quá [14] Nguyên văn: phi âm, phi dương, nghĩa là: không phải là âm là dƣơng [15] Nguyên văn: quả loả hữu lí, nhân luân tuy nan, sở dĩ tương xỉ. Luân ở đây không có nghĩa là đạo đức, luân thƣờng mà có nghĩa là thuận tự nhiên. L.K.h. dịch là: sự tƣơng quan giữa loài ngƣời. Đại ý câu này chỉ muốn nói rằng cây cỏ hay ngƣời đều thuận theo luật tự nhiên hết [16] Nguyên văn: ngẫu = thình lình, không cố ý, không dụng tâm [17] Một ngƣời theo đạo Lão, ở ngoài thành phía Đông nên gọi nhƣ vậy. Cũng có tên là Thuận tử [18] Tác giả muốn nói: đừng nên chỉ riêng vật nào mà hỏi Đạo có ở đó không, cũng nhƣ đừng nắn từng bộ phận con heo để xem nó có mập không, chỉ cần dẫm lên nó, hễ chân lún là biết nó mập [19] Bài này có nhiều chỗ khó hiểu. Nhƣ câu này, nguyên văn: kì chỉ nhất dã. L.K.h. dịch là: mà chỉ trỏ một vật. Chính Liou cũng nhận là không hiễu rõ [20] Có lẽ tác giả muốn nói: vật, xét về phƣơng diện một phần tử của Đạo, vì do Đạo sinh ra, thì không có giới hạn cũng nhƣ Đạo; mà xét địa vị của từng vật một tách vật ra khỏi Đạo thì có giới hạn [21] Nguyên văn: cuồng ngôn. H.C.H. giảng là lời cực thâm thuý. [Cuồng ngôn 狂言, trong sách in sai là cương ngôn - Goldfish] 1160 [22] Nguyên văn: thể Đạo. L.K.h. dịch là: hợp nhất với Đạo [23] Cực Thanh ở đây tƣợng trƣng trời chăng? 1162 [24] Nguyên văn: hữu số hồ? H.C.H. giảng là ta có thể tả nó mộ cách cụ thể, rõ ràng đƣợc không? L.K.h. dịch là: có thể hình dung nó, cho nó những đức tính nào đƣợc không? [Hữu số hồ? 有

344 数乎?, sách in sai là hữu số ho? Goldfish] [25] Vô Thuỷ là không có khởi thuỷ [26] Côn Lôn là dãy núi lớn nhất phía Tây Trung Hoa. Ở đây trỏ cảnh giới cực cao xa. Cõi Thái Hƣ đây tức là cõi vô hà hữu chi hƣơng (chỗ hƣ vô tịch mịch) trong chƣơng Tiêu dao du bài [27] Nguyên văn: Quang Diệu (tƣợng trƣng cho trí tuệ) và Vô Hữu (tƣợng trƣng Đạo) [28] Câu này khó hiểu, mỗi nhà dịch một khác. L.K.h. dịch là: Tôi có thể quan niệm ông ấy là vô (không), nhƣng tôi không thể cho cái vô là không có, mà ông ấy là cái vô đã hƣ vô hoá [29] Nguyên văn: hữu thủ. L.K.h. dịch là: kiên tâm [30] Câu này mỗi nhà hiểu một khác. Tôi theo H.C.H. cho rằng câu đó nói về Đạo, cứ tự nhiên, không dụng tâm mà vạn vật đƣợc phát triển [31] Tức trực giác [32] L.K.h. theo một bản khác, dịch là: Thánh nhân yêu ngƣời mà không một chút vị kỉ (vô kỉ, chứ không phải vô dĩ nhƣ các bản khác) là vì lí luận trên sự kiện này: không có vật nào, ngƣời nào đƣợc ƣu thế. Trang Tử và Nam Hoa Kinh Giới thiệu và chú dịch: PHẦN IV - Chương XXIII CANH TANG SỞ (Canh Tang Sở) 1 Trong số đệ tử của Lão Đam có một ngƣời tên là Canh Tang Sở hơi đạt đƣợc đạo của thầy 1171 [1],

345 nên lên trên núi Uý Luỹ [nƣớc Lỗ] tại phƣơng Bắc, đuổi hết nô bộc nào thông minh, xa lánh hết những tì thiếp nào có lòng nhân, mà ở chung với những kẻ đần độn, dùng những kẻ ăn mặc lôi thôi. Canh Tang Sở ở đƣợc ba năm thì miền Uý Luỹ trúng mùa lớn, dân chúng bảo nhau: Khi thầy Canh Tang mới tới, chúng ta ngạc nhiên thấy thầy kì cục quá. Ảnh hƣởng của thầy, xét từng ngày thì không thấy mà xét hàng năm mới thấy là nhiều. Thầy là bậc thánh chăng? Sao chúng ta không coi thầy nhƣ ngƣời thay mặt 1172 [2] cho tổ tiên ta, trọng thầy nhƣ thần xã tắc [thổ thần và thần mùa màng] của chúng ta? Hay tin đó, Canh Tang tử ngồi quay mặt về phƣơng Nam mà không vui. Môn sinh lấy làm lạ. Canh Tang tử giảng: Thái độ của thầy có gì lạ đâu. Khí xuân làm cho cây cỏ hồi sinh, khí thu làm cho trái cây chín, có phải vô cớ mà nhƣ vậy đâu, là do sự vận hành của đạo trời vậy. Thầy nghe nói bậc chí nhân ngồi im không nhúc nhích giữa bốn bức vách trong phòng còn dân chúng thì lăng xăng không biết kiếm chí nhân ở đâu. Nay dân Uý Luỹ bàn với nhau muốn thờ thầy nhƣ một hiền nhân, thì thầy thành một ngƣời mô phạm mất rồi. Cho nên nghĩ tới lời của Lão Đam mà thầy không vui. Các đệ tử bảo: - Thƣa, không phải vậy. Trong cái rãnh nhỏ, cá lớn không thể quay mình lại đƣợc, nhƣng cá con hoặc lƣơn thì chuyển động dễ dàng. Trên một cái gò thấp, một con dã thú lớn không thể nấp đƣợc, nhƣng con chồn nhỏ ở thấy sung sƣớng. Tôn kính hiền nhân, đề cử ngƣời có tài năng, tặng họ quan chức, lợi lộc, đó là tục từ thời Nghiêu, Thuấn, sao dân chúng Uý Luỹ nay lại không theo? Xin thầy nên nhận lời họ đi. Canh Tang tử đáp: - Lại gần đây, thầy giảng cho nghe. Một con dã thú lớn tới nỗi ngậm đƣợc một cái xe mà một mình ra khỏi rừng núi thì cũng không tránh khỏi cái hoạ bị bẫy, lƣới. Một con cá dù lớn tới nỗi nuốt đƣợc một chiếc thuyền mà rời nƣớc lên cạn thì bị kiến bu lại cắn. Cho nên loài cần thú thích ở nơi cao, loài cá và ba ba thích ở chỗ sâu. Ngƣời cũng vậy, muốn giữ vẹn hình hài sinh mệnh thì ở ẩn trong rừng sâu núi thẳm. Với lại Nghiêu, Thuấn có thực đáng tán dƣơng không? Cách hai ông ấy lựa chọn ngƣời hiền năng không khác gì ngƣời phá tƣờng mà trồng cỏ bồng cỏ cảo thay vào [cỏ làm sao che kín

346 bằng tƣờng đƣợc?], hoặc nhƣ ngƣời lựa những sợi tóc dài để chải, đếm từ hạt gạo để nấu cơm, dùng cách nhỏ nhen nhƣ vậy làm sao cứu đời đƣợc? Đề cử hiền tài thì dân chúng khuynh loát nhau, nhiệm dụng hạng tài trí thì dân chúng sinh ra trá nguỵ. Những cách đó không làm cho dân chúng thuần hậu mà chỉ khiến họ hăm hở cầu lợi, sinh ra cảnh con giết cha, bề tôi giết vua, đạo tặc hoành hành giữa ban ngày, khoét tƣờng giữa trƣa. Thầy bảo các anh này: do thời Nghiêu Thuấn mà sinh ra đại loạn, ảnh hƣởng tới ngàn đời sau. Ngàn đời về sau tất có cái cảnh ngƣời ăn thịt ngƣời đấy. 2 Nam Vinh Xu 1173 [3] sợ sệt, ngồi lại ngay ngắn, hỏi thầy [là Canh Tang Sở]: - Tuổi con đã lớn rồi, con phải học tập cách nào để theo đƣợc lời dạy của thầy? Canh Tang tử đáp: - Anh bảo toàn thân hình cùng bản tính của anh đừng để cho tƣ lự đau đáu trong lòng, nhƣ vậy ba năm thì thực hiện đƣợc lời dạy của thầy. Nam Vinh Xu lại hỏi: - Hình trạng con mắt ai cũng nhƣ ai, con không thấy gì khác cả mà ngƣời mù thì không thấy đƣợc. Hình trạng cái tai ai cũng nhƣ ai, con không thấy gì khác cả, mà ngƣời điếc không nghe đƣợc. Hình trạng quả tim ai cũng nhƣ ai, con không thấy gì khác cả, mà ngƣời điên không tự chủ đƣợc. Hình thể mọi ngƣời giống nhau, sở dĩ khác nhau nhƣ vậy là do ngoại vật ngăn cách chăng? Cho nên ngƣời mù, ngƣời điếc nhìn thấy, nghe thấy mà không đƣợc? Thầy mới bảo con phải bảo toàn thân hình cùng bản tính, đừng để cho tƣ lự đau đáu trong lòng, con gắng lắm mới nghe lọt [nhƣng chƣa nhập tâm đƣợc]. Canh Tang tử bảo: - Thầy không có gì nói thêm nữa. Con ong nhỏ không hoá thành con sâu xanh lớn trên cây đậu, con gà nhỏ ở nƣớc Việt không thể ấp đƣợc trứng con hồng hộc lớn, mà con gà lớn ở nƣớc Lỗ ấp đƣợc.

347 Cũng là gà, bản tính tất giống nhau, mà con ấp đƣợc, con không vì lớn nhỏ khác nhau. Tài thầy nhỏ không thể biến hoá đƣợc anh. Sao anh không đi thăm ông Lão tử ở phƣơng Nam? Nam Vinh Xu bèn mang theo lƣơng thực, đi bảy ngày bảy đêm tới nơi Lão tử ở. Lão tử hỏi: - Phải Canh Tang Sở bảo anh tới đây không? Nam Vinh Xu đáp: - Dạ, phải. - Sao mà dắt theo nhiều ngƣời quá vậy? 1174 [4] Nam Vinh Xu hoảng hốt nhìn lại phía sau, Lão tử bảo: - Anh không hiểu ta muốn nói gì chăng? Nam Vinh Xu cuối đầu, xấu hổ, rồi ngửng đầu lên thở dài: - Tôi không biết đáp ông ra sao, rồi [luýnh quýnh] quên mất cả những điều tôi muốn hỏi ông. Lão tử hỏi: - Muốn nói gì vậy? - Tôi không biết thì ngƣời ta chê tôi ngu, mà biết thì chỉ thêm sầu khổ vào thân. Tôi bất nhân thì làm hại ngƣời, mà có lòng nhân thì chỉ thêm sầu khổ vào thân. Tôi bất nghĩa thì làm thƣơng tổn cho ngƣời, mà làm điều nghĩa thì chỉ thêm sầu khổ cho mình. Làm sao tránh đƣợc những cái đó. Tôi tƣ lự về ba điều lƣỡng nan đó lắm. Nên tôi nghe lời thầy Canh Tang Sở lại thỉnh giáo ông. Lão tử bảo:

348 - Lúc nãy ta đã đọc đƣợc tâm ý anh trong cặp mắt anh, nay nghe lời anh nói, ta thấy mình đã đoán đúng. Mắt anh thất thần nhƣ đứa nhỏ mất cha mẹ, cầm cây sào mà mò cha mẹ ở đáy biển. Anh là ngƣời mất bản tính, rất hoang mang. Anh muốn khôi phục lại bản tính mà không biết cách nào. Thật đáng thƣơng. Nam Vinh Xu xin phép về nhà trọ: rán tu dƣỡng những điều mình cho là tốt, từ bỏ những điều mình cho là xấu. Sau mƣời ngày còn tự thấy ƣu tƣ 1175 [5], trở lại thăm Lão tử. Lão tử bảo: - Anh đã tự gột rửa đƣợc bản tâm, cái khí tinh thục đã sung mãn, nhƣng trong lòng vẫn còn nhiều cái xấu. Ngƣời nào mà tai mắt bị ngoại vật làm cho bế tắc thì đừng nên vội khống chế nó, nếu không, nội tâm sẽ bị nhiễu loạn. Nội tâm mà bị bế tắc thì cũng đừng nên vội khống chế nó, nếu không thì tai mắt sẽ bị nhiễu loạn. Ngƣời nào cả tai mắt lẫn nội tâm bị bế tắc thì bản tính còn không giữ đƣợc, huống hồ là hành động theo Đạo 1176 [6]. Nam Vinh Xu bảo: - Một ngƣời trong xóm đau, ngƣời láng giềng lại thăm, nếu ngƣời đau còn kể rõ đƣợc bệnh của mình thì bệnh chƣa nặng lắm. Còn tôi, mỗi lần nghe nói tới Đạo lớn thì nhƣ ngƣời uống thuốc mà bệnh tăng lên. Tôi xin ông chỉ cho cách bảo toàn bản tính thôi. Lão tử đáp: - Cách bảo toàn bản tính là trƣớc hết phải tự hỏi mình có rời bản tính không? Có thể không làm mất nó không? Có thể không cần bói bằng mu rùa hay cỏ thi mà biết đƣợc cát hung không? Có thể ngừng lại đúng lúc không? Có thể không đeo đuổi ngoại vật không? Có thể không cầu ở ngƣời mà cầu ở chính mình không? Có thể giữ tinh thần đƣợc tự do không? Có thể vô tâm mà thuận theo vật không? Lòng có thể nhƣ lòng của đứa hài nhi không? Hài nhi khóc suốt ngày mà không khan tiếng là vì tâm khí nó cực điều hoà, nắm chặt tay suốt ngày mà không cầm cái gì cả 1177 [7], là vì đức tính tự nhiên của có là vậy; nó ngó suốt ngày mà mắt không cử động vì không để ý tới ngoại vật; nó đi mà không biết đi đâu, ở yên mà không biết làm gì. Nó thuận theo ngoại vật, cùng lên xuống (nổi chìm) với vạn vật. Đó là cách bảo toàn bản tính.

349 Nam Vinh Xu hỏi: - Đó có phải là đức của bậc chí nhân không? Lão tử đáp: - Không. Đƣợc nhƣ vậy mới chỉ nhƣ cục băng tan ra thôi [trút bỏ đƣợc thành kiến nhƣ cục băng trút hết khí lạnh]. Bậc chí nhân tuỳ theo đất mà ăn uống 1178 [8] [sống theo tự nhiên], tuỳ theo thời mà vui vẻ. Không vì cái lợi giữa mình và ngƣời mà lòng phải nhiễu loạn, không lập dị, không mƣu mô, không giao thiệp với ai, tự do đi và vô tâm mà về. Đó là cách bảo toàn bản tính. - Nhƣ vậy là đạt tới cảnh giới tối cao chƣa? - Chƣa. Tôi hỏi anh có thể nhƣ đứa hài nhi đƣợc không? Đứa hài nhi cử động mà không biết nó làm gì, đi mà không biết đi đâu. Thân thể anh phải nhƣ cây khô, tinh thần anh phải nhƣ tro tàn. Nhƣ vậy hoạ phúc mới không tới. Đã không còn hoạ phúc nữa thì đâu còn bị tai nạn nữa. 3 Ngƣời nào an vui thì phát ra ánh sáng của trời [ánh sáng tự nhiên]. Ngƣời nào phát ra ánh sáng của trời thì ngƣời khác coi ngƣời đó cũng nhƣ một ngƣời thƣờng. Ngƣời nào tu thân [theo tự nhiên] thì có hằng tâm. Có hằng tâm thì đƣợc ngƣời khác qui phụ, đƣợc trời giúp đỡ. Đƣợc ngƣời khác qui phụ thì gọi là dân của trời (thiên dân); đƣợc trời giúp đỡ thì gọi là con trời (thiên tử). Ngƣời ham học thƣờng nhắm vào cái mình không học đƣợc; ngƣời ham làm là nhắm vào cái mình không làm đƣợc; ngƣời ham biện luận thƣờng nhắm vào cái điều không thể biện luận đƣợc. Một ngƣời biết ngƣng lại ở chỗ không ai có thể biết đƣợc là đạt đƣợc cái cực điểm của tri thức. Nếu không nhận sự hạn chế tự nhiên ấy thì bản tính thiên nhiên tất hao tổn. Hiểu tính chất của vật mà tuỳ thuận hình thể của nó, đừng ƣu tƣ, giữ tâm cho thƣ thái, giữ tấm lòng kính cẩn để thông đạt ngoại vật, nhƣ vậy mà vẫn còn có thể gặp tai hoạ. Nhƣng những tai hoạ đó là

350 mệnh trời, mình không thể tránh đƣợc, không làm gì tổn hại đến đức tính của ta cả, không làm nhiễu loạn đƣợc linh đài (tức nội tâm) của ta. Linh đài, có cái gì giữ nó đấy, nhƣng ta không biết cái đó là cái gì, nên không giữ đƣợc nó. Không thành tâm mà hành động thì hành động tất không đúng. Vật dục xâm nhập nội tâm mà không trừ bỏ đƣợc thì bản chân sẽ mất. Ngƣời nào làm điều ác một cách hiển nhiên thì bị xã hội giết. Ngƣời nào làm điều ác trong chỗ tối tăm không ai biết thì bị quỉ thần diệt. Sửa mình sao cho đối với ngƣời và đối với quỉ thần đều không có điều gì hổ thẹn, nhƣ vậy mới đạt đƣợc cái mức thận độc (nghĩa là cả khi ở một mình cũng giữ gìn cẩn thận, không có ý nghĩ xấu). Hành vi chỉ nhằm hợp với nội tâm thì không cầu danh; hành vi nhằm hợp với ngoại vật thì cầu đƣợc thƣởng. Hành động mà không cầu danh thì có hào quang; hành động mà vì lợi thì là bọn con buôn bị ngƣời khác chê là tham mà chính mình lại tự cho là hơn ngƣời 1179 [9]. Ngƣời nào cƣ xử cẩu thả với ngoại vật thì không dung đƣợc chính thân mình, nhƣ vậy làm sao dung đƣợc ngƣời khác. Không dung đƣợc ngƣời khác thì không có bạn thân, không có bạn thân thì coi hết thảy mọi ngƣời là ngƣời lạ. Lòng tham còn giết ngƣời hơn tất cả các binh khí, những cây kiếm (thật bén) Mạc Da cũng phải thua. Đạo tặc không gì đáng sợ bằng khí âm khí dƣơng (tức hỉ nộ) ngƣng kết ở trong lòng, trong vũ trụ không vật nào thoát đƣợc cái nguy đó, nhƣng xét kĩ không phải khí âm khí dƣơng hại ta mà chính thị dục của ta hại ta. Đạo lƣu động mà gây ra sự phân biệt: sinh thành rồi huỷ diệt ( ) 1180 [10]. Có sinh có tử, có ra có vô. Vô ra mà không thấy hình thể gọi là cửa trời (thiên môn). Cửa trời là cái vô từ đó phát sinh ra vạn vật. Vì cái hữu không thể phát sinh từ cái hữu mà phát sinh từ cái vô. Nhƣng cái vô lại vô lại vô nốt, đó là kho tàng (cái thần diệu bí mật) của thánh nhân. Cổ nhân có ngƣời tri thức đạt tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi, vũ trụ chƣa có vật: đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt đƣợc, không thể thêm gì đƣợc nữa. Hạng ngƣời thấp hơn cho rằng thời sơ khởi đã có vật, mà sự sinh đƣa tới sự chết, chết là trở về gốc: nhƣ vậy là có sự phân biệt rồi. Rồi lại có hạng thấp hơn nữa cho rằng sơ khởi là vô, rồi mới có sinh, sinh không lâu thì chết 1181 [11]. Nhƣ vậy vô là cái đầu, sinh là phần thân thể, mà chết là đốt cuối xƣơng sống. Ai mà biết rằng hữu, vô, chết, sống vốn chỉ là một thể, thì tôi sẽ đánh bạn với ngƣời đó. Ba cái ( vô, sinh, tử) tuy khác nhau nhƣng cùng một họ, cũng nhƣ họ Chiêu, họ Cảnh tuy dùng tên thuỵ của tiên nhân làm họ, còn họ Giáp dùng tên ấp đƣợc phong cho tiên nhân làm họ,

351 nhƣng thực ra đều cùng một họ của Sở cả. 4 ( ) 1182 [12] Tôi xin nói về lẽ tuỳ thời thay đổi. Ai cho sự sinh tồn của mình là chủ, thành kiến của mình là chuẩn tắc, thì làm cho quan niệm thị phi hoá ra phức tạp, phải phân biệt danh và thực. Ngƣời đó tự cho mình là phải, bắt ngƣời khác phải theo những phán đoán của mình và hi sinh cho những phán đoán đó. Ngƣời đó cho ai hữu dụng là thông minh, vô dụng là ngu xuẩn, thành công là danh dự, thất bại là tủi nhục. Ngƣời thời nay đều coi trọng một cái lẽ nó tuỳ thời thay đổi, nhƣ vậy không khác gì con ve sầu và con chim cƣu, chúng chỉ thấy một khoảng trời hẹp nhƣ nhau. Lỡ dẫm chân lên chân ngƣời khác ở chợ thì ngƣời ta vội xin lỗi đã vô ý; nếu là anh dẫm lên chân em thì tỏ vẻ thƣơng tiếc và an ủi em; nếu là cha mẹ dẫm lên chân con thì chả phải nói gì cả. Cho nên bảo: Cực lễ độ thì coi ngƣời khác nhƣ mình; cực nghĩa thì không phân biệt vật này với vật khác; cực trí thì không mƣu tính; cực nhân thì không phân biệt thân sơ; cực tín thì không bắt thế đồ 1183 [13]. 5 Phải diệt nhiễu loạn của chí vì ngoại vật, tránh sự trói buộc cái tâm, để cho đạo đức phát hiện ra mà đừng cản trở cái đạo. Giàu có, sang trọng, hiển đạt, uy thế, thanh danh, lợi lộc, sáu cái đó là những ngoại vật làm nhiễu loạn chí của ta. Dong mạo, động tác, nhan sắc, tình, khí, dục, sáu cái đó trói buộc cái tâm của ta. Ghét, yêu, vui, buồn, giận, thích, sáu cái đó làm trở ngại cái đức. Nhận, chối, lấy, cho, trí tuệ, tài năng, sáu cái đó che lấp cái đạo. Ai không bị hai mƣơi bốn cái đó nhiễu loạn thì lòng đƣợc quân bình, quân bình thì yên tĩnh, yên tĩnh thì sáng suốt, sáng suốt thì hƣ không, hƣ không thì không làm gì mà không gì không làm. Đạo là cái mà Đức kính trọng 1184 [14]. Sự sống là ánh sáng rực rỡ của cái Đức. Tính là bản thể của con ngƣời, tính phát động ra thì ta hành động; hành động nào rời bản tính thì đánh mất cái Đạo. Biết là tiếp xúc với ngoại vật rồi mƣu tính. Trí tuệ của con ngƣời không thể biết đƣợc một số sự vật cũng nhƣ ngƣời lát mắt không thể nhìn thấy khắp đƣợc. Do đó bất đắc dĩ mà hành động, cái đó là

352 đạo đức; hành động là mà mình, cái đó là trật tự (nội tâm). Hai câu đó ý tƣơng phản nhau mà thực ra thuận nhau [15] 6 Hậu Nghệ có tài bắn trúng đƣợc một cái đích rất nhỏ, nhƣng vụng ở chỗ thích nghe nịnh. Thánh nhân khéo theo tự nhiên mà vụng về nhân vi (việc ngƣời ta làm). Chỉ có ngƣời toàn đức mới khéo thuận theo tự nhiên, vừa khéo việc nhân vi. Chỉ có con sâu là biết hoàn toàn sống theo sâu, tuỳ thuận tự nhiên. Ngƣời toàn đức ghét thiên nhiên chăng? Ghét cái thiên nhiên nhân vi chăng? Mà chính tôi là trời (thiên nhiên) chăng? 1186 [16] Một con chim mà bay qua trƣớc mặt Hậu Nghệ thì thế nào Hậu Nghệ cũng bắn trúng (nhƣng chỉ bắn mỗi phát đƣợc một con thôi). Nếu coi vũ trụ là cái lông chim thì không một con chim nào thoát đƣợc. Vì vậy mà vua Thành Thang nhốt Y Doãn vào lồng bằng cách dùng Y Doãn làm đầu bếp, và Tần Mục Công nhốt Bách Lí Hề vào lồng bằng cách tặng (?) Bách Lí Hề năm bộ da cừu. Nhƣ vậy, không dùng sở thích của ngƣời ta mà lung lạc ngƣời ta đƣợc là điều không hề có 1187 [17]. Một ngƣời cụt mất một chân thì không giữ phép tắc (khi đi đứng) nữa, vì chẳng cần để ý tới lời khen chê của ngƣời khác. Một tên bị tội đồ dù lên chỗ cheo leo cũng không sợ vì đã coi thƣờng sống chết. Ngƣời nào chê ta mà ta không đáp 1188 [18], thì ta đã không phân biệt ngƣời với mình rồi; không phân biệt ngƣời với mình, tức là ngƣời của trời (thiên nhân), hồn nhiên, có đƣợc ngƣời khác tôn kính cũng không vui, mà bị ngƣời khác làm nhục cũng không giận. Chỉ ngƣời nào hoà hợp với trời mới đƣợc nhƣ vậy. Ngƣời ngƣời vƣợt lên sự giận dữ thì không bao giờ giận dữ; dù ngƣời đó có giận dữ thì sự giận dữ đó cũng không phải là giận dữ vì tƣ dục, thành kiến; ngƣời nào vƣợt lên mọi hành động của loài ngƣời thì không hành động; dù có ngƣời đó có hành động, cũng vẫn là vô vi. Ai muốn bình tĩnh, thì phải điều hoà hơi thở; ai muốn đƣợc thân mình (cực sáng suốt) thì phải thuận theo tâm của mình; ai muốn hành động hợp đạo lí thì chỉ hành động khi nào bất đắc dĩ; đó là cái đạo của thánh nhân.

353 NHẬN ĐỊNH VỀ HAI CHƢƠNG TRÍ BẮC DU, CANH TANG SỞ Hai chương này có hai điểm giống nhau: - cùng bàn về Đạo, Đức, vô vi cho rằng trí tuệ không hiểu được Đạo, thánh nhân vô ích cho xã hội, và cũng thảo luận về vấn đề vô và hữu; - nhất là chịu ảnh hưởng đậm của Trang lẫn của Lão, có bài dùng đúng những lời của hai nhà đó nữa. Như trong Trí Bắc du, đại ý trong bài 6 (Đạo không ở đâu không có) cũng là ý trong bài Đại tôn sƣ1. Nó (Đạo) tạo ra quỉ thần, thượng đế, nó sinh ra trời đất. Vì Đạo sinh ra vũ trụ, cho nên trong vũ trụ, chỗ nào cũng có nó. Một thí dụ nữa: lời của Vô Thuỷ trong Trí Bắc du8: Đạo không thể nghe được, cái gì nghe được thì không phải là Đạo. Đạo không thể thấy được, cái gì thấy được thì không phải là Đạo. Đạo không thể đem ta giảng được, cái gì giảng được thì không phải là Đạo. Ai biết được rằng cái gì sinh ra hình thể thì không có hình thể. Cũng diễn đúng ý này trong Đại tôn sƣ 1: Đạo có thực và tồn tại, nhưng vô vi mà không có hình trạng. Có thể truyền được mà không thể tiếp nhận nó được, hiểu nó được mà không thấy nó được. Đó là ảnh hưởng của Trang. Nhưng ngay ở sau đoạn tôi mới dẫn trong Trí Bắc du 8, chúng ta cũng nhận ra ảnh hưởng của Lão nữa trong câu này: Đạo bất đương danh (Đạo không thể dùng tên mà gọi được). So với câu trong chương đầu Đạo Đức kinh: Đạo khả đạo phi thường Đạo thì lời tuy khác mà ý là một. Nhất là Trí Bắc du 1 có tới bốn câu trích trong Đạo Đức kinh mà tôi đã ghi vào cước chú, nên không cần dẫn lại ở đây.

354 Chƣơng Canh Tang Sở cũng vậy. Ảnh hưởng của Trang: Bài 3: Cổ nhân có người tri thức đạt tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi, vũ trụ chưa có vật: đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt được, không thể thêm gì được nữa. Hạng người thấp hơn cho rằng thời sơ khởi đã có vật, mà sự sinh đưa tới sự chết, chết là trở về gốc: như vậy là có sự phân biệt rồi. Hạng thấp hơn nữa cho rằng sơ khởi là không có, rồi mới có sinh, sinh không bao lâu thì chết đã dùng những chữ và diễn gần đúng những ý trong bài 6 Tề vật luận: Cổ nhân có người trí thức đạt được tới cực điểm. Cực điểm đó ở đâu? Ở chỗ cho rằng thời sơ khởi vũ trụ chưa có vật: đó là điểm cực xa, cực cao mà tri thức đạt